Nghiên cứu sức sản xuất của lợn nái f2 {♂ rừng x ♀f1 (♂ rừng x ♀ địa phương)} - Pdf 24

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành trương trình học trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”. Giai
đoạn thực tập chuyên đề rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra
trường. Đây là khoảng thời gian giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp với thực tiễn
sản xuất, củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, củng cố tay
nghề, học hỏi kinh nghiệm, nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học, ứng
dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đồng thời, tạo cho mình sự tự lập, tự tin
vào bản thân, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, có lối sống
lành mạnh để trở thành người cán bộ có chuyên môn, năng lực làm việc đáp
ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất, sáng tạo khi ra trường trở thành một người
cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần
xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Trại chăn
nuôi lợn rừng và đà điểu Hoàng Giang và thầy giáo hướng dẫn, em được về
thực tập tại trại từ ngày 8/12/2013 – 31/5/2014 thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
sức sản xuất của lợn nái F
2
{♂ rừng x ♀F
1
(♂ rừng x ♀ địa phương)} tại
huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”.
Trong thời gian thực tập tại Trại, được sự giúp đỡ tận tình của anh, chị
công nhân trong trại, cùng các bạn thực tập tại trại, sự hướng dẫn tận tình của
thầy, cô giáo cùng sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm còn thiếu
trong thực tiễn sản xuất, kiến thức còn hạn hẹp nên khóa luận của em không
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến
quý báu của thầy cô giáo và đồng nghiệp để khóa luận của em được hoàn
thiện hơn.

PTNN : Phát triển nông thôn
ss : Sơ sinh
STT : Số thứ tự
TA : Thức ăn
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
THT : Tụ huyết trùng
TL : Thái Lan
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TT : Thể trọng
TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn
UBND : Ủy ban nhân dân
FSH : Folliculin Stimulin Hormone
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1. Điều tra cơ bản 1
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1. Vị trí địa lý 1
1.1.1.2. Điều kiện địa hình, đất đai 1
1.1.1.3. Giao thông 1
1.1.1.4. Đặc điểm khí hậu, thủy văn 2
1.1.2. Điều kiện kinh tế -xã hội 2
1.1.2.1. Dân cư, lao động 2
1.1.2.2. Cơ cấu kinh tế 2
1.1.2.3. Cơ sở hạ tầng 3
1.1.2.4. Đời sống văn hóa 3
1.1.2.5. Cơ cấu tổ chức của trại 4
1.1.2.6. Cơ sở vật chất kỹ thuật của trại 4
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 5
1.1.3.1. Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 5

2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 39
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu 39
2.3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39

Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Trại chăn nuôi lợn rừng và đà điểu Hoàng Giang là một đơn vị thuộc
Công ty TNHH Hoàng Giang đóng trên địa bàn thôn Cốc Sả, thị trấn Nà Phặc,
huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Vị trí địa lý của huyện được xác định như sau:
- Phía Đông giáp huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
- Phía Tây giáp huyện Ba Bể
- Phía Nam giáp huyện Bạch Thông và huyện Na Rì
- Phía Bắc giáp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Huyện Ngân Sơn có tổng diện tích 644,4 km
2
, dân số 27.700 người
(2004). Gồm 11 đơn vị hành chính: Vân Tùng, Đức Vân, Thượng Ân, Cốc
Đán, Thượng Quan, Thuần Mang, Hương Nê, Lãng Ngâm, Trung Hòa, Bằng
Vân, thị trấn Nà Phặc.
1.1.1.2. Điều kiện địa hình, đất đai
Địa hình nơi đây bị bào mòn, chia cắt bởi các dãy núi, sông suối xen kẽ,
tạo thành một khu vực rừng núi trùng điệp, hiểm trở. Có những khu vực do
quá trình địa kiến tạo nâng lên, hạ xuống không đều và đứt gẫy địa tầng, tạo
thành dạng địa hình đơn tà (sườn phía Bắc Thị trấn Nà Phặc của Đèo Gió).
Trong cánh cung Ngân Sơn, các dãy núi cao và thấp dần về phía Nam, có
khối núi đá vôi Kim Hỷ, dãy đá vôi Yếu Lạc là loại địa hình Cacxtơ trẻ với
địa hình đá tai mèo, vách đứng vực sâu, sông suối chảy ngầm. Tổng diện tích

1.1.2. Điều kiện kinh tế -xã hội
1.1.2.1. Dân cư, lao động
Trại chăn nuôi lợn rừng và đà điểu Hoàng Giang nằm trên địa bàn xã
Cốc Xả, một xã nông nghiệp của huyện Ngân Sơn. Do vậy, dân cư sống chủ
yếu là làm nông nghiệp, trồng trọt, buôn bán. Ngoài ra còn có một số hộ gia
đình là công nhân viên chức Nhà nước. Nhìn chung tình hình dân trí của các
hộ dân trong xã vẫn còn thấp, vẫn còn khá nhiều những tập quán lạc hậu, đây
cũng là khó khăn cho sự phát triển kinh tế trên địa bàn.
1.1.2.2. Cơ cấu kinh tế
Năm 2012, nền kinh tế mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức nhưng
huyện Ngân Sơn vẫn tiếp tục giữ được ổn định. Tổng giá trị sản xuất tính theo
giá hiện hành ước đạt trên 4,5 tỷ đồng vượt kế hoạch năm, tăng trên 14% so
với cùng kỳ. Trong đó: Giá trị công nghiệp và xây dựng cơ bản ước đạt trên
2,3 tỷ đồng, tăng trên 13% so với cùng kỳ năm 2012, giá trị thương mại và
dịch vụ ước đạt trên 1,5 tỷ đồng, tăng gần 20% so với cùng kỳ, giá trị nông
lâm nghiệp và thủy sản (theo giá hiện hành) ước đạt trên 1,2 tỷ đồng, tăng gần
11% so với cùng kỳ. Sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt trên 5 nghìn
tấn, vượt kế hoạch 1%. Thu ngân sách thị xã ước đạt trên 760 triệu đồng, vượt
5,60% kế hoạch. Trong năm, thị xã đã giải quyết việc làm mới cho trên 400
lao động.
2
1.1.2.3. Cơ sở hạ tầng
Hệ thống đường giao thông khá hoàn chỉnh nối liền trung tâm huyện với
các xã, phường. Những tuyến đường nối vào nội thị đã được đầu tư nâng cấp,
mở rộng, đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân. Bên cạnh những tuyến
đường liên tục được đầu tư, huyện Ngân Sơn đang tích cực triển khai hàng
loạt biện pháp nhằm tạo dựng bộ mặt mới cho địa phương.
Huyện Ngân Sơn đang tiến hành quá trình đô thị hóa, xây dựng nông
thôn mới, đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng đô
thị làm động lực cho sự phát triển. Trên địa bàn huyện hiện có một bệnh viện

1.1.2.5. Cơ cấu tổ chức của trại
Mặc dù trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2000 đến nay mới chỉ được
12 năm, song hàng năm sản xuất của trung tâm đều gia tăng, đời sống của cán
bộ công nhân viên được cải thiện, bởi trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những
người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi. Trung tâm
có 9 cán bộ và nhân viên.
Trong đó:
- Lao động gián tiếp 3 người
+ Giám đốc công ty
+ Một kế toán
+ Một thủ kho
- Lao động trực tiếp có 6 người
+ 1 bác sĩ thú y
+ 1 kỹ sư chăn nuôi
+ 4 công nhân
1.1.2.6. Cơ sở vật chất kỹ thuật của trại
Hệ thống chuồng trại:
Khu vực sản xuất của trung tâm được đặt trên một khu vực cao, dễ thoát
nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh. Xung
quanh trung tâm có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng
để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào. Chuồng nuôi được xây
dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa
đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước,
có 2 dãy ô chuồng với lối đi ở giữa. Đối với dãy chuồng lợn nái chờ phối, lợn
nái chửa được thiết kế các ô chuồng có sàn.
Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng sắt hay bằng bê
tông. Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự
động, mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và vòi phun nước trên mái.
Mùa đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại và lò sưởi. Tổng diện tích cho chăn
nuôi là 8700 m

trồng (ha)
Sản lượng (tấn)
Năng suất trung
bình (tạ/ha)
Cây lúa 2.174,13 65.659 30,2
Cây ngô 1.948,4 7.972,7 40,92
Cây dong riềng 81 3.240 400
Cây đỗ tương 101,34 147 14,5
Cây thuốc lá 692,42 1.385 20
Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực cả năm là: 4.122,53ha.
Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt: 17.321,4 tấn.
Trong đó:
- Cây lúa: Tổng diện tích lúa cả năm: 2.174,13 ha ( 45 ha là lúa nương).
So với năm 2012 tăng 17,45 ha.
5
- Cây ngô: Tổng diện tích ngô cả năm 2013 là: 1.948,4 ha. Năng suất
trung bình đật 40,92 tạ/ha. Tổng sản lượng ước đạt 7.972,7 tấn
• Cây công nghiệp ngắn ngày:
- Cây Dong riềng: Tổng diện tích trồng : 81 ha. Năng suất ước đạt 40
tấn/ha.
- Cây đỗ tương: Diện tích cả năm 101,34 ha. Năng suất trung bình đạt
14,5 tạ/ha. Tổng sản lượng đạt 147 tấn.
- Cây thuốc lá: Diện tích trồng: 692,42 ha. Năng suất trung bình 20 tạ/ha.
Sản lượng đạt 1.385 tấn.
1.1.3.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện (2012 - 2013)
Loại gia súc Số lượng (con)
Trâu 6.780
Bò 2.189
Ngựa 1.472

3
1.1.4. Nhận xét chung
1.1.4.1. Thuận lợi
- Được sự quan tâm tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ đúng đắn của
các ngành các cấp liên quan như: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
Trung tâm khuyến nông, Công ty vật tư nông nghiệp, Chi cục thú y tỉnh, Sở
Tài nguyên và môi trường, Hiệp hội chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên, giúp đỡ và
tạo điều kiện cho trại chăn nuôi phát triển.
- Ban lãnh đạo trại có năng lực, trình độ cao, nhiệt tình. Cán bộ kỹ thuật
giỏi, công nhân lao động, năng động, có tinh thần trách nhiệm và kinh nghiệm
cao. Toàn bộ cán bộ công nhân viên của trung tâm là 1 tập thể đoàn kết có ý
thức trách nhiệm cao và lòng yêu nghề.
- Ban lãnh đạo trung tâm thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển
sản xuất và nâng cao đời sống cho cán bộ, nhân viên.
1.1.4.2. Khó khăn
Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn hiểm trở, thời tiết diễn biến phức tạp,
thường xuyên xảy ra rét đậm, rét hại, nguy cơ hạn hán, thiên tai, dịch bệnh có
thể xảy ra trên diện rộng, nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn,
không triệt để, chi phí phòng ngừa và chữa bệnh tăng, ảnh hưởng tới giá thành
chăn nuôi.
- Do đặc điểm sản xuất của ngành chăn nuôi lợn là ngành có chu kỳ sản
xuất dài, tốc độ quay vòng vốn chậm nên lâu thu hồi vốn, mặt khác để đầu tư
cho một chu kỳ sản xuất đòi hỏi một lượng vốn tương đối lớn.
- Do nguồn nước có nhiều đá vôi, đây cũng là nguyên nhân không nhỏ
7
gây ảnh hưởng cho sức khỏe của đàn lợn.
- Cơ sở hạ tầng đã sử dụng lâu năm nên một số chỗ bị xuống cấp tốn
nhiều chi phí cho việc sửa chữa.
1.2. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất

tế của cán bộ kỹ thuật.
1.2.2. Phương pháp tiến hành
Để thu hồi được kết quả tốt trong thời gian thực tập và thực hiện tốt
những nội dung đề ra, bản thân em đã đề ra một số biện pháp để thực hiện
như sau:
- Tuân thủ mọi nội quy của trường, khoa, cơ sở thực tập và yêu cầu của
giáo viên hướng dẫn.
- Tham khảo tài liệu chuyên môn, tài liệu thống kê vật nuôi cơ sở, không
ngừng học hỏi để nâng cao tay nghề, vận dụng những lý thuyết đã được học
vào thực tiễn sản xuất.
- Lên kế hoạch cụ thể phù hợp với nội dung của đề tài và tình hình sản
xuất của trung tâm.
- Thực hiện đúng kỹ thuật chăn nuôi, bám sát cơ sở sản xuất.
- Kết hợp công tác phục vụ sản xuất và chuyên đề nghiên cứu khoa học.
1.2.2.1. Công tác giống
Để chăn nuôi đạt hiệu quả cao, chất lượng sản phẩm tốt thì điều quan
trọng đầu tiên là phải có giống tốt. Trong lĩnh vực chăn nuôi có câu:
“Giống là tiền đề, thức ăn là cơ bản, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng là
yếu tố quyết định”.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác giống nên trong suốt quá
trình thực tập tại trại tôi đã được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn và tham gia vào
quá trình bình tuyển giống nái để đưa vào nhân giống.
Công tác chọn lợn giống được tiến hành thường xuyên, với mục đích
cung cấp đàn đực và cái đủ tiêu chuẩn giống cho các trại chăn nuôi trên địa
bàn. Đối với lợn đực và cái giống, chọn những cá thể khỏe mạnh, cân đối, lợn
cái chân đi móng, bốn chân khỏe vững chắc, vai nở, mông nở, phàm ăn, da
lông bóng mượt, lưng thẳng, bụng gọn, 2 hàng vú đều, khoảng cách rộng, có
từ 12 vũ trở lên, âm hộ nổi rõ. Lợn đực khỏe mạnh, phàm ăn, tính hăng cao,
cà đều, to, mắt sáng, chân khỏe.
Tại trại, lợn nái được phối giống theo phương pháp nhảy trực tiếp, khi

- Khi sờ tay lên mông lợn nái thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, hai chân
choãi rộng ra, lưng cong võng xuống.
- Có hiện tượng són đái.
- Âm hộ chuyển màu sẫm hoặc mận chín, chảy dịch nhờn.
- Khi lợn đực lại gần thì đứng im cho phối.
Thời gian này kéo dài khoảng 2-3 ngày. Nếu được phối giống vào giai
đoạn này thì tỷ lệ thụ thai cao.
+) Sau chịu đực:
Lợn nái trở lại trạng lúc trước, đuôi cụp che âm hộ, đi lại ăn uống bình thường.
10
Khi lợn nái đủ tiêu chuẩn phối giống, tiến hành ghép đôi giao phối để
đưa vào quá trình sản xuất.
Chế độ ăn cho lợn hậu bị: Thức ăn tinh 0,6 - 0,7kg/con, đậm đặc 0,06kg
– 0,07kg/con, rau xanh từ 2 – 2,5kg/con. Cho lợn nái ăn ngày hai bữa, sáng và
chiều tối. Chú ý quan sát những con có biểu hiện bất thường để xử lý kịp thời.
Chăn nuôi lợn nái chửa: 12 con
Trong thời gian có chửa lợn nái có nhiều đặc điểm thay đổi, hợp tử bám
và làm tổ ở tử cung và bắt đầu phát triển bình thường, các cơ quan bộ phận
liên quan (nhau thai, bọc ối, niệu, tử cung và bầu vú) đều được phát triển
trong thời gian 114 ngày. Do vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng chúng phải phù
hợp và đảm bảo để có số con sơ sinh cao; khối lượng trung bình của lợn con
cai sữa cao; lợn con sinh ra khỏe mạnh và có sức đề kháng tốt. Lợn mẹ phát
triển bình thường, dự trữ đủ chất dinh dưỡng để tiết sữa nuôi con sau này,
không bị hao mòn lớn.
Lợn nái sau khi phối giống đã chắc chắn có chửa được nhốt vào chuồng
hạn chế thả ra sân để dễ chăm sóc và quản lý.
Chế độ ăn cho lợn như sau:
+ Trong giai đoạn chửa kỳ I bào thai chưa phát triển mạnh vì vậy khẩu
phần ăn là 0,4 kg tinh/con, 0,04 kg đậm đặc/con, 1,5-2 kg thức ăn thô
xanh/con (cây chuối hột, ngô non).

thuộc vào thể trạng lợn nái, lợn nái khỏe tốt một tuần trước khi đẻ giảm 1/3
lượng thức ăn, trước đẻ 2 -3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn. Lợn nái yếu thì
không giảm mà cho ăn thức ăn dễ tiêu hóa. Ngày lợn nái cắn ổ đẻ dừng cho
ăn, cho uống nước tự do. Ngày lợn nái đẻ cho ăn cháo loãng lượng 1/4 ngày
thường, tăng dần sau 3 ngày cho ăn theo chế độ lợn nái nuôi con.
Nuôi dưỡng chăm sóc quản lý lợn nái nuôi con: 12 con
Chăn nuôi lợn nái nuôi con có một ý nghĩa hết sức quan trọng, đó là
khâu cuối cùng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản. Giai đoạn này quyết định
chất lượng lợn con giống và hiệu quả kinh tế trong nghề chăn nuôi lợn nái. Vì
vậy trong chăn nuôi lợn nái nuôi con cần đạt được các yêu cầu: Lợn nái nuôi
con tiết nhiều sữa với chất lượng tốt; cả lợn mẹ và con khỏe, lợn con sinh
trưởng nhanh, có số con và trọng lượng cai sữa cao; tỷ lệ đồng đều của đàn
lợn con cao; lợn mẹ ít bị hao mòn trong giai đoạn nuôi con và sớm động dục
lại sau cai con.
+ Nuôi dưỡng lợn nái nuôi con:
Thức ăn cho lợn nái nuôi con tránh thối mốc biến chất hư hỏng. Thức ăn
được nấu chín sau đó trộn cùng cây chuối hoặc cây ngô non, cỏ voi đã phay
12
nhỏ cho ăn. Khối lượng thức ăn được tính tùy theo khối lượng lợn mẹ và số
lượng con sinh ra. Lợn nái đẻ từ 4 – 5 con, khối lượng lợn từ 40 kg – 55 kg
cho ăn 1,1-1,2 kg thức ăn tinh, 0,11 kg đậm đặc, 2 kg chất thô xanh. Khối
lượng lợn mẹ 56 -70 kg cho ăn 1,3 kg thức ăn tinh, 0,13 đậm đặc, 2 – 2,5 kg
thô xanh.
Lợn nái khối lượng 40 -55 kg, đẻ 6 – 8 con cho ăn 1,3 kg thức ăn tinh,
0,13 kg đậm đặc, 2 -2,5 kg thô xanh. Lợn nái khối lượng 55 – 70 kg cho ăn
1,5 kg chất tinh, 0,15kg đậm đặc, 2 – 2,5 kg thô xanh.
Nhìn chung, đàn lợn do bản thân em chăm sóc trong thời gian thực tập
đều sinh trưởng, phát triển tốt, lợn nái sinh sản có năng suất cao, ổn định.
1.2.2.3. Công tác thú y
- Công tác vệ sinh trong chăn nuôi:

2 tuần trước khi phối Dịch tả lần 1
6 tuần trước đẻ (với nái
phối lứa đầu)
E.coli, THT, viêm teo
mũi truyền nhiễm
5 tuần trước đẻ Dịch tả lần 2
4 tuần trước đẻ Giả dại, LMLM
2 - 3 tuần trước đẻ
E.coli, THT, viêm teo
mũi truyền nhiễm
Nái nuôi con
10 - 14 ngày sau đẻ Đa giá
15 ngày sau đẻ ADE
Lợn con theo mẹ
7 ngày tuổi Suyễn lần 1
14 ngày tuổi Tai xanh
18 ngày tuổi Dịch tả
21 ngày tuổi Suyễn lần 2 và PTH
Lợn con cai sữa
28 ngày tuổi PTH lần 1
35 ngày tuổi Dịch tả lần 2 + LMLM
Lợn đực giống Tiêm định kì 2 lần/năm
Dịch tả, Farosure, Giả
dại, LMLM.
Lợn thịt
50 - 60 ngày tuổi Dịch tả lần 2 + tụ dấu
70 - 80 ngày tuổi Lepto + giả dại
(Nguồn: Trại chăn nuôi lợn rừng và đà điểu Hoàng Giang)
- Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh:
Hàng ngày, tôi cùng cán bộ kỹ thuật tiến hành theo dõi ở các ô chuồng,

Âm hộ sưng đỏ, thân nhiệt tăng cao, nhiệt độ cơ thể lớn hơn 40
o
C, ăn
uống giảm, lượng sữa giảm, đi tiểu khó, có khi cong lưng rặn. Từ cơ quan
sinh dục ra nhiều chất dịch màu trắng đục, mùi hôi tanh, dịch dính bê bết
xung quanh gốc đuôi.
+ Điều trị:
Điều trị cục bộ: tiêm Oxytoxin 4ml/con + 10ml Vime-Iodine.
Điều trị toàn thân: tiêm Clamoxy L.A: 1ml/10kg TT.
Catosal 10%: 1ml/5 - 10kg TT.
Tỷ lệ khỏi bệnh 100%.
15
* Bệnh phân trắng lợn con
+Nguyên nhân: do trực khuẩn E.coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột
Enterobacteria gây ra, chúng gồm nhiều chủng với những đặc tính kháng
nguyên khác nhau.
Bệnh thường xảy ra lúc thời tiết thay đổi đột ngột, những ngày ẩm ướt,
độ ẩm môi trường cao. Bệnh phát sinh chủ yếu ở giai đoạn lợn con từ sơ sinh
đến cai sữa.
+ Triệu chứng: Lợn con bị bệnh bú kém, ăn kém, lợn ỉa chảy, phân lỏng
màu vàng trắng, trắng xám sau đó màu vàng xanh và có mùi tanh. Phân dính
bê bết xung quanh gốc đuôi. Lợn gầy sút nhanh, ủ rũ lông xù, đi lại không
vững vàng, niêm mạc mắt, miệng, hậu môn nhợt nhạt, phân nát đến loãng
bệnh kéo dài từ 3 đến 7 ngày.
+ Điều trị:
Hộ lý: vệ sinh chuồng trại thu dọn sạch sẽ phân, giữ sạch nền sàn,
chuồng khô ráo, sưởi ấm cho lợn con bằng đèn hồng ngoại.
Dùng thuốc: Cho lợn uống Baytril 0,5% (1ml/con) liên tục từ 2 - 3 ngày.
Tiêm Baytrilmax: 1ml/13 kg TT
Catosal 10%: 1ml/5 - 10kg TT

Số lượng
(con)
Kết quả (An
toàn/khỏi)
Tỷ lệ (%)
1 Tiêm phòng
Phòng bệnh cho lợn nái An toàn
Vaccine LMLM 80 80 100
Vaccine Dịch tả 60 60 100
Vaccine Tụ huyết trùng 75 75 100
Vaccine Giả dại 65 65 100
Vaccine E.coli 79 79 100
Phòng bệnh cho lợn con An toàn
Vaccine Suyễn 170 170 100
Vaccine Dịch tả 119 119 100
2 Điều trị bệnh Khỏi
Bệnh Viêm khớp 8 8 100
Bệnh Suyễn 12 11 91,66
Bệnh Viêm tử cung 6 5 83,33
3 Công tác khác
Trực lợn đẻ và đỡ đẻ 33 An toàn 100
Tiêm sắt cho lợn con 140 An toàn 100
Thiến lợn đực 89 An toàn 100
Phối giống 18 Thụ thai 100
17
1.3. Kết luận và đề nghị
1.3.1. Kết luận
Qua thời gian thực tập tại trại chăn nuôi Hoàng Giang được sự giúp đỡ
của ban lãnh đạo Công ty, cùng công nhân viên và sự cố gắng của bản thân, em
đã vận dụng kiến thức đã được học trên giảng đường vào thực tiễn sản xuất qua

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
“Nghiên cứu sức sản xuất của lợn nái F
2
{♂ rừng x ♀F
1
(♂ rừng x ♀
địa phương)} tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”.
2.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong chăn nuôi gia súc ở
trên thế giới cũng như ở nước ta. Đây là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ
trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón khá
lớn cho trồng trọt, cung cấp sản phẩm cho ngành công nghiệp như: da, mỡ,…
Sự hình thành sớm nghề nuôi lợn cùng với trồng lúa nước đã cho chúng ta
khẳng định nghề nuôi lợn có vị trí hàng đầu. Không những thế việc tiêu thụ
thịt lợn trong các bữa ăn hằng ngày của con nguời rất phổ biến. Ngoài ra, thịt
lợn là loài thực phẩm có mùi vị dễ thích hợp với tất cả các đối tượng (người
già, trẻ, nam hoặc nữ). Nói cách khác thịt lợn được coi là “nhẹ mùi” và không
gây ra hiện tượng dị ứng do thực phẩm, đây là ưu điểm nổi bật của thịt lợn.
Phải chăng, thịt lợn là món ăn ưa thích và hợp khẩu vị với mọi người. Tuy
nhiên, để thịt lợn trở thành món ăn có thể nâng cao sức khỏe cho con người,
điều quan trọng là trong quá trình chọn giống, nhân giống và nuôi dưỡng
chăm sóc, đàn lợn phải luôn khỏe mạnh, sức đề kháng cao và thành phần các
chất dinh dưỡng tích lũy vào thịt có chất lượng tốt và có giá trị sinh học.
Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn rừng đang rất phát triển ở nước ta,
giống lợn rừng Thái Lan có khối lượng trưởng thành lớn, chống chịu bệnh tật
tốt,…đã được nhập vào Việt Nam trong mấy năm gần đây, đang phát triển
mạnh mẽ. Ở Việt Nam các giống lợn ở miền núi có nhiều ưu điểm nổi trội
như chất lượng thịt thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng, tính nuôi con
khéo…(Trần Văn Phùng và cs, 2008) [11]. Việc tạo ra những dòng lợn lai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status