CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ở VIỆT NAM năm 2014 2015 - Pdf 46

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
-----***-----

KINH TẾ THÔNG TIN
ĐỀ TÀI NHÓM 02: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM NĂM 2014 -2015
VÀ SO SÁNH

Giảng viên hướng dẫn:

T.S Lê Thanh Huệ

Sinh viên thực hiện :

Lớp : Tin kinh tế A_K58

Nhóm 02

Đỗ Văn Chuyên
Vũ Đức Bình
Phạm Thế Cường
Hà Thị Thùy Dinh

Hà Nội – 2016


MỤC LỤC
CHƯƠNG l : ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................3
1.Tổng quan về Công nghệ Thông tin.............................................................3
2.Mục tiêu đề tài..............................................................................................4

Hình 2.5. Ứng dụng Công nghệ thông tin tại cục hải quan.............................17
Hình 2.6. Hình: ứng dụng CNTT trong y tế....................................................17
Hình 2.7: Ứng dụng cntt trong nông nghiệp..................................................18

2


CHƯƠNG l : ĐẶT VẤN ĐỀ.
1.Tổng quan về Công nghệ Thông tin
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ thông tin gần đây đã
mang lại những tác động to lớn và những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực
hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội ở khắp mọi nước trên thế giới. Chúng ta
đang sống trong một thời đại mà nền kinh tế thế giới đang chuyển biến từ một
nền kinh tế chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn hẹp trên
hành tinh của chúng ta sang một nền kinh tế của thông tin và trí tuệ. Một bộ
phận lớn của nhân loại đang chuẩn bị bước vào thiên nhiên kỷ mới với các kế
hoạch xây dựng nền tảng cho một xã hội mới – xã hội thông tin.
Trong mười năm qua, công nghệ thông tin và truyền thông (CNTTTT)
Việt Nam đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò ngày
càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần đảm bảo an ninh, quốc
phòng của đất nước, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời là hạ
tầng kỹ thuật, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Chính phủ Việt Nam
luôn đặc biệt quan tâm và dành nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư, thúc đẩy phát
triển lĩnh vực này
Phát triển công nghệ thông tin, tổ chức và khai thác có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thông tin vốn tiềm tàng trong xã hội để tích cực góp phần đổi mới
và hiện đại hóa nền kinh tế cũng là mối quan tâm chung của nhiều nước đang
phát triển. Ở nước ta, với Nghị quyết 49/CP của Chính phủ (tháng 8/1993),
Nhà nước ta đã khẳng định quyết tâm thực hiện rộng rãi một chính sách quốc
gia về Công nghệ thông tin trong những năm tới, nhằm phát triển nhanh chóng

VIỆT NAM NĂM 2014-2015.
l.THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
NĂM 2014-2015
1. Khái niệm về Công nghệ Thông tin
 Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh:Information
Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần
mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập
thông tin.
Thuật ngữ “CNTT” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất
bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và
Whisler đã bình luận: “Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta
sẽ gọi là CNTT (Information Technology - IT).”
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết
Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu
là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu
quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh
vực hoạt động của con người và xã hội".
Các lĩnh vực chính của CNTT bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ
và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện
tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài lĩnh vực hiện đại
và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp
theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô
lớn và nhiều lĩnh vực khác.
2. Công nghệ Thông tin trong những thập niên qua
Từ việc ra đời những máy tính điện tử thuộc các thế hệ đầu tiên vào nhữ
năm 50, 60 với chức năng chủ yếu là tính toán khoa học - kỹ thuật, đến các
5



6


đã được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội. Tại Diễn đàn, Sách trắng về công nghệ
thông tin và truyền thông Việt Nam lần đầu tiên được phát hành.
Ngày 13/08/2009, Bộ Truyền thông và Thông tin (TTTT) đã cấp 4 giấy
phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất tiêu chuẩn
IMT-2000 (WCDMA) trong băng tần số 1900-2200MHz (3G) thông qua hình
thức thi tuyển.
Năm 2009, Việt Nam Triển khai các hệ thống cáp quang biển quốc tế và
phủ sóng thông tin di động trên vùng biển, đảo Việt Nam.
Ngày 15/9/2009, Bộ TTTT đã trao giấy phép cung cấp dịch vụ Chứng
thực chữ ký số công cộng (CA) đầu tiên của Việt Nam cho Tập đoàn Bưu chính
Viễn thông Việt Nam.
Ngày 22/9/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt Đề án Đưa Việt
Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông (CNTTTT).
Ngày 29/10/2010, khánh thành Nhà máy Lắp ráp và kiểm định chip của
Intel tại Việt Nam, có sự tham gia của Tổng giám đốc điều hành tập đoàn Intel,
ông Paul Otellini.
Ngày 7/9/2010, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đồng ý cho 5 doanh
nghiệp gồm VNPT, Viettel, FPT Telecom, CMC và VTC thử nghiệm mạng di
động 4G.
Đầu tháng 12/2011, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) được Chính
phủ chấp thuận cho tiếp nhận “nguyên trạng” Công ty Viễn thông Điện lực
(EVN Telecom).
Ngày 16 tháng 5 năm 2012 VINASAT-2 - vệ tinh viễn thông địa tĩnh của
Việt Nam được phóng.
Ngày 26/6/2014, tại Phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Ủy ban Quốc gia
về ứng dụng công nghệ thông tin, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã
đồng ý với kiến nghị về chủ trương thuê dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin

4.Công nghệ Thông tin trong năm 2014-2015
4.1 Lĩnh vực kinh tế
a.Thương mại điện tử:
8


Thách thức lớn nhất của thương mại điện tử hiện nay là vấn đề pháp lý và
độ an toàn trong các giao dịch điện tử. Nhiều nước đã thừa nhận về mặt pháp
luật chữ ký điện tử và có các cơ chế xác thực chữ ký điện tử. Vấn đề độ an toàn
vẫn đang là vấn đề đau đầu đối với những người làm tin học.
b.Tài chính,ngân hàng:
-Trong những năm qua các ngân hàng đầu tư ngày càng nhiều cho CNTT.
CNTT không những chỉ là công cụ để giảm chi phí và hỗ trợ quá trình hoạt
động mà còn là yếu tố quan trọng tạo nên lợi nhuận. CNTT giúp cho các ngân
hàng quản lý quan hệ với khách hàng được tốt hơn, đơn giản hóa quá trình hoạt
động, mở rộng phạm vi hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm rủi ro
trong một thị trường nhiều biến động.
-Dịch vụ quản lý tiền qua Internet cho phép các doanh nghiệp truy cập
thông tin về số dư, chi trả, chuyển khoản và in thông báo quyết toán tài chính.
Với sự ra đời của Internet, tốc độ đã bắt đầu vượt qua lòng tin trong mối quan
hệ với khách hàng, và đổi mới đã vượt qua truyền thống tạo nên một mô hình
mới: mô hình nền kinh tế số hoá.
c.Sản xuất kinh doanh.
Ứng dụng CNTT vào SXKD để quản lý quá trình sản suất, kiểm soát quy
trình kinh doanh, nhằm tăng cường dây chuyền cung ứng, giảm thiểu thời gian
phát triển sản phẩm, nâng cao sự khác biệt của sản phẩm, giảm chi phí và đưa
sản phẩm tới khách hàng nhanh chóng, an toàn và thuận tiện nhất. Sử dụng các
phần mềm đế kiểm soát nhân sự, kiểm kê tài chính,tài sản….
4.2 Giáo dục ,Văn hóa – Xã hội
a.Giáo dục.

internet.Kèm theo đó là bất cập trong vi phạm bản quyền, vấn đề văn hóa
không không lành mạnh, khủng bố…tràn lan trên mạng đang làm đau đầu các
nhà chức trách.
4.3 Cơ sở hạ tầng
Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định tuy nhiên, cơ sở hạ tầng công
nghệ của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp so với các nước trên thế giới và
trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực giúp thực
hiện thành công chiến lược CNH, HDH nền kinh tế mà đại hội Đảng XI đã đề
ra.
10




Nguyên nhân:
-Chủ trương ,chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Đảng và

Nhà nước chưa được các cấp, các ngành ,địa phướng quán triệt đầy đủ và triển
khái trong thực tiễn.
-Đầu tư cho KH & CN còn hạn hẹp: thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán
bộ khoa học trình độ cao ở lĩnh vực KH&CN ưu tiên,đặc biệt là cán bộ
KH&CN đàu ngành.
-Chính sách đổi mới quản lý KH&CN đã được đổi mới nhưng còn chậm
so với tốc độ phát triển của kinh tế thị trường và đang còn mang nặng tính hành
chính (VD: các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủ quyền về kế hoạch,tài
chính,sáng tạo trong công việc. Chính về thế mà các cán bộ công chức không
đủ năng lực hoạt động KH&CN)
4.4 ứng dụng của Công nghệ Thông tin
a.Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính.
-Tạo thói quen sử dụng CNTT cho người dân, hiện tại công tác đang gặp

-Hội thảo nghe các chuyên gia, nhà quản lý giới thiệu một số nội dung
quan trọng về chính sách phát triển công nghệ thông tin như: Thực trạng và
giải pháp của ngành CNTT-TT nhằm phục vụ công tác quản lý tài nguyên, bảo
vệ môi trường, hoạt động sản xuất của ngư dân trên biển; Hiện trạng và định
hướng phát triển, kết nối liên thông phần mềm quản lý văn bản giữa Văn phòng
Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương và thiết lập Cổng dịch vụ công quốc
gia, bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển đảo; Giải pháp di động vệ tinh
Vinaphone S kết nối biển đảo; Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin
trong đời sống xã hội...
12


Hình 2.2. Quang cảnh hội thảo
c.Ứng dụng công nghệ thông tin trong xúc tiến, kinh doanh du lịch
-Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong quá trình toàn
cầu hóa đang đặt ra đòi hỏi bức thiết cho nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là ngành công nghiệp không khói trong việc ứng dụng những
thành tựu của internet để đẩy mạnh hiệu quả xúc tiến, kinh doanh.
- Kê cho thấy, trong số 41 triệu người dùng internet nước ta, có tới 32
triệu người dùng Facebook. Tỷ lệ lớn trong số họ được truyền cảm hứng đi du
lịch từ những tấm ảnh bạn bè chia sẻ trên mạng xã hội, diễn đàn, blog... Dù số
khách hàng trực tiếp tìm đến các cơ sở kinh doanh du lịch trong nước không ít,
nhưng số người sử dụng internet như một kênh thông tin quan trọng, tiện lợi và
hữu hiệu để tìm kiếm thông tin và đưa ra quyết định mua tua đang ngày càng
tăng nhanh chóng. Trung bình một ngày, người dùng internet ở Việt Nam có
bốn lần sử dụng công cụ tìm kiếm Google. Điều này cho thấy, internet đang
dần trở thành kênh thông tin chủ yếu đối với du khách. Và e-marketing (tiếp thị
trực tuyến) hay e-commerce (thương mại điện tử) đang là hướng đi của ngành
du lịch trong việc tận dụng lợi thế công nghệ số để thu hút du khách, mở rộng
thị trường, tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. Trong điều kiện nguồn
13

sắt tại khu vực giao cắt với đường bộ như ứng dụng công nghệ cảnh báo an
toàn sớm bằng camera hồng ngoại trên đầu tàu, cảm biến la-de tại các ngã tư
giao cắt. Đồng thời, lắp đặt khoảng 300 rào chắn tự động tại các đường ngang,
giáo dục và nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, hoàn thiện hệ
thống pháp luật,.hiện nay, việc mua vé cũng như thanh toán đã có nhiều hình
thức và nhanh ngọn hơn cho người ,

Hình 2.4. Mua vé tàu tại một nhà ga
e.Ứng dụng công nghệ thông tin, tạo thuận lợi thu, nộp thuế xuất,
nhập khẩu.
-Để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời, tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan, ngành hải quan đã đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong lĩnh vực thu, nộp thuế xuất khẩu, nhập
khẩu. Giai đoạn từ năm 2007 đến 2011, Tổng cục Hải quan đã thực hiện việc
15


kết nối trao đổi thông tin giữa các cơ quan thuế - hải quan - kho bạc - tài chính
về tình hình nộp thuế của doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu và bước đầu áp
dụng Giấy nộp tiền điện tử. Đến nay, Tổng cục Hải quan đã thực hiện việc kết
nối trao đổi thông tin giữa cơ quan hải quan và các ngân hàng thương mại để
thực hiện việc thanh toán điện tử. Xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách
để triển khai thực hiện thanh toán điện tử, phối hợp các ngân hàng thương mại
xây dựng các quy trình nghiệp vụ và phát triển các ứng dụng trao đổi thông tin.
Tổng cục Hải quan đã thực hiện kết nối, trao đổi thông tin với 27 ngân hàng
thương mại, tổng số tiền thuế thực hiện qua hình thức thanh toán điện tử chiếm
72% tổng số thu của ngành hải quan. 100% số cục hải quan và chi cục hải quan
đã thực hiện chấp nhận thanh toán điện tử.
-Việc thực hiện thanh toán điện tử đã giúp doanh nghiệp thanh toán tiền
thuế “mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện”, thậm chí thanh toán tiền thuế ngoài

gia…

Hình 2.6. Hình: ứng dụng CNTT trong y tế
g.Ứng dụng trong nông nghiệp
17


CNTT mở đường cho 'nông nghiệp thông minh'.Bằng việc ứng dụng công
nghệ thông tin, nhà nông có thể chủ động trong mọi khâu từ trồng trọt, chăn
nuôi cho đến tìm kiếm thị trường nông nghiệp rất cần CNTT để tạo ra "năng
suất ghê gớm”, hình thành nên một nền nông nghiệp chính xác, thông minh. Ví
dụ, một hệ thống giám sát nông nghiệp vệ tinh sẽ giúp phân tích các loại đất,
dự báo năng suất, phát hiện sâu bệnh... Hay các cảm biến tích hợp trong các
vùng đất sẽ tính toán về lượng nước, phân bón phù hợp nhằm giảm chi phí,
giảm ô nhiễm môi trường..

Hình 2.7: Ứng dụng cntt trong nông nghiệp
5.Nguồn nhân lực
-Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT tăng qua
các năm, từ 20% năm 2010 lên 73% năm 2015.
Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT qua
các năm
80%

73%

70%

65%


2015


- Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp có tỷ lệ cán bộ chuyên trách
CNTT và TMĐT cao nhất : công nghệ thông tin và truyền thông (94%), giải trí
(90%) tài chính và bất động sản (85%).
Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT theo
lĩnh vực kinh doanh
60%

Khác

58%

Xây dựng

60%

Nông, lâm, thủy, sản

62%

Bán buôn, bán lẻ

72%

Năng lượng, khoáng sản

76%


24% doanh nghiệp cho biết gặp khó khăn trong tuyển dụng nhân sự có kỹ

năng CNTT và TMĐT. Kết quả khảo sát trong 3 năm gần đây cho thấy tỷ lệ
này có chiều hướng giảm, từ 29% năm 2013 xuống còn 24% năm 2015.
Khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự có kỹ năng CNTT và TMĐT

19


35%
30%

29%

27%
24%

25%
20%
15%
10%
5%
0%

2013

2014

2015


triển.
(4) Đầu tư cho công nghệ thông tin là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất
nước, cần được đi trước một bước trên cơ sở quản lý tốt (quản lý đến đâu, phát
triển tới đó); tăng cường khả năng làm chủ, sáng tạo công nghệ, bảo đảm an
toàn, an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
1.2Nhiệm vụ .
(1)Nhiệm vụ thứ nhất: Đổi mới, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin.
- Quán triệt sâu rộng trong các tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc và đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp và toàn xã hội về vị trí, vai trò của
công nghệ thông tin, về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển công nghệ thông tin
trong quá trình phát triển bền vững đất nước và hội nhập quốc tế.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, sự quản lý của chính quyền các
cấp đối với công tác ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin. Người đứng đầu
các cấp, các ngành phải chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo ứng dụng, phát triển
công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng suất lao động, hiệu quả hoạt động của
ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị được giao phụ trách.
- Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin là nội dung bắt buộc trong
từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, cũng như trong từng đề án, dự
án đầu tư của mỗi ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị
- Các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường và đổi mới công tác tuyên
truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và kiến thức về công nghệ thông tin trong
21


xã hội. Xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến trong ứng dụng, phát triển
công nghệ thông tin.
(2)Nhiệm vụ thứ hai: Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật
về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin.
- Rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống; văn bản pháp luật, cơ chế, chính

bộ, hiện đại.
- Quy hoạch tổng thể phát triển hạ tầng thông tin của quốc gia, bảo đảm
khả năng kết nối liên thông giữa các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa
phương: có cơ chế bảo đảm cung cấp, chia sẻ và khai thác thông tin.
- Xây dựng hệ thống thông tin quốc gia, gồm các cơ sở dữ liệu và các ứng
dụng thu nhập, phân tích, khai thác thông tin, đặc biệt là các cơ sở dữ liệu quốc
gia về công dân, đất đai, tài nguyên, doanh nghiệp. Có cơ chế sử dụng chung,
chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương.
- Tăng cường đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin quốc gia
hiện đại, tiên tiến, đồng bộ. Hình thành siêu xa lộ thông tin trong nước và kết
nối với thế giới. Tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có, tập trung xây dựng và mở
rộng mạng cáp quang băng rộng đến các xã, phường, thị trấn, thôn, bản trên cả
nước.
(4)Nhiệm vụ thứ tư: Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, thiết thực, có
hiệu quả cao.
- Chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, các lĩnh
vực, nhất là các ngành kinh tế, kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh. Đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng (giáo dục, y tế, giao thông, điện, thủy
lợi, hạ tầng đô thị lớn…); ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào
tạo, số hóa tài liệu học tập, sách giáo khoa gắn với đổi mới nội dung, phương
thức dạy học, khảo thí; tạo điều kiện cho mọi lứa tuổi được truy cập, học tập,
đào tạo.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và quản trị toàn diện các hoạt động của doanh nghiệp, trước hết là các
tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp lớn. Đẩy mạnh thanh
23


toán điện tử, thương mại điện tử. Ứng dụng mạnh mẽ và toàn diện công nghệ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status