LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô Đặng Thùy Dương đã tận tâm và nhiệt tình
hướng dẫn em làm để có thể hoàn thành xong báo cáo luận văn trong thời gian
qua. Bước đầu đi vào thực tế để tìm hiểu về lĩnh vực chống chuyển giá do kiến
thức em còn nhiều hạn chế và bỡ ngỡ. Vì vậy nên bài báo cáo còn có những chỗ
thiếu sót là điều không tránh khỏi, em mong nhận được những ý kiến đóng góp
từ các thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Vũ Thị Xuân Trang
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Ths. Đặng Thùy Dương. Các nội dung nghiên cứu, kết
quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào
trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận
xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong
phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như
số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích
nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về nội dung luận văn của mình.
3.2.1 Đối với Chính Phủ. .................................................................................... 73
3.2.2. Đối với các chi cục thuế........................................................................... 75
3.2.3. Đối với người tiêu dùng. ........................................................................... 75
LỜI KẾT ............................................................................................................. 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 78
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MNC
Công ty đa quốc gia
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
EU
Thị trường chung Châu Âu
APA
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
DN
Doanh nghiệp
NSNN
Ngân sách nhà nước
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
KCN
Khu công nghiệp
KCX
Khu chế xuất
CTCP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: ĐTNN theo ngành kinh tế (tính đến ngày 31/12/2014)......................44
Bảng 2: Kết quả thanh tra doanh nghiệp FDI.....................................................47
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tổng quan tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam........................38
Biểu đồ 2: Vốn đầu tư toàn xã hội theo thành phần kinh tế................................41
Biểu đồ 3: Đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách.......................................41
Biểu đồ 4: Biểu đồ GDP qua các năm................................................................42
Biểu đồ 5: Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI so với tổng xuất khẩu của cả
nước (tính đến ngày 31/12/2014)........................................................................43
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Một luật thuế thu nhập doanh nghiệp công bằng và hiệu quả là một nền
tảng của một thị trường chung sâu hơn và công bằng hơn cho các thành phần
kinh tế trong môi trường kinh doanh hiện nay. Nhưng một số công ty đã sử
dụng các kỹ thuật lập kế hoạch thuế tích cực khai thác lỗ hổng trong hệ thống
thuế của các quốc gia để làm giảm nghĩa vụ thuế đối với nước nhận đầu tư. Các
hoạt động phá hoại một môi trường kinh doanh lành mạnh giữa các thành phần
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích tổng
hợp, thống kê, so sánh, logic, lịch sử cụ thể…
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu
tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chuyển giá.
Chƣơng 2: Thực trạng hiện tƣợng chuyển giá của một số công ty tại
Việt Nam.
Chƣơng 3: Giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại Việt Nam
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chuyển giá.
1.1. Khái quát về công ty đa quốc gia
1.1.1. Khái niệm.
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết
tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào
nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty
nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.”
Để được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài, vụ đầu tư phải đủ lớn để nắm
quyền kiểm soát công ty ở nước ngoài. Liên hợp quốc xác định rằng để làm
được việc đó, công ty mẹ phải sở hữu 10% hoặc hơn số cổ phiếu thường hoặc
quyền biểu quyết của công ty được đầu tư. Nếu ít hơn số đó được gọi là đầu tư
gián tiếp.
nước khác (ví dụ: Adidas).
+ Công ty đa quốc gia "nhiều chiều" có các cơ sở sản xuất ở các nước
khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví
dụ: Microsoft).
1.1.3. Các nghiệp vụ mua bán nội bộ của các công ty đa quốc gia.
Các công ty đa quốc gia gồm có công ty mẹ và các công ty con, chi nhánh
tại các nước khác nhau nên phạm vi hoạt động của công ty đa quốc gia là rất lớn
bao trùm lên nhiều quốc gia. Trong khi đó ở mỗi quốc gia lại có những luật
pháp quản lý tài chính là khác nhau nên hoạt động của các công ty đa quốc gia
phải phù hợp với luật pháp, thông lệ, tập quán của từng quốc gia. Các công ty
đa quốc gia là một khối liên kết giữa công ty mẹ và các công ty con nên các
nghiệp vụ giao dịch tiến hành trọng nội bộ của khối liên kết ngày càng lớn và
rất đa dạng như trao đổi tài sản cố định giữa công ty mẹ và công ty con hay giữa
các công ty con với nhau, mua bán nguyên vật liệu, các chi phí lãi vay, chi phí
nhượng quyền thương mại, chi phí lương, thưởng,.... Vì các nghiệp vụ này ảnh
hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến các chiến lược kinh doanh của công ty nên
chúng có tính bảo mật cao chỉ có những người lãnh đạo cấp cao mới có thể biết
rõ được từng nghiệp vụ cũng như con số cụ thể của mỗi nghiệp vụ giao dịch.
Chính tính chất đặc biệt này đã gây khó khăn trong việc kiểm tra kiểm soát của
cơ quan thuế tại mỗi quốc gia.
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Do các nghiệp vụ có tính chất đặc biệt nên chúng thường được giao dịch
theo lệnh của các nhà quản lý cấp cao với giá trị mỗi giao dịch là tương đối lớn.
Trong khi đó các giao dịch này lại không được ghi nhận hoặc chỉ ghi nhận với
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ALP (The Arm’s – Length Principle). Nguyên tắc này đòi hỏi các giao dịch giữa
các bên liên kết phải được xác định giá như khi giao dịch giữa các bên độc lập
để có thể tạo được môi trường kinh doanh công bằng.
1. Sự cần thiết của đề tài
Một luật thuế thu nhập doanh nghiệp công bằng và hiệu quả là một nền
tảng của một thị trường chung sâu hơn và công bằng hơn cho các thành phần
kinh tế trong môi trường kinh doanh hiện nay. Nhưng một số công ty đã sử
dụng các kỹ thuật lập kế hoạch thuế tích cực khai thác lỗ hổng trong hệ thống
thuế của các quốc gia để làm giảm nghĩa vụ thuế đối với nước nhận đầu tư. Các
hoạt động phá hoại một môi trường kinh doanh lành mạnh giữa các thành phần
kinh tế đang ngày càng phát triển. Cuộc khủng hoảng kinh tế những năm gần
đây đòi hỏi phải có những đóng góp cho việc củng cố tài chính công từ tất cả
các đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên, trong khi nhiều người dân phải đối mặt với
sự gia tăng không thể thiếu trong các loại thuế, thì các doanh nghiệp MNC lại
đang cố gắng tránh nộp thuế TNDN, làm giảm đến mức thấp nhất nghĩa vụ thuế
phải nộp bằng cách thực hiện hành vi chuyển giá. Chính vì vậy chúng ta phải có
những hành động ngăn chặn các hành vi chuyển giá để tạo thêm nguồn thu cho
NSNN.
Với ý nghĩa nêu trên, việc nghiên cứu về đề tài “Chống chuyển giá tại
Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” là một vấn đề cần thiết, và có ý nghĩa
khoa học thực tiễn.
1.2. Chuyển giá trong các công ty đa quốc gia.
1.2.1 Khái niệm.
Chuyển giá là việc các công ty thực hiện các chính sách giá đối với các
hàng hóa, dịch vụ, tài sản khi có giao dịch chuyển giao giữa công ty con với
công ty mẹ hoặc giữa các công ty con trong cùng tập đoàn qua biên giới quốc
gia không theo giá thị trường nhằm mục đích giảm đến mức thấp nhất số thuế
phải nộp ở mỗi quốc gia trên toàn cầu.
giao dịch. Chúng ta cần phải phân biệt rõ giữa hành vi chuyển giá để tránh nộp
thuế với trường hợp kê khai giá sai để trốn thuế. Hành vi chuyển giá là một
hành vi lợi dụng lỗ hỏng của pháp luật để tiến hành chuyển lợi nhuận đi nơi
khác một cách hợp pháp. Các chủ thể kinh doanh này sử dụng những quy định
khác nhau về thuế suất thuế TNDN giữa các quốc gia và các ưu đãi để hưởng
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
lợi một cách hợp pháp. Chính vì vậy đã gây ra sự sai lệch trong nghĩa vụ thuế
của các công ty MNC đối với nước tiếp nhận đầu tư và vô hình chung tạo nên
sự mất bình đẳng đối với các thành phần kinh tế khác trong xã hội.
1.2.2. Dấu hiệu nhận biết các công ty thực hiện chuyển giá.
- Lỗ nhiều năm (liên tục) nhưng vẫn liên tiếp mở rộng đầu tư (doanh thu
không ngừng tăng trưởng)
- Giá bán thấp hơn giá vốn (hay chi phí NVL nhập từ công ty liên kết
chiếm đáng kể trên doanh thu)
- Thanh toán các khoản phí dịch vụ (như tiếp thị, quảng cáo,...) hay các
chi phí theo cơ sở phân bổ cho các công ty trong tập đoàn (thường là không
chứng minh được dịch vụ cung cấp)
- Thanh toán hộ cho công ty trong tập đoàn(không thu phí bảo lãnh, chi
phí vốn)
- Chi trả các khoản về nhãn hiệu, bản quyền, phí giấy phép (không chứng
minh được tính hợp lý)
- Trả lãi vay cao hơn lãi suất của ngân hàng thương mại cho vay (cùng
điều kiện về xếp hạng tín dụng)
- Mua bán lòng vòng qua nhiều lớp (công ty quản lý) nhưng hàng chỉ luân
tính quyết định. Như thế các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong
cùng một quốc gia hoặc có thể ở nhiều quốc gia khác nhau. Từ đó, chuyển giá
không chỉ diễn ra trong các giao dịch quốc tế mà có thể cả trong những giao
dịch quốc nội.
Thực tế ta thấy các giao dịch chuyển giá thường được sử dụng vượt ra
ngoài biên giới của một quốc gia là chính do sự khác biệt về biểu thuế suất của
mỗi quốc gia. Chính vì lẽ đó mà các nhà hoạch định chính sách thường chú
trọng hơn về các giao dịch quốc tế giữa các doanh nghiệp có mối quan hệ liên
kết.Thông thường một lượng lợi nhuận sẽ được chuyển giao sang một công
tyliên kết đặt ở nước có mức thuế suất thuế TNDN thấp bằng cách chuyển giá
và khi thực hiện hành động này thì công ty chuyển lợi nhuận đi nằm ở những
quốc gia có mức thuế suất cao để làm giảm lợi nhuận xuống từ đó giảm đi nghĩa
vụ nộp thuế đối với quốc gia. Với hành vi chuyển giá này thì tổng lợi nhuận của
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
tập đoàn không bị ảnh hưởng nhưng lại giảm đi một số lượng tiền thuế không
nhỏ tại quốc gia có mức thuế suất thuế TNDN cao.
Tương tự với cách làm trên khi lợi dụng chênh lệch thuế suất giữa hai
quốc gia thì các công ty MNC còn tận dụng các ưu đãi khác đối với từng vùng
đầu tư để thực hiện chuyển giá từ những vùng có ít ưu đãi chuyển sang vùng có
nhiều ưu đãi.
1.2.4. Các phƣơng thức thực hiện chuyển giá.
Hiện tượng chuyển giá hầu như đều xảy ra đối với các công ty đa quốc
gia tại Việt Nam, hiện tượng chuyển giá đã xuất hiện và ngày càng nhiều tại các
nghiệp liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài khi không còn đủ
tiềm lực tài chính, chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế (khi các công ty thực
hiện chuyển giá thì sẽ chuyển một phần lợi nhuận ra ngoài từ đó làm giảm nghĩa
vụ thuế của công ty đối với quốc gia dẫn đến đất nước bị thất thu một khoản
thuế đó) còn người tiêu dùng Việt Nam phải dùng những sản phẩm đắt hơn giá
trị thực.
- Mua nguyên, vật liệu và các yếu tố đầu vào sản xuất của công ty mẹ với giá
cao và bán sản phẩm với giá thấp:
Nhiều doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu các yếu tố đầu
vào cho sản xuất của các công ty mẹ hoặc các công ty khác trong hệ thống các
công ty xuyên quốc gia. Giá mua nguyên liệu của các hàng hóa, dịch vụ này
thường cao hơn giá thực tế rất nhiều và bán sản phẩm cho công ty mẹ với giá
thấp dẫn đến “lỗ công ty con, lãi công ty mẹ”
- Chuyển giá thông qua việc chiếm lĩnh thị trường:
Để có thể thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị phần, các DN FDI tăng
cường các hoạt chiến dịch quảng cáo, khuyến mại và giớ thiệu sản phẩm làm
cho các DN giai đoạn này bị lỗ. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp liên doanh,
các công ty đa quốc gia dựa vào tiềm lực tài chính để tiến hành các hành vi
chuyển giá bất hợp pháp gây ra thua lỗ kéo dài và chiếm lấy phần quản lý và
kiểm soát công ty. Nhiều DN lợi dụng chính sách ưu đãi của Việt Nam cho
giảm trừ phần chi phí cho hoạt động quảng cáo, khuyến mãi nên đã tìm mọi
cách kê khai cả phần chi phí làm thương hiệu của công ty mẹ.
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Page 17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
nước có thuế suất thấp để hưởng lợi và gây hậu quả thất thu thuế cho các nước
tiếp nhận đầu tư.
Bên cạnh đó đối với những doanh nghiệp có những mặt hàng độc quyền,
tính bảo mật cao nên để tránh rủi ro không mong muốn mà các công ty MNC đã
thực hiện hành vi chuyển giá.
1.2.5.2. Động cơ bên ngoài.
- Sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN tại các quốc gia: các công ty
MNC sẽ lợi dụng sự chênh lệch về thuế suất giữa hai quốc gia và sẽ tiến hành
thủ thuật chuyển giá bằng cách mua các TSCĐ hay NVL từ các công ty có mối
quan hệ liên kết ở các quốc gia thấp hơn với giá cáo để làm tăng chi phí từ đó
làm giảm lợi nhuận dẫn đến giảm chi phí thuế TNDN phải đóng đối với nước có
thuế suất cao. Bằng cách làm này đã giúp cho công ty MNC chuyển đi một phần
lợi nhuận từ nước có thuế suất cao sang nước có thuế suất thấp để tránh các
nghĩa vụ nộp thuế.
- Tỷ giá: Các công ty MNC luôn mong muốn bảo tồn vốn đầu tư theo
nguyên tệ lúc đầu. Tỷ giá thì có lúc tăng lúc giảm nên nếu như nhà đầu tư dự
đoán rằng đồng tiền của nước đang đầu tư có xu hướng tăng thì công ty sẽ tiếp
tục đầu tư còn nếu như chủ thể kinh doanh thấy rằng đồng tiền của nước này sẽ
có xu hướng giảm trong tương lai thì công ty sẽ thực hiện hành vi chuyển giá
bằng cách thanh toán các khoản giao dịch nội bộ để rút vốn dần ra khỏi nước
đầu tư để tránh các rủi ro thua lỗ do tỷ giá.
- Chi phí cơ hội: Khi các công ty MNC chỉ có thể rút vốn khi hết năm tài
chính hoặc sau khi đã được cơ quan thuế kiểm tra. Do vậy các công ty sợ sẽ bỏ
lỡ các cơ hội đầu tư lớn chính vì lẽ đó mà các doanh nghiệp đã thực hiện hành
vi chuyển giá để thu hồi nhanh vốn để chớp lấy các cơ hội đầu tư khác.
1.2.6.2. Tác động đối với quốc gia nhận đầu tƣ.
Hành vi chuyển giá có tác động vô cùng xấu đến các quốc gia tiếp nhận
đầu tư. Việc tiến hành chuyển giá có các tác động xấu như:
- Thất thu NSNN lớn. Các doanh nghiệp MNC khi thực hiện chiến lược
chuyển giá sẽ làm cho doanh nghiệp báo lỗ trong thời gian dài từ đó sẽ không
phải đóng thuế TNDN. Hiện nay có đến hơn 50% các doanh nghiệp MNC tại
Việt Nam có hành vi chuyển giá điều này đã làm cho NSNN thất thu một khoản
thuế TNDN vô cùng lớn.
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Thông qua việc chuyển giá sẽ giúp các công ty MNC thu hồi vốn nhanh
hơn kế hoạch ban đầu. Việc các công ty thu hồi vốn nhanh sẽ làm thay đổi cơ
cấu vốn trong nền kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư từ đó đưa ra một bức
tranh không đúng về kết quả kinh doanh của toàn nền kinh tế tại quốc gia tiếp
nhận đầu tư.
- Các công ty MNC sẽ gây ra lũng loạn thị trường bằng cách chuyển giá
với tiềm lực kinh tế mạnh các công ty MNC vào đầu tư hướng tới xâm chiếm thị
trường, khi mới tiến vào thị trường đã tiến hành các hoạt động quảng cáo,
khuyến mại các công ty trong nước không có tiềm lực đủ mạnh để cạnh tranh
nên đã bị đào thải ra khỏi thị trường từ đó làm các công ty MNC chiếm lĩnh
được thị trường. Điều này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh
trong nước tại các quốc gia này.
- Tác động xấu đến môi trường: Một trong các hành vi chuyển giá tại các
công ty MNC đó là nhập khẩu máy móc với giá trị cao để tăng chi phí dẫn đến
giảm lợi nhuận. Nhiều doanh nghiệp nhập khẩu máy móc với giá trị rất cao
được quyền điều chỉnh giao dịch mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng
hóa, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường (sau đó
được đề cập tại điều 26 Nghị định 05/2007/NĐ-CP và điều 21 Thông tư
26/2011/TT-BTC)
Thông tư số 66/2010/TT-BTC thay thế Thông tư 117, có hiệu lực từ
6/6/2010
Thông tư số 201/2013/TT-BTC, “Hướng dẫn việc áp dụng thỏa thuận
trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế” của Bộ
Tài Chính ban hành ngày 20/12/2013.
“1.3.1. Đối tƣợng áp dụng phƣơng pháp xác định giá tính thuế (APA)
Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (sau đây gọi chung là
người nộp thuế) là đối tượng nộp thuế của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và
thực hiện khai thuế theo phương pháp được quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật
Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 (số thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp trong kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
suất), thực hiện giao dịch kinh doanh với các bên có quan hệ liên kết và có đơn
đề nghị áp dụng APA trước khi thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế cho năm
đầu tiên của giai đoạn đề nghị áp dụng APA.
Người nộp thuế là đối tượng áp dụng APA thực hiện theo quy định tại
Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 201/2013/TT-BTC
a) Các tổ chức, đơn vị có quan hệ liên kết trong một doanh nghiệp, tập
đoàn kinh tế hoạt động tại nhiều địa bàn khác nhau (bao gồm cả các quốc gia,
xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên
kết. Khi lựa chọn phương pháp xác định giá thị trường áp dụng trong APA, cần
căn cứ vào bản chất và phương pháp tính hơn là tên gọi của phương pháp.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 5 Phần B Thông tư 66/2010/TT-BTC các
phương pháp xác định giá thị trường bao gồm:
- Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập.
- Phương pháp giá bán lại.
- Phương pháp giá vốn cộng lãi.
- Phương pháp so sánh lợi nhuận.
- Phương pháp tách lợi nhuận.
Cụ thể:
1.3.2.1. Phƣơng pháp so sánh giá giao dịch độc lập:
- Phương pháp này dựa vào đơn giá sản phẩm trong giao dịch độc lập để
xác định đơn giá sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có các
điều kiện giao dịch tương đương nhau.
- Đơn giá sản phẩm của giao dịch liên kết được so với giá trị phù hợp
nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo đơn giá sản phẩm để điều chỉnh
phù hợp với các nguyên tắc:
+ Giá trị phù hợp nhất là giá trị phản ánh mức độ tương đương cao nhất
về điều kiện giao dịch của giao dịch độc lập được chọn để so sánh với giao dịch
liên kết.
+ Biên độ giá thị trường chuẩn:
Các giá trị trong khoảng các giá trị được tính toán từ các giao dịch độc
lập được chọn để so sánh theo nguyên tắc: chọn 1 giao dịch trong trường hợp
giao dịch độc lập và giao dịch liên kết không có giao dịch trọng yếu. Chọn 3
giao dịch trong trường hợp các giao dịch độc lập và giao dịch liên kết có khác
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 23
yếu về chức năng được dạch toán chung thì việc điều chỉnh được thực hiện trên
Họ & tên: Vũ Thị Xuân Trang
Mã SV: 46723
Page 24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
cơ sở phân bổ để xác định phần chi phí hoặc doanh thu tương ứng liên quan đến
khác biệt trọng yếu đó.
- Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm như:
Đặc tính vật chất, chất lượng và nhãn hiệu thương mại của sản phẩm.
Các điều kiện hợp đồng trong việc cung cấp, chuyển giao sản phẩm như:
khối lượng (nếu có ảnh hưởng đến mức giá), thời hạn chuyển giao sản phẩm,
thời hạn thanh toán,...
Quyền phân phối, tiêu thụ sản phẩm có ảnh hưởng đến giá trị kinh tế.
Thị trường nơi diễn ra giao dịch.
- Trường hợp áp dụng phương pháp:
Các giao dịch riêng lẻ về từng chủng loại hàng hóa lưu thông trên thị
trường.
Các giao dịch riêng lẻ về từng loại hình dịch vụ, bản quyền, khế ước vay
nợ.
Cơ sở kinh doanh thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết về
cùng một chủng loại sản phẩm.
1.3.2.2. Phƣơng pháp giá bán lại.
- Phương pháp này dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản phẩm do
doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm đó từ
bên liên kết.
- Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kết được xác định trên cơ sở giá
bán ra của sản phẩm trong các giao dịch độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các