A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi tội phạm xảy ra đều có thể
gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho một hoặc nhiều quan hệ xã hội là khách
thể được luật hình sự bảo vệ. Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để tội
phạm xảy ra hoặc không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm
tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm rất cần thiết và cấp
bách. Vì vậy, bộ luật tố tụng hình sự quy định việc kịp thời ngăn chặn tội phạm
là một trong các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn. Bắt người trong trường
hợp khẩn cấp là một trong số những biện pháp ngăn chặn được quy định trong
bộ luật hình sự. Tình hình kinh tế xã hội phát triển, kéo theo tình hình tội phạm
cũng thay đổi nhưng theo hướng tiêu cực, ngày càng có nhiều tội phạm nguy
hiểm cho xã hội. Có nhiều trường hợp phạm tội làm cho cơ quan có thẩm quyền
phải ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp để nhằm ngăn chặn kịp thời tội
phạm, tránh nguy hại cho xã hội. Đây là một trường hợp bắt người rất quan trọng
trong tố tụng hình sự bởi lẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền cơ bản của công
dân. Vì tính cấp thiết của biện pháp ngăn chặn này, em xin chọn đề tài: “Quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bắt người trong trường hợp khẩn
cấp – so sánh với quy định của bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” để nghiên
cứu bài tập lớn cuối kỳ.
B. NỘI DUNG
I.
Khái niệm
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi
thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội
phạm.
1
Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại
Điều này. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi
2
người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê
chuẩn.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài
liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê
chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.”
Như quy định tại Điều 81 BLTTHS năm 2003 thì có 3 trường hợp
được bắt người khẩn cấp đó là:
-Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng.
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc
kiểm tra, xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặc nhiều người)
đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều
kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm được thực hiện.
Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều kiện sau:
+Có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực
hiện tội phạm. Những căn cứ này có thể do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác
định qua việc theo dõi đối tượng hoặc qua việc kiểm tra, xác minh các nguồn tin
do quần chúng cung cấp đã khẳng định người đó (hoặc những người đó) đang
tìm kiếm công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để
Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều kiện sau:
+Phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và trực
tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm. Người có mặt tại nơi xảy ra
tội phạm có thể là người bị hại hoặc người khác đã chính mắt trông thấy người
phạm tội và hành vi phạm tội được thực hiện và trực tiếp xác nhận với cơ quan
4
có thẩm quyền đúng là người đã thực hiện tội phạm. Việc xác nhận phải mang
tính chất khẳng định, chứ không thể “hình như” hoặc “nhìn giống như” người đã
thực hiện tội phạm. Nếu việc xác nhận không phải do người trực tiếp chứng kiến
sự việc phạm tội thì không coi là điều kiện để bắt khẩn cấp, bởi lẽ nếu bắt trong
trường hợp đó dễ dẫn đến việc bắt nhầm người không thực hiện tội phạm.
+Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Những căn cứ cho rằng
người phạm tội bỏ trốn thường là: đang có hành động bỏ trốn, đang chuẩn bị
trốn; không có nơi cư trú rõ ràng; có nơi cư trú những ở quá xa; là đối tượng lưu
manh, côn đồ, hung hãn; chưa xác định được nhân thân của người đó (căn cứ lý
lịch không rõ ràng).
Đối với trường hợp khác thì vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án mà không
cần bắt khẩn cấp.
-Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người
hoặc tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để
xác định người đó thực hiện tội phạm nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết
của tội phạm ở ngời hoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội
phạm và xét thấy cần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ
thì bắt khẩn cấp.
Việc bắt người trong trường hợp này cần phải bảo đảm hai điều kiện sau:
+Khi thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi
không ai có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Nếu không
phải người thuộc một trong các trường hợp trên mà ra lệnh bắt khẩn cấp thì lệnh
này đã vi phạm quy định của pháp luật.
Về thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
6
Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp được BLTTHS năm 2003
quy định như sau:
Thứ nhất, lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không cần sự phê
chuẩn của viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành. Quy định như vậy để nhằm
đảm bảo cho việc bắt đạt hiệu quả và kịp thời, đúng như tên gọi “khẩn cấp” của
trường hợp bắt người này, nếu trì hoãn không tiến hành ngay thì sẽ mất thời cơ
ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi phạm tội trốn tránh hoặc gây
khó khăn cho việc điều tra khám phá tội phạm. Việc phải có phê chuẩn của viện
kiểm sát đối với lệnh bắt khẩn cấp trước khi thi hành sẽ là sự “trì hoãn” làm mất
đi tính chất cấp bách của trường hợp bắt người này.
Thứ hai, sau khi đã bắt người, người có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp
phải lập hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn gửi ngay cho viện kiểm sát cùng cấp. Viện
kiểm sát phải kiểm tra chặt chẽ các căn cứ bắt khẩn cấp trước khi quyết định phê
chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt. Nếu qua nghiên cứu hồ sơ thấy có dấu
hiện của việc lạm dụng bắt khẩn cấp, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa thể hiện
rõ căn cứ để bắt khẩn cấp hoặc người bị bắt không nhận tội, các chứng cứ trong
hồ sơ có mâu thuẫn, người bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong
tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc ít người hoặc trong trường hợp
cần thiết khác thì kiểm sát viên trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi báo cáo
viện trưởng, phó viện trưởng hoặc kiểm sát viên được viện trưởng ủy quyền xem
xét quyết định việc phê chuẩn. Khi cần gặp, hỏi người bị bắt khẩn cấp, kiểm sát
viên phải thông báo trước với cơ quan điều tra để phối hợp, biên bản ghi rõ lời
khẩn cấp:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng
Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ
đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát
biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội
phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và
tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng
8
Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc
nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng
Chi cục Kiểm ngư vùng;
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân
bay, bến cảng.
3. Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ
của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các
nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này. Việc thi hành lệnh giữ
người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113
của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp
hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai
ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra
quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm
sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến
việc giữ người để xét phê chuẩn.
Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn
lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết
định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trường hợp Viện kiểm sát
quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì
người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã
nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị
giữ.”
10
Như vậy, theo quy định tại Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì có 3 trường
hợp được giữ người trong trường hợp khẩn cấp, và chỉ được giữ người khi có
những dấu hiệu thuộc 1 trong 3 trường hợp đó. Đồng thời cũng chỉ một trong số
những cá nhân được quy định tại Khoản 2 mới có quyền ra lệnh giữ người trong
trường hợp khẩn cấp. Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp không cần xin
phê chuẩn của viện kiểm sát cùng cấp, tuy nhiên sau khi giữ người rồi thì cần
gửi ngay lệnh bắt người bị tạm giữ và tài liệu có liên quan đến trường hợp giữ
người này cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát xem xét phê chuẩn hoặc không
phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp
hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và
những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định
tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó.
Còn đối với trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo lệnh
của những cá nhân thuộc điểm c Khoản 2 Điều 110 này thì phải giải ngay người
bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp
đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Điều này
để đảm bảo cho việc điều tra được diễn ra chuyên nghiệp, đúng trình tự, tránh
giữ nhầm người. Sau đó trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ,
trường trường hợp khẩn cấp. Quy định như vậy nhằm đảm bảo tính chính xác khi
bắt giữ người vì bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp có thể bắt ở bất cứ
thời gian, thời điểm nào hơn nữa lại có thể bắt ngay mà chưa cần xin lệnh từ
Viện kiểm sát, nên không phải ai cũng có đủ năng lực để nhìn nhận xem có thật
sự cần bắt, giữ khẩn cấp hay không.
- Người có thẩm quyền ra lệnh bắt, giữ người khẩn cấp được ra lệnh luôn
mà không cần phải sự đồng ý từ Viện kiểm sát. Điều này nhằm đảm bảo tính
nhanh chóng cho việc ngăn chặn tội phạm tránh nguy hại cho xã hội. Tuy nhiên
sau khi bắt, giữ người rồi thì phải gửi hồ sơ tài liệu có liên quan cho Viện kiểm
sát để Viện kiểm sát xem xét phê chuẩn. Cần phải gửi hồ sơ tài liệu cho Viện
12
kiểm sát phê chuẩn để đảm bảo việc bắt, giữ này là phù hợp tránh bắt, giữ nhầm
người.
- Trong thời hạn 12 giờ kể từ nhận được hồ sơ tài liệu, Viện kiểm sát phải
xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát
không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt, giữ phải trả tự do cho người đã bị bắt,
giữ đó.
Khác nhau:
Thứ nhất, BLTTHS năm 2003 quy định là bắt người trong trường khẩn cấp
còn BLTTHS năm 2015 quy định là giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Đây
có lẽ là điểm khác biệt lớn nhất khi quy định về bắt, giữ người trong trường hợp
khẩn cấp của tố tụng hình sự. Có thể thấy BLTTHS năm 2015 đã đổi từ “bắt”
thành từ “giữ”, điều này là phù hợp hơn so với từ “bắt” trong quy định tại Điều
81 BLTTHS năm 2003, vì trong trường hợp này ta đang cần ngăn chặn những tác
hại có thể xảy ra đối với xã hội, tuy nhiên nếu như hành vi phạm tội của người bị
bắt, giữ này chưa đủ để bị bắt, giữ thì phải trả tự do cho người đó. Đồng thời
trong trường hợp này ta cần phải xem xét lại quá trình thực hiện hành vi phạm
Thứ tư, BLTTHS năm 2003 không quy định về việc người chỉ huy tàu bay,
tàu biển, khi tàu bay tàu biến đã rời sân bay, bến cảng khi bắt người trong trường
hợp khẩn cấp thì trong vòng 12 giờ phải giải ngay người bị bắt kèm theo tài liệu
liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi
có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về như quy định tại Điều 110 BLTTHS
năm 2015. Trong trường hợp này, quy định của BLTTHS năm 2015 là hợp lý vì
người chỉ huy tàu bay, tàu biển có thể chuyên môn chưa thực sự tốt để có thể
điều tra nên cần phải giao người cho Cơ quan điều tra.
Thứ năm, BLTTHS năm 2003 chỉ quy định sau khi bắt người trong trường
hợp khẩn cấp thì phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài
liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn; còn BLTTHS năm 2015
14
quy định lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho
Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên
quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn. Có sự khác biệt này có lẽ chính do
xuất phát từ tên gọi của điều luật, BLTTHS năm 2003 quy định là bắt người
trong trường hợp khẩn cấp, còn BLTTHS năm 2015 thì quy định là giữ người
trong trường hợp khẩn cấp nên cần phải gửi lệnh bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp cho Viện kiểm sát để được phê chuẩn. Điều này nhằm tránh tình
trạng lạm quyền để bắt người của những người đã ra lệnh bắt, giữ người trong
trường hợp khẩn cấp.
Như vậy, BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm giống
và cũng nhiều điểm khác nhau khi quy định về bắt, giữ người trong trường hợp
khẩn cấp. Tuy nhiên, theo quan điểm của em thì quy định giữ người trong trường
hợp khẩn cấp trong BLTTHS năm 2015 là hợp lý và chặt chẽ hơn so với quy
định bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong BLTTHS năm 2003.
C. KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên, ta nhận thấy bắt người trong trường hợp khẩn
……………………………………………………………………………..8
IV.
Những điểm giống và khác nhau giữa quy định của BLTTHS năm 2003 và
BLTTHS 2015 về bắt người trong trường hợp khẩn cấp.....................................12
C. KẾT LUẬN....................................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................16
17