Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp, thực tiễn thi hành và hướng hoàn thiện - Pdf 37

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về biện pháp bắt người trong TTHS
1. Cơ sở pháp lí
2. Mục đích của biện pháp bắt người trong TTHS
II. Quy định của pháp luật hiện hànhvề bắt người trong trường hợp
khẩn cấp
1. Đối tượng áp dụng
2. Các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp
3. Thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp
4. Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp
III. Thực trạng áp dụng pháp luật về bắt người trong trường hợp
khẩn cấp. Một số khó khăn còn tồn tại và phương hướng hoàn thiện
1. Thực trạng áp dụng pháp luật về bắt người trong trường hợp
khẩn cấp
2. Một số khó khăn còn tồn tại và phương hướng hoàn thiện
KẾT LUẬN

1

Trang
1
1
1
1
2
3
3
4
8

nhục hình xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Điều 72 Hiến pháp năm
1992 cũng nhấn mạnh “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật
có quyền được bồi thường thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm
minh”.Những quy định trên của Hiến pháp nằm ngăn ngừa sự vi phạm quyền con
người, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ nhân phẩm danh dự
của công dân từ phía các cán bộ, cơ quan nhà nước. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để
xây dựng Luật Tố tụng hình sự trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Trước khi BLTTHS được ban hành, để quy định vấn đề này Nhà nước ta đã
ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng hình sự quy định chi tiết về việc bắt người
như: Luật số 103-SL/L005 ngày 20/5/1957, Sắc luật số 02/SLt ngày 18/6/1957….
2


Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của đất nước và những diễn biến phức tạp
của xã hội mà các quy định trên dần bộc lộ nhiều hạn chế. Nhằm khắc phục những
thiếu sót nêu trên đồng thời hạn chế tới mức tối đa những vi phạm về quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, ngày 10/12/2003 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự (có hiệu lực 1/7/2004) với
nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung đồng thời những quy định mới đảm bảo phù
hợp với tinh thần của Hiến pháp và đáp ứng nhu cầu của tình hình thực tiễn.
2. Mục đích của biện pháp bắt người trong TTHS
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trong những biện pháp ngăn chặn
được quy định trong BLTTHS, vì vậy biện pháp này cũng mang mục đích giống với
các biện pháp khác được quy định trong Điều 79 BLTTHS.Cụ thể:
Thứ nhất, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm. Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện do cố ý hoặc vô ý xâm hại các
quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Việc ngăn chặn không để cho tội phạm
xảy ra hoặc không để hành vi phạm tội gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội là một đòi
hỏi cấp bách, phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Thứ hai, ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra,

Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thường là người chưa bị khởi tố về hình sự
và người chưa bị Tòa án ra quyết định xét xử. Họ chưa phải là bị can, bị cáo mà chỉ
là người bị nghi thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý không phải cứ
chưa bị khởi tố vụ án hình sự, chưa có tư cách bị can, bị cáo thì mới được áp dụng
bắt khẩn cấp. Trong thực tế, rất nhiều trường hợp người bị bắt trong trường hợp
khẩn cấp đã là bị can hoặc bị cáo của một vụ án khác.
Ví dụ: Nguyễn Văn A bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích nhưng đang được
tai ngoại để phục vụ điều tra. Trong quá trình này, cơ quan điều tra nhận thấy A cầm
đầu một đường dây mua bán ma túy xuyên quốc gia với số lượng lớn.Nhận thấy
nhiều khả năng A sẽ tiêu thụ số ma túy này vào thị trường trong nước. Cơ quan điều
tra ra quyết định bắt khẩn cấp Nguyễn Văn A.Vì vậy tại thời điểm Nguyễn Văn A bị
ra lệnh bắt thì A đã là bị can của một vụ án khác.
Vì vậy có thể nói, đối tượng bị bắt trong trường hợp khẩn cấp là bất kì người
nào nếu họ thuộc một trong ba trường hợp mà Khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định
làm căn cứ để bắt khẩn cấp.
Như vậy, người chưa bị khởi tố về hình sự ở đây được hiểu là người bị khởi tố
về hành vi được luật quy định là lý do (căn cứ) khiến họ bị bắt khẩn cấp.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.
CAND, Hà Nội – 2011.
1

4


2. Các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Trên cơ sở kế thừa quy định về bắt người trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại Điều 81 đã quy định 3 trường hợp bắt
người trong trường hợp khẩn cấp sau:
2.1 Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

nhóm khác nhau: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất
nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tại Khoản 3 Điều 8 BLHS quy
định: “…tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao
nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân
hoặc tử hình”.
Mặt khác, thông thường thì việc chuẩn bị thực hiện tội phạm vẫn còn một
khoảng cách nhất định với việc thực hiện tội phạm nên không nhất thiết mọi trường
hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Mà theo quy định tại Điều 17 BLHS 1999
thì chỉ người nào chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm
trọng thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, muốn bắt khẩn cấp một người
đang chuẩn bị thực hiện tội phạm thì tội phạm họ đang chuẩn bị thực hiện phải là tội
rất nghiêm trọng hoặc là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, theo quy định
của điều luật thì không được phép bắt người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm ít
nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
2.2 Trường hợp khẩn cấp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi
xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội
phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Trong trường hợp này, tội phạm đã xảy ra, nhưng người thực hiện tội phạm
không bị bắt ngay lúc đó. Sau một thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi
xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là người đã thực hiện tội
phạm. Nếu cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn thì ra
lệnh bắt khẩn cấp. Việc bắt khẩn cấp trong trường hợp này cũng cần đảm bảo hai
điều kiện, đó là:
Một là, có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác
nhận đúng là người đó đã thực hiện tội phạm.
Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm có thể là người bị hại hoặc là một người
khác đã chính mắt trông thấy và xác nhận với cơ quan có thẩm quyền đúng là người
đã thực hiện tội phạm. Việc xác nhận phải mang tính chất khẳng định một cách chắc

manh, côn đồ hung hãn hoặc chưa được xác định được nhân thân của người đó…).
Ví dụ: Vụ án mạng kinh hoàng xảy ra vào khoảng 6h30 phút ngày 2/5/2013 tại
ấp 8, xã Lộc Điền, huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước, nạn nhân là chị Đinh Thị
Hạnh. Chồng chị Hạnh là Trần Phước Đào sau một thời gian mâu thuẫn, đang làm
thủ tục ra tòa ly hôn. Sáng ngày 2.5, nhiều người nghe tiếng la thất thanh vọng ra từ
nhà chị Hạnh. Khi mọi người chạy đến, phát hiện chị nằm dưới đất, cổ chảy nhiều
7


máu. Lúc này,Đào vẫn còn cầm dao trong tay. Chị Hạnh tử vong trên đường đi cấp
cứu. Nhận được tin báo lực lượng chức năng đã đến khám nghiệm, ra quyết định bắt
khẩn cấp và tổ chức truy bắt Hào. Đến 8g cùng ngày, hung thủ bị tóm khi đang ẩn
nấp trong vườn cao su2. Như vậy có thể thấy khi xảy ra án mạng, nhiều người dân đã
chứng kiến Hào còn cầm dao đã chém chị Hạnh trên tay và cơ quan công an căn cứ
Hào đang bỏ trốn để cơ quan ra quyết định bắt khẩn cấp.
2.3 Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi có dấu vết của tội phạm ở người hoặc
tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc
người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác
định người thực hiện tội phạm. Nhưng qua việc phát hiện dấu vết của tội phạm ở
người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần thiết ngăn
chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì bắt khẩn cấp. Việc bắt người
trong trường hợp này cần có hai điều kiện:
Một là, khi thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi
thực hiện tội phạm.
Qua những hoạt động như khám chỗ ở, địa điểm, khám người, xem xét dấu vết
trên cơ thể, kiểm tra, kiểm soát hành chính… cơ quan có thẩm quyền tìm thấy dấu
vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, địa điểm của người bị nghi thực hiện tội
phạm. Các dấu vết đó có thể là những vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội,
vật mang dấu vết của tội phạm, các vật khác có giá trị chứng minh tội phạm, cũng

Công an cần bắt giữ để điều tra, xác minh. Quy định này là xuất phát từ tình hình
thực tế nước ta lúc bấy giờ (do chiến tranh vừa kết thúc, việc kiểm soát căn cước
còn khó khăn…). Hiện nay, những điều kiện đó không còn nữa, do vậy quy định này
là không cần thiết nữa và đã bị bãi bỏ.
3. Thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định những người có quyền ra lệnh bắt người
trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm:
“- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan tiến hành điều tra các cấp;
- Người chỉ huy đơn vị quân sự độc lập cấp trung đoàn và tương đương,
người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến
cảng”.
Theo tinh thần của quy định này thì người chỉ huy cấp trung đoàn và tương
đương trực thuộc cấp sư đoàn không có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp. Tương
đương với cấp trung đoàn được hiểu là các đơn vị có người chỉ huy cùng cấp bậc
quân số tương đương, nhiệm vụ được giao tương đương với cấp trung đoàn mặc dù
tên gọi có thể khác. Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới đó là các
đơn vị được thành lập và biên chế trong hệ thống của bộ đội biên phòng quản lý một
9


khu vực của tuyến biên giới trên đất liền và hải đảo. Các đồn biên phòng ở trong
khu vực nội địa như sân bay, bến cảng, nhà ga quốc tế… thì không có quyền này bởi
vì ở nội địa đã có các Cơ quan điều tra, Cơ quan Công an đảm nhận.
4. Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định: “Nội dung lệnh bắt và thi hành lệnh bắt
người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 80 của
Bộ luật này”. Theo đó, khoản 2 Điều 80 BLTTHS quy định: “2.Lệnh bắt phải ghi
rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị
bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

III. Thực trạng áp dụng pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Một số khó khăn còn tồn tại và phương hướng hoàn thiện
1. Thực trạng áp dụng pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Cùng với việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người phạm tội quả tang hoặc
đang bị truy nã, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn trong
TTHS, tạm thời tước bỏ một phần quyền bất khả xâm phạm về thân thể và một số
quyền khác của người bị bắt trong một thời gian nhất định, nhằm ngăn chặn tội
phạm tiếp diễn, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho
việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Có thể nói, trong những năm gần đây
việc áp dụng bắt khẩn cấp đã có những tiến bộ rõ rệt. Những trường hợp bắt oan, bắt
sai về thủ tục đã giảm đáng kể. Tỷ lệ bắt và xử lý hình sự đạt kết quả cao hơn thể
hiện sự nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đa số các trường hợp
bắt khẩn cấp đều có căn cứ và đúng pháp luật.
Theo số liệu thống kê của VKSNDTC, trong năm 2008 toàn quốc có 17.791
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; VKS không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là
93 trường hợp. Trong năm 2009 toàn quốc có 16.347 người; VKS không phê chuẩn
lệnh bắt khẩn cấp là 44 trường hợp. Đặc biệt trong năm 2009 vẫn còn 405 trường
hợp bắt khẩn cấp phải trả tự do. Những trường hợp VKS không phê chuẩn đều đã
được cơ quan điều tra trả tự do cho người bị bắt3.
Tuy nhiên, công tác bắt người nói chung và bắt khẩn cấp nói riêng vẫn còn
nhiều vụ việc oan sai gây hậu quả nghiêm trọng, làm xôn xao dư luận quần chúng.
Một trong những sai sót đã xảy ra trong quá trình điều tra là tình trạng cơ quan
điều tra lạm dụng các trường hợp bắt khẩn cấp, đặc biệt là các trường hợp khẩn cấp
được quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 81 BLTTHS; bắt khẩn cấp cả những
trường hợp người phạm tội ra đầu thú hoặc do nghi vấn mời lên, gọi hỏi rồi ra lệnh
Hoàng Thị Minh Sơn, Bảo đảm quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị
tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí luật học số 3/2011.
3

11

thấp (theo các báo cáo của VKSNDTC thì tỉ lệ xử lí về hình sự trong những năm
gần đây chỉ đạt từ 66% đến 72%, số còn lại chỉ xử lí hành chính và các biện pháp
Nguyễn Tiến Đạt, Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam,
Tạp chí Khoa học pháp luật số 3/2006.
4

12


khác)5. Hơn thế nữa, thực tiễn áp dụng còn cho thấy việc xét phê chuẩn bắt khẩn cấp
của một số VKS địa phương còn mang tính thụ động, nể nang đối với cơ quan đã ra
lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến oan sai, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ví dụ: Ngày
24/3/2009, VKSND tỉnh Quảng Ninh đã phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp đối với Phan
Thanh Tùng, sinh ngày 10/10/1994 về hành vi cố ý gây thương tích mặc dù quyết
định bắt này là không có căn cứ. Ngày 27/3/2009 phải trả tự do cho người bị bắt vì
chưa đến tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự (Tội có ý gây thương tích được quy
định tại Khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 là tội ít nghiêm trọng, trong khi theo quy
định tại Khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này: Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa
đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng).
2. Một số khó khăn còn tồn tại và phương hướng hoàn thiện
Phải khẳng định rằng, thực tiễn áp dụng các quy định về bắt người trong trường
hợp khẩn cấp từ khi có BLTTHS 1988 đến nay đã thực sự góp phần nâng cao hiệu
quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, hạn chế những sai sót dẫn tới vi phạm
các quyền cơ bản của công dân. Song, cũng qua thực tiễn áp dụng các biện pháp
ngăn chặn nói chung và áp dụng quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp
nói riêng, có thể thấy các quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp vẫn còn
một số vướng mắc, khó khăn, cụ thể:
Thứ nhất, việc bắt khẩn cấp quy định trong BLTTHS hiện nay vẫn chưa thật rõ

Thứ hai, về thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Ở trường hợp trên tàu bay, tàu biển khi đã rời sân bay, bến cảng nếu theo đúng
quy định khoản 2 Điều 80 BLTTHS thì không thể thực hiện được. Vì trên tàu bay,
tàu biển sẽ không thể nào có được đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến
hành bắt người chứng kiến, hoặc phải đảm bảo được thủ tục như có lệnh, đóng
dấu… thì việc đó rất khó thực hiện. Do vậy, điều luật cần được quy định bổ sung để
mang tính khả thi hơn. Người viết xin đưa ra một giải pháp, đó là: quy định bổ sung
vào khoản 4 Điều 81 với nội dung: “Đối với trường hợp quy định tại điểm b, c
khoản 2 Điều luật này, thẩm quyền để xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là Viện kiểm
sát nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng kí”. Quy định như vậy mới kịp thời ngăn
chặn được hành vi phạm tội, ngăn được được hành vi gây khó khăn, cản trở công tác
điều tra, truy tố và xét xử.
Cũng tại khoản 4 Điều 81 BLTTHS quy định về việc phê chuẩn của Viện kiểm
sát cùng cấp đối với mọi trường hợp bắt khẩn cấp. Quy định nhằm kiểm tra tính
đúng đắn của lệnh bắt bởi lệnh bắt chỉ có giá trị thực sự sau khi đã phê chuẩn; nếu
VKS không phê chuẩn thì người bị bắt được trả tự do. Tuy nhiên, trong điều luật lại
không quy định về thời hạn cần phải báo cho VKS. Vấn đề này liên quan tới Điều
14


83 BLTTHS là trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho
người bị bắt. Nếu cơ quan điều tra để hết 24 giờ mới báo cho VKS đề nghị phê
chuẩn thì sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của người bị bắt. Vì vậy, luật cần có quy định
rõ về thời hạn mà cơ quan điều tra phải báo cho VKS.
Thứ ba, thời hiệu của lệnh bắt khẩn cấp cũng là vấn đề mà nhiều cơ quan tố
tụng ở địa phương gặp vướng mắc do không được quy định trong BLTTHS và chưa
có nghị định, thông tư hướng dẫn. Cụ thể là khi thực hiện lệnh bắt khẩn cấp, đối
tượng bỏ trốn, tài liệu khởi tố bị can chưa đủ nên chưa khởi tố được bị can, một thời
gian sau đối tượng xuất hiện, nếu dùng lệnh bắt khẩn cấp cũ sẽ không được Viện
kiểm sát phê chuẩn. Vì vậy, cơ quan điều tra chỉ có thể triệu tập đối tượng để lấy lời

cạnh đó, cần chú ý tới một số công tác như:
- Nâng cao trình độ pháp luật cho các cán bộ tiến hành tố tụng, thống nhất nhận
thức về việc áp dụng các trường hợp bắt khẩn cấp trong thực tiễn; nâng cao tinh thần
trách nhiệm của các điều tra viên, kiểm sát viên; thực hiện đầy đủ các quy định theo
yêu cầu của BLTTHS; điều quan trọng hiện nay là phải xây dựng quy chế về sự phối
hợp trong hoạt động điều tra và kiểm sát điều tra trong khuôn khổ quy định của
BLTTHS.
- Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra công tác bắt, giam giữ, qua đó phát
hiện những sơ hở, thiếu sót trong quá trình thực hiện; đồng thời xử lí nghiêm minh
các trường hợp vi phạm.
Thực hiện tốt những yêu cầu trên là góp phần nâng cao hiệu quả việc bắt người
nói chung và bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng, hạn chế tình trạng ra
quyết định một cách bừa bãi, dẫn tới tình trạng oan sai, không đảm bảo được quyền
con người khiến nhân dân mất lòng tin vào cơ quan chức năng, coi thường pháp
luật, gây mất ổn định trật tự, kỷ cương của Nhà nước.

KẾT LUẬN
Như vậy, bằng việc tìm hiểu các quy định của BLTTHS về bắt người trong
trường hợp khẩn cấp, ta thấy đây là một trong những biện pháp ngăn chặn hiệu quả
giúp ích cho việc điều tra, giải quyết vụ án hình sự một cách thuận tiện và nhanh
chóng. Tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót. Vì vậy,
bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật cũng cần phải chú ý tới công tác thực thi pháp
luật của các cơ quan, cán bộ có thẩm quyền để thực hiện một cách hiệu quả, phát
huy được vai trò của biện pháp này trên cơ sở các yêu cầu đặt ra.

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status