ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ VĂN KHƯƠNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG KALI ĐẾN
SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG LÚA NÔNG LÂM 7
VỤ MÙA NĂM 2014 TẠI ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Đại học chính quy
Chuyên ngành
: Trồng trọt
Khoa
: Nông học
Khóa học
: 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN - 2015
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Văn Ngọc
THÁI NGUYÊN - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệm này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô
bạn bè và người thân.
Trước tiên, tôi xin cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
giáo TS. Phạm Văn Ngọc đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong
quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Cán bộ giáo viên
khoa Nông học - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè,những người luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày 30/04/2015
Sinh viên
Đỗ Văn Khương
ii
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
K
CV(%)
Ha
Chú giải
Công thức
Hệ số biến động
Hecta
LSD0,5
Giới hạn sai hác nhỏ nhất có ý nghĩa
NSLT
Năng suất lý thuyết
NSC
Ngày sau cấy
NSG
Ngày sau gieo
2.3.2 Lân ........................................................................................................ 7
2.3.3 Kali........................................................................................................ 9
2.4. Tình hình sử dụng phân kali cho lúa hiện nay........................................ 11
Chương 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ............................................................................................................ 15
3.1. Vật liệu thí nghiệm ................................................................................ 15
3.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 15
3.3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu ............................................................. 15
3.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 15
vi
3.4.1. Công thức thí nghiệm: ........................................................................ 15
3.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm............................................................ 16
3.4.3. Quy trình kỹ thuật chăm sóc ............................................................... 16
3.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi .................................................... 18
3.5.1. Các chỉ tiêu đặc trưng hình thái .......................................................... 18
3.5.2. Các chỉ tiêu nông học, sinh lý ............................................................. 20
3.5.3. Tính chống chịu sâu, bệnh .................................................................. 22
3.5.4. Các chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất .................... 24
3.6. Phương pháp xử lý và thống kê số liệu .................................................. 25
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................. 26
4.1. Kết quả đánh giá ảnh hưởng liều lượng phân kali đến đặc điểm sinh
trưởng, phát triển giống Nông lâm 7............................................................. 26
4.1.1. Đặc điểm hình thái giống lúa Nông lâm 7 vụ Mùa 2014 trong thí
nghiệm nghiên cứu về liều lượng kali........................................................... 26
4.1.2. Các chỉ tiêu nông học giống lúa Nông lâm 7 vụ Mùa 2014 trong thí
nghiệm nghiên cứu liều lượng phân kali ....................................................... 29
4.1.3. Động thái và tốc độ ra lá, đẻ nhánh giống Nông lâm 7 vụ Mùa 2014
trong thí nghiệm nghiên cứu liều lượng phân kali ........................................ 32
năng suất cây lúa phụ thuộc phần lớn vào giống và chế độ dinh dưỡng. Trong
các yếu tố dinh dưỡng mà cây cần, phân kali là loại phân ảnh hưởng rất lớn
đến sinh trưởng, phát triển cũng như các yếu tố năng suất của lúa. Phân kali là
rất cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây lúa, giúp cây lúa tăng khả
năng chống chịu với sâu bệnh hại, tăng khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ hạt chắc
trong bông lúa giúp nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế so với các loại phân
khoáng khác.
Thái Nguyên là tỉnh có truyền thống trồng lúa nước lâu đời với bề dày
lịch sử từ lâu đời, con người nơi đây rất dày dặn kinh nghiệm trong việc canh
tác lúa nước. Cùng điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng lúa nước với 4
2
mùa trong năm, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên mới đây đã cho ra đời
giống lúa Nông Lâm 7, hiện tại đang trong quá trình khảo nghiệm đã cho hiệu
quả kinh tế khá cao. Nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng cho
giống lúa Nông Lâm 7 này, đặc biệt là nghiên cứu về phân kali cũng như các
loại phân khoáng khác. Vì vậy, việc nghiên cứu lượng phân kali phù hợp sẽ
có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bón, tăng năng suất,
chất lượng và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân nơi đây và nhân rộng
ra các nơi khác. Với mục đích đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng liêu lượng phân kali đến sinh trưởng và phát triển
giống Nông Lâm 7 vụ mùa 2014 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên’’.
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Xác định được liều lượng kali bón thích hợp cho giống lúa Nông Lâm
7 vụ Mùa 2014 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá ảnh hưởng các liều lượng kali đến sinh trưởng, phát triển
nhưng chỉ đạt 64,73 % so với năng suất lúa bình quân của Mỹ.
Những nước có sản lượng lúa nhiều nhất thế giới năm 2013 là Trung
Quốc 203,29 triệu tấn; Ấn Độ 159,20 triệu tấn; Indonesia 71,28 triệu tấn;
Bangladesh 51,50 triệu tấn; Việt Nam 44,07 triệu tấn; Thái Lan 38,78 triệu
tấn và Myanmar 28,00 triệu tấn.
Theo số liệu thống kê của FAO về thương mại gạo thế giới năm 2013
duy trì ở mức 37,5 triệu tấn. Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam
(VFA) Năm nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới năm 2013 là Ấn Độ 9,61
triệu tấn, Thái lan 6,79 triệu tấn, Việt Nam 6,74 triệu tấn, Pakistan 3,41 triệu
tấn, Mỹ 3,37 triệu tấn.
4
2.1.2. Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Năm 1987 sau đổi mới, diện tích đất trồng lúa của nước ta chỉ là 5,60
triệu ha. Sau 20 năm Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO năm 2007
diện tích đất trồng lúa là 7,30 triệu ha và không ngừng mở rộng diện tích, đến
năm 2013 diện tích đất trồng lúa của nước ta đã là 7,89 triệu ha, tăng thêm
2,29 triệu ha so với năm 1987.
Qua 20 năm qua (1987 - 2007) năng suất từ 2,69 tấn/ha năm 1987 tăng
lên 4,89 tấn/ha năm 2007 và tăng không ngừng lên 5,63 tấn/ha năm 2012,
đến năm 2013 có giảm xuống còn 5,58 tấn/ha. Nhưng qua hơn 20 năm
năng suất lúa của Việt Nam đã tăng lên đáng kể và là 1 trong những nước
trên thế giới có năng suất lúa cao nhất và là 1 trong những nước xuất khẩu
gạo nhiều nhất.
2.2. Nghiên cứu về hình thái, đặc điểm sinh học và các thời kỳ sinh
trưởng phát triển của cây lúa
Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm cho đến khi lúa chín có thể
chia làm ba giai đoạn chính: Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng),
được vận chuyển vào trong hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là quang
hợp ở giai đoạn sau khi trỗ. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh
trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trỗ trở đi hết sức
quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa. Kích thước và trọng
lượng hạt gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu. Bông lúa nặng cong xuống. Hạt gạo
chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ ngậm sữa.
- Thời kỳ chín sáp: Hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, vỏ trấu vẫn còn xanh.
- Thời kỳ chín vàng: Hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trâu chuyển
sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng của chót
bông lan dần xuống các hạt từ phần cổ bông nên gọi là ‘‘lúa đỏ đuôi’’, lá già
lụi dần.
6
- Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ khoảng 20% hoặc
thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần. Thời điểm
thu hoạch tốt nhất là khi hạt lúa ngả sang màu trấu đặc trưng của giống. [4]
2.3. Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa
Cây lúa cũng như các loại cây trồng khác đều có nhu cầu dinh dưỡng để
sinh trưởng và phát triển. Các yếu tố dinh dưỡng như đạm, lân, kali cần thiết
cho cây lúa trong toàn bộ đời sống của nó, số lượng chênh lệch nhau tương
đối nhiều tuỳ thuộc vào giống, đất đai, khí hậu, chế độ canh tác và cách bón
phân. Khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất là nhân tố quyết định việc
cần bón nguyên tố nào, số lượng bao nhiêu cho cây. Những năm gần đây do
diện tích sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, các biện pháp canh tác chưa hợp
lý nên đã dẫn đến hiện tượng rửa trôi, xói mòn đất làm giảm độ màu mỡ của
đất nhanh chóng, đặc biệt là ở vùng đồi núi. Do vậy để đảm bảo năng suất
lúa cần phải hiểu rõ tính chất của đất cũng như của giống lúa. Hiện nay nhờ
thành tựu ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác chọn lọc và chọn tạo
Còn Nguyễn Như Hà năm 2006 cũng cho rằng: Đạm có vai trò quan
trọng trong việc phát triển bộ rễ, thân, lá, chiều cao và đẻ nhánh của cây lúa.
Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa đẻ nhánh nhanh lại tập
trung, tạo được nhiều dảnh hữu hiệu, là yếu tố cấu thành năng suất có vai trò
quan trọng nhất đối với năng suất lúa. Đạm còn có vai trò quan trọng trong
việc hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác: Số hạt trên
bông, trọng lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc. Đạm còn làm tăng hàm lượng
protein trong gạo nên làm tăng chất lượng gạo. Lượng đạm cần thiết để tạo ra
1 tấn thóc từ 17 đến 25 kgN, trung bình cần 22,2 kgN. Ở các mức năng suất
cao, lượng đạm cần thiết để tạo ra một tấn thóc càng cao [16].
2.3.2 Lân
Theo Lê Văn Căn năm 1964 cho rằng: lân là một trong những chất cần
thiết cho quá trình trao đổi chất của cây, lân có mặt trong các chất hữu cơ
quan trọng nhất đối với cây [5]. Các hợp chất này ảnh hưởng trực tiếp đến sự
8
phân chia tế bào qua quá trình trao đổi chất béo, protein cụ thể là
Glyxerophotphat, ATP, ADN, ARN, có vai trò quan trọng trong quá trình
quang hợp và hô hấp của cây. Lân làm tăng khả năng hút đạm cho cây và hấp
phụ Fe làm giảm nồng độ Fe trong đất, có thể làm giảm nồng độ độc trong
đất. Trong thời kỳ chín của cây lúa, hàm lượng lân vô cơ giảm nhanh và hoạt
động của enzym photphorilaza tăng đến 16 ngày sau khi thụ tinh của hạt sau
đó giảm xuống. Từ đó ta có thể thấy lân là một thành phần dinh dưỡng rất cần
thiết đối với cây trồng [37]
Theo Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Ngọc Nông, Võ Đình Quang trong các
năm từ 1992 đến 1999 cho rằng: lân là thành phần chủ yếu của acid nucleic,
là chất chủ yếu của nhân tế bào, trong vật chất khô của cây có chứa hàm
lượng lân từ 0,1 - 0,5%. Lân có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp
chuyển của các chất đồng hoá và gluxit trong cây vì vậy nếu lúa thiếu kali thì
hàm lượng tinh bột trong hạt sẽ giảm, hàm lượng đạm sẽ tăng. Trong điều
kiện thời tiết xấu, trời âm u, ánh sáng yếu thì kali có vai trò như ánh sáng mặt
trời, xúc tiến sự hình thành gluxit, cho nên để chống rét cho mạ xuân ở miền
Bắc người ta thường bón một lượng kali. Ngoài những vai trò như trên, kali
còn cần thiết cho sự tổng hợp protein, có quan hệ mật thiết với quá trình phân
chia tế bào, cho nên ở gần đỉnh sinh trưởng của cây hàm lượng kali tương đối
nhiều. Kali còn làm cho sự di động của sắt trong cây tốt hơn do đó ảnh hưởng
gián tiếp đến quá trình hô hấp của cây [27].
Theo quan điểm của Koyama năm 1981: Kali xúc tiến tổng hợp đạm
trong cây. Thiếu kali cây lúa dễ bị bệnh tiêm lửa, đạo ôn, thối rễ, bạc lá, thân
cây yếu dễ bị đổ. Lúa được bón đầy đủ kali, lá chuyển màu xanh vàng, lá dài
hơn và trỗ sớm hơn 2 - 3 ngày. Kali có tác dụng làm tăng số nhánh hữu hiệu,
tăng chiều cao cây, bông dài hơn và phẩm chất hạt tốt hơn [36].
Theo Nguyễn Như Hà năm 2006 thì cho rằng: Kali có ảnh hưởng rõ đến
sự phân chia tế bào và phát triển của bộ rễ lúa trong điều kiện ngập nước nên
10
có ảnh hưởng rõ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Kali có ảnh
hưởng lớn đến quá trình quang hợp, tổng hợp các chất gluxit, ngoài ra còn
tham gia vào quá trình tổng hợp protein ở trong cây lúa, nhất là trong điều
kiện ánh sáng yếu. Ngoài ra còn ảnh hưởng tới các yếu tố cấu thành năng suất
như: số hạt, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt. Vì vậy, kali là yếu tố dinh
dưỡng có ảnh hưởng rõ tới năng suất và chất lượng lúa. Kali còn thúc đẩy
hình thành lignin, xelulo làm cho cây cứng cáp hơn, chống đổ và chống chịu
sâu bệnh tốt hơn. Cây lúa thiếu kali ít ảnh hưởng đến đẻ nhánh nhưng làm cây
lúa thấp, phiến lá hẹp, mềm yếu và rũ xuống, hàm lượng diệp lục thấp, màu
xanh tốt. Khi thiếu kali, mặt phiến lá của những lá phía dưới có những đốm
phân bón, còn lại bị trôi theo nước, bốc hơi và tồn dư trong đất.[ 11]
2.4. Tình hình sử dụng phân kali cho lúa hiện nay
Hiện nay trên thế giới chủ yếu sử dụng phân đạm, kali, lân cho sự phát
triển của. Ngoài ra còn sử dụng thêm phân hữu cơ khác như: phân vi sinh,
phân chuồng…
Kali là 1 trong các yếu tố dinh dưỡng đa lượng giúp cây trồng sinh
trưởng và phát triển, kiến tạo năng suất,nâng cao chất lượng nông sản sau thu
hoạch. Hiệu lực trung bình của kali đối với cây lúa đạt 4,6-5,5 kg thóc/ kg
phân kali (đối với ĐBSCL). Hiện nay ở Việt Nam, bón phân kali đã cho mùa
màng bội thu, có trường hợp vượt cả đạm và lân. Theo kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Văn Bộ cho thấy: Bội thu do có đạm và lân trên đất phù sa là 11,7
tạ/ha trên đất bạc màu với lượng tương tự chỉ cho 1,2 tạ/ha. Nguyên nhân ở
đây là do trong đất phù sa giàu kali, cây trồng khi đã đủ đạm và lân tự cân đối
nhu cầu về kali trong đất nên có bón thêm kali bội thu không cao. Ngược lại
trên đất bạc màu dự trữ kali ít nếu không bổ sung kali từ phân bón thì cây
trồng không sử dụng đạm được dẫn đến năng suất thấp. Từ kết quả trên ông
đưa ra khuyến cáo, trên đất phù sa nếu bón dưới 150 N + 4 tấn phân chuồng
thì bón kali không có hiệu quả, xong nếu lượng bón trên 12 kg đạm/sào Bắc
12
Bộ thì nhất thiết phải bón kali. Trên đất bạc màu, nếu không bón kali chỉ nên
bón tối đa 7 - 9 kg đạm/sào Bắc Bộ.
Võ Minh Kha (1966) khi nghiên cứu quan hệ giữa năng suất với lượng
kali bón cho thấy: hiệu lực của kali còn phụ thuộc rất lớn vào năng suất, trên
đất phù sa sông Hồng khi năng suất dưới 2,5 tấn/ha hiệu lực của kali thường
không rõ; năng suất từ 2,5 - 4,5 tấn/ha, bón 20 - 30 kg K2O có hiệu lực rõ;
năng suất lớn hơn 4,5 tấn/ha nhất thiết phải bón kali.
Theo Võ Minh Kha (1966) trên ruộng lúa năng suất 8 tấn/ha số lượng
kali năng suất đạt 62,0 tạ/ha. Khi bón ở mức 90 - 120 K2O/ha năng suất đạt
73 - 73,5 tạ/ha.
Nguyễn Như Hà năm 1998 đưa ra kết luận: khi năng suất lúa vượt trên 5
tấn/ha (vụ mùa) và trên 6 tấn/ha (vụ xuân), lượng kali cây hút vượt quá khả năng
tối đa của đất có thể cung cấp, nhất thiết phải bón kali sẽ có hiệu quả cao [15].
Trên cơ sở thực tế sản xuất đã có nhiều khuyến cáo về mức bón phân
kali cho lúa. Ở Việt Nam liều lượng phân kali khuyến cáo sử dụng cho lúa ở
đồng bằng sông Hồng còn chưa được thống nhất, thường dao động từ 60 120 K2O/ha đối với lúa thường, 90 - 120 K2O /ha đối với lúa lai, tùy theo mức
độ đạm bón và lượng phân chuồng được sử dụng (Bùi Đình Dinh 1993,
Nguyễn Văn Bộ 2000, Võ Minh Kha 1966). Như vậy muốn tăng năng suất
cây trồng, đặc biệt là cây lúa thì cần phải có một lượng phân bón thích hợp
trên từng loại đất. Phải biết phối hợp cân đối giữa các loại phân bón mới cho
hiệu quả kinh tế cao nhất.
Như ở 1 số nước trong khu vực Châu Á phải nhập khẩu toàn bộ lượng
phân bón kali để đáp ứng nhu cầu phục vụ trong nước. Nhu cầu tiêu thụ phân
kali của Châu Á đang tăng nhanh, năm 2013 có khả năng vượt quá 6,96 triệu
tấn (tính theo K2O, chiếm 31,1% tổng nhu cầu trên thế giới (22,35 triệu tấn).
Dự đoán 5 năm tới tiêu thụ phân kali ở Châu Á sẽ tăng 18%/năm, lên đến
8,23 triệu tấn K2O/năm. Đây là tỷ lệ tăng nhanh nhất so với các khu vực khác.
14
Trong cùng thời gian tiêu thụ phân kali trên thế giới dự đoán sẽ chỉ tăng 11%
lên đến 24,72 triệu tấn K2O. Ảnh hưởng của Châu Á đối với thị trường thế
giới sẽ tăng vì mức tiêu thụ của Châu Á chiếm 1/3 mức tiêu thụ của thế giới.
Hiện nay ở Việt Nam nhu cầu tiêu thụ phân kali cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp mỗi năm khoảng 1 triệu tấn nhưng trên thực tế lượng phân kali
được sử dụng chỉ khoảng 700.000-800.000 tấn/năm. Riêng vụ hè thu 2009,
nhu cầu sử dụng kali khoảng 300.000 tấn nhưng lượng thực tế tồn trong nước
+ CT3(K3): 100N+80P2O5+100K2O.
- Cách bón: Bón lót toàn bộ phân NTT + toàn bộ phân lân. Phân đạm và
kali bón theo thời điểm và nhóm giống như bảng sau:
16
Tỷ lệ lượng phân bón (%)
Thời điểm
N
K2O
Bón lót trước khi cấy
50
30
Thúc 1 khi lúa bén rễ hồi xanh
30
40
Thúc 2 trước trỗ 20-25 ngày
20
K2
K1
Nhắc lại 3
3.4.3. Quy trình kỹ thuật chăm sóc
3.4.3.1. Ngâm, ủ và làm mạ
Ngâm, ủ, xử lý hạt giống: Hạt giống được phơi dưới nắng nhẹ 6 - 8 giờ
để xúc tiến sự hút nước của hạt và hoạt động của các men nhằm tăng khả
năng nảy mầm. Lọc hạt giống để loại bỏ lép lửng, xử lý tiêu độc ngâm hạt
trong nước nóng 540C trong 10 phút. Hạt giống sau khi xử lý thì đem ngâm ủ.
17
Ngâm trong nước sạch 2 ngày đêm ( 48 giờ). Ngâm hạt 24 - 30 giờ, thường
xuyên thay nước rửa chua ( 6 - 8 giờ/1 lần) sau đó đãi thật sạch kết hợp loại
bỏ hạt lép lửng một lần nữa để ráo nước rồi mang đi ủ. Ủ hạt trong bao nơi
kín gió, phía trên có thể phủ bao hoặc rơm rạ. Kiểm tra thấy mầm dài 1/3 hạt
lúa, rễ dài bằng hạt lúa thì đem gieo.
Mạ được gieo trên khay với giá thể 2kg (than bùn + phân NTT)
Chăm sóc mạ gieo: Mạ sau gieo được che phủ bạt kín 12 tiếng, vận
chuyển mạ khay đặt trên nền ruộng được trang phẳng có mực nước thích hợp,
thuận tiện cho việc tưới tiêu mạ và cấy sau này.
Tiêu chuẩn mạ tốt: Cứng cây, khỏe, tỷ lệ bẹ / lá cao, đanh dảnh, rễ tốt,
không bị nhiễm các loại sâu bệnh.
3.4.3.2. Làm đất
Đất ở ruộng thí nghiệm được cày, bừa kỹ, sạch cỏ dại, ruộng cần nhão