VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ ÁNH TUYẾT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ ÁNH TUYẾT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách bảo
tồn và phát triển DSVH thế giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là kết quả của quá
trình học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân với sự hướng dẫn tận tình của
GS.TS Lê Hồng Lý - người hướng dẫn khoa học. Các số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận văn là trung thực. Tác giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu
của mình.
Học viên
Phan Thị Ánh Tuyết
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH BẢO
TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI .......................... 7
1.1. Hệ thống các khái niệm ........................................................................... 7
1.2. Các quan điểm trong bảo tồn và phát triển di sản văn hóa thế giới......... 11
1.3. Nội dung chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa ...................... 12
1.4. Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa ...... 14
1.5. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát
triển di sản văn hóa ...................................................................................... 19
1.6. Ý nghĩa và yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn
và phát triển di sản văn hóa ........................................................................... 23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI Ở TỈNH QUẢNG
NAM ............................................................................................................ 27
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam và tình hình
các di sản văn hóa thế giới............................................................................ 27
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
JICA
The Japan International Cooperation Agency
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
UBND
Uỷ ban nhân dân
UNESCO
United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là
tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH
nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”.
Trong nền văn hóa Việt Nam, DSVH thể hiện một vị thế hết sức quan trọng. Qua
DSVH, chúng ta có thể nắm bắt, hiểu biết lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc,
là nơi lưu giữ những nét độc đáo, những giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc. DSVH
không chỉ chứa đựng vốn kinh nghiệm, tri thức mà còn mang theo những chuẩn
mực về cái chân, thiện, mỹ. Nó hiện diện thông qua các biểu tượng văn hóa phong
bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Quảng Nam cũng như các địa phương khác trong cả nước cũng không tránh
khỏi những tác động trên. Thông qua việc giao lưu và hợp tác quốc tế, DSVH ở tỉnh
Quảng Nam được nhiều người biết đến. Bằng con đường này, vấn đề hợp tác về
kinh tế và chính trị cũng nhờ thế mà dễ dàng hơn. Tuy nhiên bên cạnh việc làm cho
thế giới trở nên lung linh hơn, đa sắc hơn thì quá trình toàn cầu hóa cũng có thể dần
san bằng những DSVH, làm phai nhạt dần những bản sắc riêng. Chính vì vậy, việc
bảo tồn và phát huy giá trị của các DSVH, nhất là những di sản được công nhận là
DSVH thế giới đang là một vấn đề rất bức thiết, đòi hỏi cần có và thực hiện tốt các
chính sách về bảo tồn và phát triển, đảm bảo theo hướng bền vững.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế nêu trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện
chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm
Luận văn Thạc sĩ Chính sách công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhận thức được những giá trị và vai trò của DSVH thế giới trong thời gian
qua, nhiều cá nhân cũng như các tổ chức đã có những công trình nghiên cứu, bài
báo dưới nhiều góc độ về DSVH. Có thể kể đến như:
Tập sách ảnh DSVH Hội An - nhìn lại một chặng đường do Trung tâm quản
lý bảo tồn di tích Hội An biên soạn đã khái quát về chặng đường khó khăn, thuận
lợi, những thành quả đạt được trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn và phát huy DSVH
2
Hội An hay như cuốn sách Tác động - Hội An được biên soạn bởi đội ngũ chuyên
gia có kinh nghiệm của UNESCO và Trung tâm quản lý bảo tồn di tích Hội An vào
năm 2013 đã phản ánh bức tranh sinh động về những áp lực, cảnh báo những nguy
cơ đối với di sản này.
Cũng trong năm 2013 Văn phòng UNESCO Hà Nội phối hợp Ban quản lý di
tích và du lịch Mỹ Sơn (Nay là Ban quản lý DSVH Mỹ Sơn) xuất bản cuốn sách Di
triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam” do Viện Sinh thái và Bảo vệ
công trình chủ trì vào tháng 8/2016. Hội thảo đã nghiên cứu để xây dựng bộ tiêu chí
đánh giá mô hình cụ thể và những sản phẩm thụ hưởng để đơn vị sở tại tiếp quản áp
dụng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích.
Những nghiên cứu trên đã góp phần cung cấp khung lý thuyết về thực hiện
chính sách bảo tồn và phát triển DSVH, gợi mở những phương hướng xây dựng
những giải pháp nhưng chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về việc thực
hiện chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới ở tỉnh Quảng Nam và đề xuất
những giải pháp cần thiết cho thời gian sắp tới. Tuy nhiên, những công trình nghiên
cứu trên đã cung cấp những gợi ý cần thiết cho tôi trong việc triển khai luận văn
này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển DSVH nói chung, từ việc phân
tích tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới từ thực tiễn
tỉnh Quảng Nam, luận văn sẽ đưa ra những ý kiến và giải pháp góp phần hoàn thiện
chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới ở tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được
xác định là:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, lý thuyết về chính sách công và vận dụng vào đối
tượng nghiên cứu của đề tài.
- Vận dụng lý thuyết chính sách công để phân tích và đánh giá thực trạng
thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam.
- Đưa ra các giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn
4
Commented [hl1]: Từ việc phân tích
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số
5
liệu của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề
ra các quyết định.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, vận dụng các
lý thuyết về chính sách công và nghiên cứu một chính sách chuyên ngành cụ thể.
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan đến chính
sách công, từ đó hình thành các quá trình đề xuất các giải pháp chính sách nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thực hiện chính sách đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, rút ra bài học
kinh nghiệm từ thực tiễn về thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển các giá trị của
DSVH thế giới trên địa bàn một số tỉnh, thành phố của Việt Nam.
- Cung cấp thông tin thực tiễn và đề xuất những giải pháp tham khảo đối với
các nhà quản lý về thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển các giá trị của DSVH
thế giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm
3 chương:
Chương 1. Cở sở lý luận chung về chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn
hóa thế giới.
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn
hóa thế giới ở tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Một số giải pháp tăng cường thực hiện sách bảo tồn và phát triển
di sản văn hóa thế giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
DSVH vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao
gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
DSVH phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền
7
nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ
viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng
dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức
về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc
và những tri thức dân gian khác.
- Các tiêu chí để đưa các di sản văn hoá vào danh sách các di sản thế giới:
Một di sản, một quần thể các công trình xây dựng hoặc di chỉ theo định nghĩa
trên được đề cử vào danh sách các di sản thế giới sẽ được xem là có giá trị nổi bật
toàn cầu theo tôn chỉ mục đích của công ước khi Uỷ ban Di sản thế giới nhận thấy
rằng nó có thể đáp ứng một hoặc nhiều hơn các tiêu chuẩn dưới đây và đáp ứng
được việc kiểm tra tính chân xác. Do đó, mỗi di sản được đề cử cần phải:
(1) Là một kiệt tác về tài năng sáng tạo của con người, hoặc
(2) thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong
một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các
bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô
thị hoặc thiết kế cảnh quan, hoặc
(3) là một bằng chứng độc đáo, hoặc ít nhất cũng là một bằng ngoại hạng về
một truyền thống văn hoá hoặc một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất,
hoặc
(4) là một ví dụ nổi bật về một kiểu nhà hoặc một thể kiến trúc, hoặc công
nghệ hoặc một cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong
lịch sử nhân loại, hoặc
(5) là một ví dụ nổi bật về một kiểu định cư truyền thống của con người hoặc
và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả
bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích
không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ” [16].
Phát triển DSVH là hành động của chủ thể lãnh đạo và quản lý tập trung sự
chú ý của công chúng một cách tích cực tới DSVH đó, làm cho đông đảo người biết
đến giá trị của di sản bằng cách truyền đạt trực tiếp hoặc thông qua một hình thức
nào đó.
Phát triển DSVH ở đây có thể hiểu là mang những giá trị tích cực, có ích cho
thời đại, sử dụng hiệu quả các giá trị vốn có của di sản, coi đó như là nguồn nội lực,
9
tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và
tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của
xã hội.
Bảo tồn và phát triển là hai mặt hoạt động, phải có sự tương hỗ với nhau. Có
thể hiểu bảo tồn là để phát triển cũng nhằm tạo khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh,
kinh tế phát triển tốt sẽ tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật để bảo tồn DSVH tốt hơn.
Vấn đề quan trọng là tạo ra sự cân bằng hợp lý giữa bảo tồn và phát triển.
1.1.3. Chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để
thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất
định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của
chính sách tùy thuộc vào đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” [29, tr.
475].
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm
để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện
trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Như vậy, có thể hiểu chính
DSVH thế giới là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm
Commented [WU3]: Khái niệm chính sách bảo tồn và phát
triển DSVH thế giới là do chính em suy từ khái niệm CSC do
thầy Hải đưa ra ạ. Như vậy T có thể ghi rõ là từ những ý kiến
trên, theo chúng tôi hoặc chúng tôi sẽ sử dụng csc là…
lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn
đề về bảo tồn và phát triển DSVH thế giới theo một mục tiêu tổng thể đã xác định.
1.1.4. Thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa thế giới
Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách,
được tiến hành ngay sau khi chính sách được ban hành. Theo PGS. TS Nguyễn Hữu
Hải, ông cho rằng tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình hoạt động của
các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách
công một cách có hiệu quả. Thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước
trong chu trình chính sách thành một hệ thống. Việc đưa chính sách vào thực tiễn
cuộc sống là một quá trình phức tạp và có nhiều biến động, chịu sự tác động của
nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh
nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách.
1.2. Các quan điểm trong bảo tồn và phát triển di sản văn hóa thế giới
Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ
11
Commented [hl4]: Định nghĩa này của Tuyết hay của ai.
Nếu trích phải ghi cho rõ.
Văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa thể thao và du lịch) phê duyệt Quy hoạch
tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 78/QĐ-TTg ngày
12/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch đầu tư tổng thể bảo tồn,
tôn tạo và phát huy giá trị DSVH thế giới đô thị cổ Hội An gắn với phát triển thành
phố Hội An và du lịch giai đoạn 2012-2025; Quyết định số 1915/QĐ-TTg ngày
30/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát
huy giá trị Khu di sản Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2008-2020; Quyết định số
28/2010/QĐ-UBND ngày 26/11/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban
hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản và danh thắng trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam, thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới
gồm các nội dung sau:
- Xây dựng và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn và phát
triển DSVH, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu bảo tồn
các DSVH tiêu biểu.
- Khen thưởng tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy
giá trị DSVH; xét tặng danh hiệu vinh dự nhà nước và thực hiện các chính sách ưu
đãi về tinh thần và vật chất đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến
nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực bảo vệ và
phát huy giá trị DSVH.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước
ngoài đóng góp về tinh thần và vật chất hoặc trực tiếp tham gia các hoạt động bảo
vệ và phát huy giá trị DSVH.
- Mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy
giá trị DSVH; xây dựng và thực hiện các dự án hợp tác quốc tế theo quy định của
pháp luật.
- Nghiên cứu áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào các hoạt động tu bổ,
chống xuống cấp di sản; tôn tạo di sản và sử dụng, khai thác di sản.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo
liên quan đến việc bảo tồn và phát triển di sản.
gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính
sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách. Qua đó
14
Commented [hl5]: Bảy bước này lấy từ đâu ra? Có chính
xác là như vậy không? Nếu trích từ đâu thì ghi rõ nguồn.
để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước. Đồng thời còn giúp cho
mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận nhận thức được đầy đủ
tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực
tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển
khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao. Để tham
gia quá trình phổ biến, tuyên truyền chính sách là sự tham gia của các nhân tố, gồm:
- Chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách: phải được đào tạo, có đủ trình
độ, kinh nghiệm, kỹ năng trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách và chuyên
môn nghiệp vụ. Chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách phải có thái độ công tâm,
khách quan để chính sách được phổ biến, tuyên truyền bảo đảm tính trung thực
những nội dung đã được hoạch định.
- Phương tiện và cách thức tuyên truyền: mở các lớp tập huấn tập trung để
quán triệt nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực
hiện chính sách; tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tấn,
báo chí để họ tuyên truyền, xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực
hiện chính sách gửi cho các cơ quan đơn vị và mọi cá nhân có liên quan. Ngoài ra,
cũng có thể gửi đăng tải chính sách bảo tồn và phát triển DSVH trên các báo, tạp chí
của ngành, của cơ quan và các trang thông tin điện tử mọi người đều được biết. Việc
phổ biến, tuyên truyền chính sách cũng phải đảm bảo chính xác, đơn giản, cụ thể, dễ
hiểu, dễ thực hiện.
- Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách chính sách bảo tồn và
suốt về thông tin trong quá trình thực hiện, triển khai, duy trì chính sách; đảm bảo
sự thống nhất giữa việc kiên trì mục tiêu chính sách với việc sáng tạo trong khi sử
dụng các biện pháp, hình thức, chương trình hành động cụ thể thích hợp với điều
kiện cụ thể của địa phương, ngành.
- Bước 5: Điều chỉnh chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới
Trong quá trình thực hiện chính sách nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế
thay đổi, do chính sách còn những bất cập, hạn chế, chính sách không sát và không
phù hợp với thực tiễn cần có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu, mục
tiêu và phù hợp với tình hình thực tế. Điều chỉnh các giải pháp, biện pháp, cơ chế
chính sách để chính sách được thực hiện có hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục
16
tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách này coi như thất bại. Thẩm
quyền điều chỉnh bổ sung chính sách phát triển viên chức thuộc thẩm quyền của các
cơ quan, tổ chức ban hành chính sách này nhưng việc điều chỉnh các biện pháp, các
cơ chế thực hiện chính sách diễn ra linh hoạt, chủ động.
Điều chỉnh chính sách hợp lý đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện
chính sách cần phải có năng lực và kiến thức, kỹ năng đề xuất các giải pháp, biện
pháp, cơ chế chính sách để chính sách được thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục
tiêu chính sách đề ra. Chủ thể thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế
giới phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ, đồng thời phải có kiến thức,
kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra
trong thực hiện chính sách để có cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp,
biện pháp và cơ chế chính sách. Đồng thời, phải đề cao trách nhiệm trong tham mưu
điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách, phải tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh
chính sách.
- Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và phát
triển DSVH thế giới
định, thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan.
Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành thực hiện của các
cơ quan chủ trì thực hiện chính sách, còn phải xem xét, đánh giá kết quả thực hiện
của đối tượng thụ hưởng gián tiếp của chính sách. Thước đo, căn cứ để đánh giá kết
quả thực hiện kết quả thưc hiện cung cấp dịch vụ công, sự hài long của người dân
khi sử dụng dịch vụ và tác động của nó đến đời sống xã hội.
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách công nói chung và
chính sách bảo tồn và phát triển DSVH thế giới nói riêng là công việc khó, phức tạp
trong quá trình thực hiện chính sách. Nó đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong
và ngoài ngành và chủ thể đánh giá phải có trình độ năng lực, kiến thức và kỹ năng
nhất định để tìm ra được những điểm hay, điểm tốt để phát huy, và phải có trách
nhiệm, ý thức phê bình, đấu tranh nghiêm túc mới có thể thẳng thắn chỉ ra được
những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện để có những chấn chỉnh phù hợp.
18