I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài, sáng kiến giải pháp
Là “Thầy dạy của cuộc sống”, là “Tấm gương soi của muôn đời”, bộ môn Lịch
sử trong nhà trường phổ thông làm cho thế hệ trẻ hiểu được cội nguồn dân tộc, quá
trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta từ xa xưa. Từ đó nâng cao tư tưởng sự
hiểu biết, kế thừa truyền thống tốt đẹp của cha ông, với lòng tự hào dân tộc, để phát
huy tài năng và trí tuệ phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nứơc trong thời
bình hiện nay. Đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với một dân
tộc, đặc biết là những con người làm công tác giáo dục.
Hiện nay, giáo viên đã từng bước áp dụng rất nhiều phương pháp dạy học như
khai thác kênh hình, sử dụng bản đồ tư duy…..nhưng hầu hết đều không đạt hiệu quả
cao trong giờ học. Thực trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa đó là hầu hết học
sinh đều không mặn mà với bộ môn Lịch sử, nói cách khác là học sinh không có
hứng thú học tập môn này.
Vậy, làm thế nào nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử, kích thích sự hứng
thú học Lịch sử cho học sinh là câu hỏi lớn khiến bản thân tôi – giáo viên dạy Lịch sử
cứ mãi trăn trở.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử, bản thân tôi đã tìm mọi giải pháp để
kích thích học sinh tìm đến với bộ môn nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng môn
Lịch sử nói chung. Từ đó, mà tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu
quả đổi mới phương pháp dạy học trong môn lịch sử ở trường THCS” để góp phần
nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học môn Lịch sử.
2. Điểm mới của đề tài:
Rèn cho học sinh cách học theo các phương pháp mới, học sinh sẽ được làm
chủ kiến thức, tự giải quyết các vấn đề trong chương trình học, khắc phục tình trạng
học sinh không thích học lịch sử, làm thay đổi nhận thức trong học sinh.
Nâng cao các kỹ năng phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề, biết vận dụng kiến
thức lịch sử vào cuộc sống một cách dễ dàng. Chính vì thế mà làm thay đổi cách nhìn
nhận của phụ huynh về môn Lịch sử.
Là nguồn tư liệu để giáo viên sử dụng các giải pháp đổi mới phương pháp dạy
học có hiệu quả nhất, giúp giáo viên trau dồi thêm các kỹ năng để điều khiển tốt một
sử dụng công nghệ thông tin, thì giáo viên trình chiếu tất cả các kiến thức dẫn đến
học sinh thụ động trong việc tiếp nhận tri thức.Từ đó nảy sinh tâm lý chán họcmôn
Lịch sử.Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạy- học Lịch sử
còn thấp so với các môn khác.
Sau đây là bảng khảo sát việc giáo viên ngại áp dụng phương pháp mới, lo dạy xong
kiến thức, chỉ chú ý đối tượng học sinh Khá, Giỏi, bỏ qua đối tượng học sinh Yếu để
chứng minh cho những điều tôi phân tích ở trên:
BẢNG
KHẢO SÁT MINH CHỨNG VIỆC GIÁO VIÊN NGẠI ÁP DỤNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MỚI TRONG MÔN LỊCH SỬ
N.dung Sử dụng PPDH/tiết
GV
1
2
3
4
GV 1
x
GV 2
GV 3
-
-
-
-
K.thứ
c
x
x
x
T.gian
x
x
(Trong đó x có sử dụng, - không sử dụng)
2
* Về phía học sinh
Đã qua nhiều năm thực hiện đổi mới, nhìn chung đại đa số học sinh đã tiếp cận
được với nội dung, kiến thức, chương trình và phương pháp dạy học mới, song quá
trình tiếp thu của học sinh chưa đồng đều, chưa linh hoạt trong quá trình hoạt động
của mình, việc tiếp cận với phương pháp dạy học mới và thiết bị dạy học mới đối với
một số học sinh còn khó khăn do đó kết quả tiếp thu của học sinh chưa đạt kết quả
cao.
Bên cạnh đó. nhiều học sinh coi môn Lịch sử là “môn phụ” vì vậy các em ít
chú ý nghe giảng; các em ghi chép một cách máy móc những gì giáo viên ghi trên
bảng và chỉ học thuộc lòng những gì ghi trong vở thậm chí là không học bài chứ chưa
nói đến việc kết hợp với SGK để giải quyết các câu hỏi trong sách. Từ đó lại càng
không biết phát hiện những vấn đề cần được giải quyết. Từ chỗ lười suy nghĩ, không
biết phân tích vấn đề, nên càng không biết nêu vấn đề để thảo luận bàn bạc dẫn đến
việc chán chê, bỏ bê. Và đây là nguyên nhân thứ hai trong nhiều nguyên nhân dẫn
10,5
12
31,6
18
47,4
4
10,5
8
42
3
7,1
12
28,6
25
59,5
2
4,8
9
30
3
10
10
33,3
15
50
2
6,7
* Về cơ sở vật chất phục vụ dạy học:
Trong những năm gần đây, do yêu cầu của đổi mới sự nghiệp giáo dục, CSVC
của nhà trường được tăng trưởng mạnh. Song ở một số trường phương tiện dạy học
dân tộc,
tổ tiên
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL %
137
25
18,2
25
18,2
60
43,
8
22
16,1
47,4
10
7,3
T.Anh
25
18,2
45
32,8
55
40,1
12
8,8
Ngữ văn
25
18,2
41
29,9
59
43,1
12
8,8
Lịch sử
10
7,3
38
27,7
75
54,7
14
10,3
52
34,0
34,0
35,4
65
58
59
44,2
39,45
40,1
10
12
10
6,8
8,2
6,8
10,
Lịch sử
15
10,2
42
28,6
75
51,0
15
giáo viên. Đó là nâng cao hiệu quả giờ dạy đồng thời đánh giá chính xác quá trình
học tập của học sinh. Kể cả khi không cần thiết phải thiết kế giáo án trên giấy thì 8
bước đó cũng sẽ luôn nhắc nhở chúng ta nhằm đạt hiệu quả tốt nhất trong công việc
giảng dạy hàng ngày.
Vấn đề 1. Mục tiêu bài dạy
Trong mỗi một giờ lên lớp hãy đề ra mục tiêu mà cả lớp phải hoàn thành. Và
dù chúng ta có tiến hành hoạt động nào hay tổ chức trò chơi gì cho giờ học thêm sôi
nổi thì vẫn phải hướng đến mục tiêu của bài giảng.
Vấn đề 2. Dẫn dắt.
Trước khi đi sâu vào nội dung của bài, nên có một vài lời dẫn dắt bằng cách
liên hệ giữa các kiến thức cũ và mới hoặc tạo ra một lý giải hợp lý cho việc thực hiện
mục tiêu bài giảng ngày hôm đó. Việc đó khiến học sinh thích thú, tập trung vào vấn
đề cần đạt hơn hẳn.
Ví dụ: Giáo viên có thể tạo hứng thú cho học sinh bằng một trò chơi trên lược
đồ. (GV treo bản đồ Đông Nam Á nhưng đã che khuất các nước trong khu vực Đông
Nam Á. GV yêu cầu học sinh đoán xem trong mỗi mảnh ghép từ ô số 1 đến ô số 11 là
5
nước nào? Sau đó học sinh đưa ra một câu hỏi có vấn đề: Hầu hết các nước ở châu
Á, cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đều bị các nước phương Tây xâm lược đó là Ấn
Độ, Trung Quốc. Vậy theo các em, khu vực Đông Nam Á có phải là đối tượng tiếp
theo mà các nước tư bản phương Tây đang tiếp tục xâm lấn?)
Vấn đề 3. Hướng dẫn trực tiếp.
Khi thiết kế giáo án, chúng ta hãy đưa ra một cách cụ thể và chi tiết để làm sao
truyền tải được các khái niệm của bài học hôm ấy với các học sinh. Có rất nhiều cách
khác nhau và chúng ta có thể thay đổi theo từng đề tài.
Ví dụ: Ở bài 11 này, học sinh phải nắm được khái niệm thế nào là nửa thuộc địa,
nữa phong kiến. GV cho học sinh suy nghĩ, sau đó gọi cá nhân học sinh trả lời. GV
gợi ý và chốt lại đầy đủ về khái niệm: Những nước bị các nước đế quốc chủ nghĩa cai
Ví dụ: Trước khi học mỗi bài, giáo viên có thể cho học sinh sưu tầm các tài
liệu về khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn này. Cho học sinh tìm đọc Lịch sử thế
giới cận đại của Nguyễn Văn Minh, Vũ Dương Hồng, NXB Giáo dục. Giáo viên có
thể cho học sinh tự vẽ bản đồ các nước Đông Nam Á.
Vấn đề 8 Đánh giá.
Bài học chỉ có thể coi là đã được hoàn thành khi bạn thành công trong việc
đánh giá quá trình học của học sinh trong từng tiết dạy. Phần đánh giá này là một
trong những phần quan trọng nhất, là tiền đề để chúng ta đặt ra những mục tiêu mới
trong giờ học tiếp theo.Ví dụ: Giáo viên có thể cho học sinh làm một bài khảo sát
theo dạng trắc nghiệm và tự luận về các vấn đề đã học. Các câu hỏi có thể ra theo
mức độ từ dễ đến khó, phân hóa đối tượng học sinh
Giáo viên có thể cho học sinh lược đồ Đông Nam Á trống. Yêu cầu các nhóm
học sinh lên điền tên các nước chiếm đóng và khu vực chiếm đóng.
Tóm lại, trong suốt quá trình giảng dạy, giáo án sẽ luôn là một cuốn cẩm nang
tin cậy mỗi khi chúng ta đứng trước lớp. Như vậy, một giáo án phải có một mục đích
rõ ràng, lôi cuốn được sự tham gia tích cực của học sinh, có thể áp dụng với nhiều
phương pháp học khác nhau và đưa học sinh đến những chân trời kiến thức mới. Với
việc chú ý 8 bước trên, tôi tin rằng, chúng sẽ thành công trong việc xây dựng một
giáo án thực sự hiệu quả.
Giải pháp 2:
Tổ chức linh hoạt hoạt động nhóm
Việc khuyến khích học sinh hợp tác với các thành viên khác trong lớp góp
phần tạo lập nên cộng đồng, gia tăng sự đoàn kết và khiến việc học trở nên tích cực
hơn. Tuy nhiên, quyết định xem có nên cho hoạt động nhóm hay không và tổ chức
như thế nào, việc đó có thể làm bạn cảm thấy mệt mỏi.
Bởi vì làm việc nhóm có thể là một thách thức và phức tạp, nhiều giáo viên
hoặc là tránh không cho hoạt động nhóm hoặc giữ học sinh ở những nhóm cố định.
Duy trì các “nhóm cố định” trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Họ không có sự điều
chỉnh thường xuyên tùy theo mục đích của bài tập và hồ sơ đánh giá học sinh. Điều
dạng thức kiểm tra “độ cứng của giáo viên” cũng như niềm tin của giáo viên đối với
năng lực học tập của học sinh. Nhóm linh hoạt làm đã thử thách người học ở chỗ họ
bị sắp xếp làm việc với người khác theo những mục đích của giáo viên. Các nhóm đôi
khi được chia dựa trên độ sẵn sàng của học sinh hoặc cấp độ kĩ năng nhưng các thành
viên trong nhóm kết nối với nhau dựa trên mối quan tâm, sở thích học tập, trải
nghiệm,…Từ những yếu tố trên, chúng ta phải xây dựng kế hoạch tổ chức nhóm linh
hoạt. Để giải quyết tốt vấn đề này, giáo viên phải trả lời được các câu hỏi sau: Học
sinh có nên ở trong nhóm lớn hay là làm việc theo cặp? Cho tự đọc hay đọc theo
nhóm ba? Nhóm bốn người quá to hay quá nhỏ cho trò ghép hình? Học sinh có thể tự
chọn nhóm không, hay là giáo viên nên chọn?
Có phải cấp độ kĩ năng ảnh hưởng phần lớn đến các bài tập nhóm, hay là sở thích?
Trong dạy học, để xây dựng kế hoạch hoạt động nhóm linh hoạt, tùy theo từng bài
học, giáo viên có thể chia các nhóm:
Nhóm nhỏ ( 2 học sinh): thường dùng khi cần học sinh trao đổi những vấn đề cụ thể,
đơn giản, thời gian ngắn.
Nhóm đôi: Dùng để nghiên cứu, trao đổi vấn đề phức tạp đòi hỏi sự cộng tác cao.
Nhóm 4 – 6 học sinh: Dùng khi trao đổi ý kiến hoặc thực hiện công việc cụ thể đòi
hỏi sự nổ lực chung của cả nhóm.
Để hoạt động nhóm tốt, giáo viên có thể ghi trên bảng theo dõi quá trình của nhóm.
Giải pháp 3:
Tăng cường khai thác thiết bị dạy học hiệu quả
Đổi mới PPDH đang là một vấn đề vô cùng quan trọng trong việc quyết định
dến chất lượng giáo dục. Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố
liên quan, trong đó phương tiện dạy và học là một thành tố quan trọng.
Trong quá trình dạy học, các PTDH giảm nhẹ công việc của giáo viên và giúp
cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được các phương tiện thích
hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng
8
mềm dạy học phổ biến.
Tuy nhiên cần chú ý những điểm sau đây:
- Trước hết giáo viên phải nhận thức đúng và đầy đủ vai trò của việc sử dụng thiết bị
vào đổi mới phương pháp giảng dạy. Giáo viên cần mạnh dạn, không ngại khó, tự
thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử của mình sẽ giúp rèn luyện được nhiều kỹ năng
và phối hợp tốt các phương pháp dạy học tích cực khác.
- Không lạm dụng công nghệ thông tin nếu chúng không tác động tích cực đến quá
trình dạy học và sự phát triển của học sinh.
- Ứng dụng CNTT trong dạy học không phải là một phương pháp mới mà chỉ là sự hỗ
trợ đổi mới phương pháp dạy học bằng các công cụ, phương tiện. Cần tránh việc
chuyển từ đọc - chép sang nhìn – chép.
- Cần có cách tổ chức lớp học khoa học hợp lý để huy động mọi học sinh đều tham
gia vào việc học. Tránh tình trạng chỉ một vài học sinh thực hiện còn các học sinh
khác thì không tập trung chú ý.
9
- Đối với bản đồ, lược đồ: đó là nguồn kiến thức quan trọng và được coi như cuốn
sách lịch sử thứ hai của học sinh. Tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ theo các
bước sau:
+ Cho học sinh quan sát bản đồ về nội dung và các ký hiệu của bản đồ.
+ Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề gợi ý học sinh tìm hiểu nội dung bản đồ.
+ Học sinh trả lời câu hỏi bằng việc trình bày kết quả tìm hiểu nội dung bản đồ
đó.
+ Giáo viên nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh nội dung cần cung cấp cho học sinh.
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ lược đồ “Hành trình cứu nước của
Hồ Chí Minh” - Lịch sử 9 bài 16 “Hoạt động của NAQ ở nước ngoài trong những
năm 1919-1925.
- Cho học sinh quan sát ở lược đồ để thấy được hoạt động của NAQ ở nước ngoài
tập chuyên đề thành hai giai đoạn.
10
Giai đoạn 1 là rèn kĩ năng tự nghiên cứu tài liệu trang bị cho người học những kĩ
năng tự nghiên cứu tài liệu cơ bản.
Giai đoạn 2 là tổ chức học sinh làm báo cáo hay bài tập chuyên đề.
Thực chất, ở giai đoạn 1, việc tổ chức rèn học sinh các kĩ năng tự nghiên cứu
tài liệu, sử dụng các câu hỏi ngắn. Những kỹ năng cần rèn ở giai đoạn này cụ thể như
sau:
Kĩ năng xác định vấn đề cần nghiên cứu
Kĩ năng này đóng vai trò quan trọng, định hướng toàn bộ mọi hoạt động của
học sinh. Với học sinh, việc vấn đề cần nghiên cứu thường do giáo viên giao cho
hoặc các em tự xác định được thông qua các câu hỏi, các bài tập và tình huống có vấn
đề mà giáo viên đưa ra. Các em cũng có thể độc lập xác định được vấn đề cần nghiên
cứu trong quá trình tự học mà không cần sự định hướng hay gợi ý của giáo viên.
Để rèn kĩ năng xác định vấn đề nghiên cứu cho học sinh, trong quá trình dạy
tôi giao cho các em các câu hỏi, bài tập dựa trên các tình huống có vấn đề rồi hướng
dẫn các em cách xác định các yêu cầu của câu hỏi, bài tập (phân tích đề). Giáo viên
cũng có thể lựa chọn cùng một nội dung phù hợp, đặt các câu hỏi khai thác vấn đề
theo các hướng khác nhau, yêu cầu học sinh trả lời. Qua quá trình phân tích các câu
hỏi này học sinh sẽ xác định được với cùng một vấn đề, với những cách hỏi khác
nhau , thậm chí chỉ một vài từ thì nội dung câu trả lời sẽ khác. Việc làm này sẽ góp
phần đắc lực trong quá trình rèn kĩ năng xác định vấn đề cần nghiên cứu của học
sinh. Kĩ năng rất cần cho các em trong quá trình học, thi cử, cuộc sống nói chung và
hoàn thành bài học nói riêng.
Kĩ năng lựa chọn tài liệu
Trước và sau khi xác định được vấn đề cần nghiên cứu, học sinh cần biết tìm
nguồn tài liệu phù hợp. Khả năng tìm kiếm tài liệu sẽ góp sức đắc lực cho người học
trong cả quá trình làm bài, làm cho bài của mình có cả chiều sâu và độ rộng. Nguồn
hỏi thầy cô hỏi và những hướng dẫn của thầy cô, cột kế bên ghi nội dung đọc được
trong sách giáo khoa tài tài liệu tham khảo, cột cuối cùng ghi tổng hợp lại những gì
đã học và đọc được. Các nội dung ghi trong vở cũng nên chú thích nguồn để sau này
không mất nhiều công đọc lại nữa.
Học sinh được rèn thói quen chủ động nắm bắt và ghi những vấn đề mà giáo
viên giảng, không thụ động ngồi chờ giáo viên đọc cho chép. Do được yêu cầu chuẩn
bị bài trước ở nhà nên chúng tôi kết hợp rèn cho học sinh kĩ năng ghi những vấn đề
cần thiết, những vấn đề chưa rõ,… Để làm được như vậy, tôi hướng dẫn học sinh
trong quá trình đọc trước ở nhà, cần xác định trọng tâm của bài, xác định nội dung
nào mình đã hiểu kĩ, nội dung nào chưa hiểu để tập trung lắng nghe và ghi bài vào nội
dung đó. Giáo viên cũng hướng dẫn học sinh khi đọc tài liệu cần xác định ý chính,
ghi lại một cách ngắn gọn nội dung chính cũng như thành bảng, sơ đồ, bản đồ khái
niệm.
Kĩ năng đặt câu hỏi
Khi đọc tài liệu, bên cạnh việc trả lời các câu hỏi của thầy cô, học sinh cũng
cần luôn tự đặt các câu hỏi tại sao, như thế nào, để làm gì, là cái gì… Các câu hỏi đó
có thể được đặt khi học sinh không hiểu vấn đề mà tài liệu trình bày nhưng cũng có
thể được đặt ra để tranh luận với bạn, với thầy. Cách làm này làm cho vấn đề được
đào sâu hơn do nó được lật đi lật lại nhiều lần theo nhiều hướng khác nhau. Đồng
thời, trong quá trình tranh luận, người học được bổ sung thêm kiến thức từ bạn, kích
thích thêm tính ham học của mỗi người. Khi vấn đề khó đi đến thống nhất có thể hỏi
thầy. Để học sinh có được kĩ năng này, vai trò của người thầy trong quá trình tổ chức
dạy học vô cùng quan trọng. Trong quá trình đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi mà mình
đặt ra, học sinh cũng tự rèn được cách xác định vấn đề cần nghiên cứu, kĩ năng đọc
và tổng hợp tài liệu.
Kĩ năng diễn đạt lại thông tin đã thu được theo ý hiểu của người học
Thông tin thu được có thể được học sinh ghi lại một cách vắn tắt, lập thành sơ
đồ, bảng biểu,… Các sơ đồ, bảng biểu có thể được sử dụng để giúp người học ghi
nhớ nhưng có thể là để hiểu, để củng cố hoặc mở rộng, nâng cao về một nội dung cụ
thể hoặc để hệ thống hóa kiến thức. Kĩ năng diễn đạt lại thông tin trong quá trình học
ích cho cuộc sống sau này của học sinh do các em luôn tư duy về một vấn đề theo
nhiều chiều hướng, dự đoán được nhiều tình huống có thể xảy ra để có thể giải quyết
sớm hoặc chí ít là không quá bất ngờ. Nó cũng kích thích thầy luôn tự đọc, tự tìm tòi
để tăng cường chuyên môn nghiệp vụ. Đây cũng là việc làm vô cùng khó, do thói
quen tin tưởng tuyệt đối vào thầy, vào sách đã ăn sâu vào các em từ lâu. Mặt khác,
cũng ít người thầy chấp nhận thua hoặc “giả vờ thua” học trò vì sợ “mất thiêng”.
Giải pháp 5:
Đa dạng hóa hình thức học tập.
Một trong ba đặc trưng của phân môn Lịch sử đã chỉ ra rằng: Lịch sử qua đi
nhưng không hoàn toàn biến mất mà còn để lại “dấu vết ” của nó qua kí ức của nhân
loại như văn học dân gian, phong tục tập quán, lễ hội…, qua các chứng tích lịch sử,
các hiện tượng lịch sử, qua ghi chép của người xưa. Những chứng cứ vật chất đó
chính là cơ sở để trình bày hay nhận thức về lịch sử. Vì vậy, giáo viên cần phải hết
sức quan tâm đến các hình thức tổ chức dạy học lịch sử đa dạng, tạo điều kiện để học
sinh tiếp xúc với các nguồn sử liệu nói trên.
Bản thân tôi đã đa dạng hóa hình thức học tập bằng các nhóm giải pháp như
sau:
- Gắn kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử với việc dạy học phân môn Lịch
sử: Trong quá trình trực tiếp giảng dạy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu về
các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử qua các hoạt động: đọc báo, xem truyền hình (các
13
hình ảnh tư liệu), đài phát thanh … để giúp các em hiểu rõ, nắm sâu hơn về các sự
kiện và nhân vật lịch sử.
- Gắn việc tham quan dã ngoại với việc tham quan bảo tàng, di tích lịch sử dâng hoa
lên tượng anh hùng để các em cảm nhận được hồn sử. Tổ chức cho học sinh tham
quan dã ngoại các di tích lịch sử - văn hóa, các cảnh đẹp ở địa phương, gặp gỡ các cá
nhân, tập thể trực tiếp tham gia vào những sự kiện lịch sử và hoạt động xã hội; tham
+ Trận Chi Lăng thể hiện nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn NTN?
+ Vì sao nghĩa quân Lam Sơn chấp nhận việc Vương Thông xin hoà?
- Thời gian thảo luận: 5 phút
- Thời gian các nhóm trình bày: 2 phút
- GV tổng kết, chốt kiến thức: 2 phút.
Giải pháp 6:
Phát huy tối đa dạy học theo chuyên đề
14
Dạy học theo chuyên đề khác với việc dạy theo bài học thông thường nhưng
vẫn phải đảm bảo các chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình và sách giáo
khoa hiện hành, được nâng lên một mức độ nhất định cao hơn. Tuy vậy cần chú ý đến
tính vừa sức của chuyên đề: cân đối giữa khối lượng và mức độ kiến thức trong
chuyên đề.Vấn đề được học tập trong chuyên đề phải là một vấn đề cơ bản của
chương trình, sách giáo khoa có mối quan hệ mật thiết với nhau, có những điểm
tương đồng về nội dung kiến thức, khi hình thành chuyên đề thì tạo nên một chuỗi
các vấn đề học tập cần giải quyết. Khi giải quyết được nhiệm vụ học tập đó sẽ tạo
thành một nội dung hoàn chỉnh, toàn diện cả chiều dọc lẫn chiều ngang của chuyên
đề.
Nội dung của các chuyên đề giúp học sinh có những hiểu biết về những kiến
thức cơ bản của chương trình, sách giáo khoa mà học sinh cần đạt được. Từ những
kiến thức đó để học sinh có thể tổng kết, hệ thống hoá kiến thức, củng cố, thực hành,
rút ra quy luật và bài học lịch sử... và tự nghiên cứu, đào sâu kiến thức đã học.
Để đáp ứng các vấn đề trên, bản than tôi đã đề ra quy trình xây dựng chuyên đề
như sau:
B1. Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa môn Lịch sử và những
ứng dụng phương pháp dạy học trong thực tiễn, xác định các nội dung kiến thức liên
quan với nhau, có những điểm tương đồng được thể hiện ở một số bài/tiết hiện hành,
từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một chuyên đề dạy học. Mỗi
a.Về kiến thức:
- Biết khái quát tình hình chung của Mỹ và Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai.
- Biết được sự phát triển kinh tế của Mỹ và Nhật Bản trong hai giai đoạn 1945-1950
và giai đoạn 1950-1991.
- Hiểu những nguyên nhân nào làm cho kinh tế Mỹ bị giảm sút và kinh tế Nhật Bản
phát triển thần kỳ.
b.Về kỹ năng
-Rèn luyện phương pháp tư duy, phân tích, nhận xét so sánh, liên hệ, khái quát.
c.Về thái độ
- Hiểu tình hình phát triển kinh tế của Mỹ và Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ
hai, đều trở thành hai trung tâm kinh tế tài chính của thế giới.
* Nội dung triển khai
Dự kiến tiết hoạt động thể nghiệm: Tiết 1. I. Tình hình kinh tế của Mỹ, Nhật Bản sau
chiến tranh thế giới thứ hai
1.Khái quát tình hình kinh tế của Mỹ, Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai
-Phương pháp: thảo luận nhóm đôi, đàm thoại, nhận xét.
-Câu hỏi đặt ra:
+ Các em biết gì về đất nước Mĩ và Nhật Bản hiện nay?
+ Em hãy cho biết sau chiến tranh, tình hình Mỹ và Nhật Bản như thế nào?
+ Tại sao lại có sự khác nhau đó ?
Nội dung cần lưu ý:
Mĩ: trở nên giàu có.
-Nhật Bản : kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị quân đội nước ngoài chiếm
đóng.
-Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau:
+Mĩ: Lợi dụng chiến tranh buôn bán vũ khí, không bị chiến tranh tàn phá, yên ổn sản
xuất.
+Nhật Bản: Là nước bại trận.
Nhật Bản thực hiện cải cách dân chủ như ban hành Hiến pháp năm 1946 Luồng
không khí giúp Nhật Bản phát triển mạnh mẽ.
+GV chiếu hình ảnh tương phản đất nước Mĩ, chi phí đầu tư quân sự ở Mĩ.
+ Theo em, nguyên nhân nào khiến kinh tế Mỹ suy giảm? Nguyên nhân nào khiến
Nhật Bản phát triển thần kỳ?
-Nội dung lưu ý:
+ Mỹ: 4 nguyên nhân (SGK)
+Nhật Bản: 4 nguyên nhân (SGK)
+ GV sơ kết
+GV giao bài tập cho học sinh Giỏi:
- Phân tích những nguyên nhân làm cho kinh tế Mỹ phát triển và những khó khăn đối
với Mỹ-Nhật Bản hiện nay.
3. Kết quả đạt được:
Chính vì vậy mà sau khi tiến hành vận dụng một số kinh nghiệm dạy học theo
phương pháp mới trong năm học 2017 – 2018, tôi tiến hành khảo sát chất lượng của
học sinh qua kết quả kiểm tra một tiết và khảo sát chất lượng cuối năm. Kết quả là số
học sinh Khá, Giỏi tăng lên và số học sinh Yếu, Kém giảm hẳn so với năm trước. Kết
quả cụ thể như sau:
Kết quả
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Tổng
Môn
số
SL
%
SL
%
SL
%
10
7,2
Lịch sử
137
30
21,9
52
38,0
50
36,5
5
3,6
Kết quả trên, cho thấy những giải pháp được nêu ra trong sáng kiến đã giúp
học sinh thay đổi được nhận thức, thái độ học tập lịch sử của các em, từ không thích
học đến thích học Lịch sử. Đến giờ học lịch sử các em tự tham gia vào tiết học một
17
cách sôi nổi và đầy hứng thú.Các em đã tự nghiên cứu, tự tìm hiểu thêm bài, tham gia
thảo luận trong khi hoạt động nhóm say mê, tích cực. Kết quả bước đầu này cho thấy
không phải học sinh không quan tâm đến bộ môn lịch sử hay bài học lịch sử mà do
giáo viên chưa thay đổi cách tổ chức dạy học cũng như khai thác chưa triệt để các
phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới.
III. PHẦN KẾT LUẬN:
1. Ý nghĩa của đề tài:
Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu trong xu thế hiện Nhưng
để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả, người giáo viên linh hoạt trong việc sử
dụng nhiều giải pháp khác nhau mới đạt được mục tiêu phát huy tính tích cực, chủ
sử không nhiều; đời sống của giáo viên còn thấp.…Vì vậy tôi xin có một vài đề xuất
nhỏ như sau:
* Đối với nhà trường:
- Cần đầu tư thêm trang thiết bị dạy học đặc biệt cho môn Lịch sử, các tài liệu
phong phú để học sinh tìm thêm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu.
- Cần có phòng học bộ môn dành riêng cho môn Lịch sử, trong đó các đoạn phim
tư liệu liên quan đến bài dạy, để giáo viên có thể ứng dụng công nghệ thông tin một
cách thành thạo.
- Trong các hoạt động ngoại khoá, sinh hoạt chủ đề nhân k ỷ niệm các ngày
lễ lớn: 22/12, 3/2, 8/3, 30/4, 19/5… Tăng cường hoạt động t ự nghiên c ứu c ủa
học sinh, giảm giờ dạy lý thuyết, xây dựng hệ thống bài tập m ở, bài t ập g ắn v ới
thực tiễn có nội dung đổi mới phương pháp dạy học.
* Đối với ngành giáo dục:
Cần chú trọng phát huy các mô hình câu lạc bộ lịch sử, ngược dòng lịch sử…
trong các nhà trường để nhằm thúc đẩy quá trình dạy, học có hiệu quả.
Với trăn trở của một người giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử, tôi xin
mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình, mong góp một phần nhỏ vào thực hiện nâng cao
chất lượng dạy học Lịch sử. Trong quá trình tích lũy kinh nghiệm và viết đề tài
không tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế, tôi rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến xây dựng của bạn bè, đồng nghiệp và hội đồng chuyên môn đánh giá, bổ sung
để đề tài của tôi thêm hoàn thiện, có giá trị hơn nữa trong thực tiễn. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
19