MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY MÚA CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠC - Pdf 47

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

CAO THẢO LINH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY MÚA CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHÓA 54
Ngành: Giáo dục Mầm non
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Th.S Phạm Thị Yến


MỤC LỤC
MỤC LỤC .......................................................................................................................2
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................6
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................................3
3.1. Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................3
3.2. Khách thể nghiên cứu ...............................................................................................3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................3
5. Giả thuyết khoa học .....................................................................................................3
6. Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................................3
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu ............................................................................3
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu ............................................................................3
6.3. Giới hạn về thời gian nghiên cứu .............................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................4

1.6. Một số kỹ năng múa ...............................................................................................20
1.6.1. Kỹ năng mô phỏng ..............................................................................................20
1.6.2. Kỹ năng khống chế ..............................................................................................20
1.6.3. Kỹ năng mềm dẻo ................................................................................................ 21
1.6.4. Kỹ năng mở .........................................................................................................21
1.6.5. Kỹ năng nhảy .......................................................................................................21
1.6.6. Kỹ năng quay, xoay .............................................................................................21
1.7. Một số động tác múa cơ bản ...................................................................................21
1.7.1. Hướng múa ..........................................................................................................21
1.7.2. Sáu thế tay chân cơ bản .......................................................................................21
1.7.3. Các động tác múa dân tộc Kinh ...........................................................................25
1.7.4. Các động tác múa dân tộc H’mông .....................................................................25
1.7.5. Động tác đánh cồng dân tộc Tây Nguyên ...........................................................26
1.7.6. Động tác đếm sao dân tộc Khơme .......................................................................26
1.7.7. Động tác múa dân tộc Tày ...................................................................................26
1.7.8. Các động tác múa dân tộc Thái ...........................................................................27
1.8. Hoạt động âm nhạc của trẻ Mầm non .....................................................................27


1.8.1. Khái niệm hoạt động âm nhạc .............................................................................27
1.8.2. Đặc điểm hoạt động âm nhạc của trẻ 5 - 6 tuổi ...................................................27
1.8.3. Cấu trúc giờ học âm nhạc ....................................................................................28
1.1.9. Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi ...............................................30
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU .............................32
2.1. Tổng quan về khách thể và địa bàn nghiên cứu .....................................................32
2.1.1. Vài nột về Trường Mầm non Bảo Ninh ..............................................................32
2.1.2. Thực trạng tổ chức nghiên cứu một số biện pháp dạy múa cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua hoạt động âm nhạc ........................................................................................33
2.2. Kết quả điều tra thực ..............................................................................................36
2.2.1. Nhận thức của giáo viên về một số biện pháp dạy múa cho trẻ 5 - 6 tuổi thông

2.2. Đối với giáo viên mầm non ...................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................64


LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, bạn bè, người thân và đồng nghiệp.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân
thành tới Ban Giám Hiệu, các giáo viên cùng các cháu Trường Mầm Non Bảo Ninh đã
hợp tác và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến ThS.Phạm Thị Yến, người đã “truyền
lửa” cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu, Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
Trường Đại học Quảng Bình đã động viên, khích lệ tôi không ngừng nổ lực phấn đấu
hoàn thành công việc của một sinh viên đi học.
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ, ông bà và
những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cũng như đặt sự kỳ vọng
và tôi.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất
định. Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của Hội đồng thẩm định để luận văn
ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 05/ 2016
Tác giả

Cao Thảo Linh


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT


MGL

Mẫu giáo lớn

6

TN

Thử nghiệm


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Ước muốn ngày nào, ôm ấp trong tim mai đây là cô giáo”…
Bài hát ấy, câu hát ấy không chỉ là giấc mơ của tôi mà còn là của cả gia đình tôi,
từ khi chúng tôi còn học phổ thông. Đó cũng là mơ ước, là tình yêu giúp tôi lựa chọn
theo học nghề cô giáo mầm non và gắn bó với nghề hơn.
Để đáp ứng với nhu cầu và sự phát triển lớn mạnh của đất nước Đảng ta đã đặt ra
nhiệm vụ phải phát triển nền giáo dục và đào tạo, đặc biệt là luôn quan tâm đến thế
giới trẻ thơ. Vì giáo dục mầm non là nền móng sau này cho các bậc học khác, giáo dục
mầm non là giáo dục toàn bộ đức, trí, thể, mỹ cho trẻ giúp trẻ phát triển toàn diện.
Đối với trẻ mầm non (MN), nghệ thuật múa góp phần hình thành nhân cách của
trẻ, nghệ thuật múa đối với trẻ là một thế giới kỳ diệu không ngừng chuyển động đầy
niềm vui, gợi cho trẻ khả năng cảm thụ, lĩnh hội hiểu cái đẹp, muốn vươn tới cái đẹp.
Nội dung tác phẩm, hình tượng múa đã mang lại cảm xúc và nhận thức thẩm mỹ cho
trẻ về nội dung, tư tưởng tác phẩm. Múa là hình thức hoạt động kết hợp âm nhạc rất
hấp dẫn đối với trẻ. Trong khi múa trẻ bộc lộ nhu cầu giao tiếp xung quanh. Nghệ
thuật múa không những giúp cho trẻ có một hình thể, dáng dấp đẹp mà còn giúp cho
trẻ có khả năng biểu lộ cảm xúc một cách hồn nhiên chân thật. Trên cơ sở đó trẻ nghe

rằng: Việc dạy múa cho trẻ còn nhiều hạn chế, đa số chỉ dạy trẻ thực hiện những bài múa
đơn giản như trong chương trình gợi ý, thực hiện múa chỉ mang ý nghĩa vận động của lời
ca. Lên kế hoạch môn học giáo dục âm nhạc, trong đó có rất ít bài múa mà chủ yếu bài vận
động theo nhạc. Múa gắn liền với giờ học giáo dục âm nhạc, mà chưa được tách rời thành
một hoạt động độc lập. Về trình độ chuyên môn của giáo viên còn nhiều hạn chế. Hầu hết
giáo viên (GV) dạy theo chương trình của nhà trường, không có tính sáng tạo và linh hoạt
về nội dung và hình thức, còn cứng nhắc về âm nhạc. Cơ sở vật chất để phục vụ môn múa
còn nghèo nàn.
Đối với lứa tuổi MN, trẻ rất thích múa và có nhu cầu được múa do đó trẻ tiếp
nhận một cách say mê và hứng thú. Tuy nhiên trẻ rất ít có điều kiện tiếp xúc với múa
nên khả năng múa còn hạn chế. Đa số trẻ chỉ biết vỗ tay theo nhịp, vận động theo nhạc
và múa một số bài đơn giản theo cô.
Múa là một dạng hoạt động hấp dẫn, thu hút được sự hưởng ứng rất lớn của trẻ. Chính
trong khi xem múa trẻ được ngắm nhìn, có niềm thích thú, yêu mến, có nhu cầu muốn được
học và sáng tạo.
Bên cạnh đó có những trường giáo viên nhận thức rõ vai trò của bộ môn này cũng đã
tiến hành tổ chức dạy múa, học múa, song chưa có một chương trình biên soạn cụ thể để sử
dụng đại trà cho các trường nên việc thực hiện còn rất khó khăn. Để góp phần thực hiện
chương trình giáo dục nói chung và chương trình múa nói riêng đối với trẻ mẫu giáo đạt kết
quả tốt thì nhà giáo dục cần có một phương pháp tiến hành tổ chức dạy múa cho trẻ mẫu
giáo nói chung và mẫu giáo lớn nói riêng một cách đồng bộ toàn diện. Người giáo viên
cũng cần thường xuyên bồi dưỡng nâng cao khả năng của mình, đề xuất ra những ý kiến
đóng góp để chương trình ngày càng tốt hơn.
Trải qua một thời gian tiếp xúc với trẻ ở độ tuổi mầm non, chúng tôi thấy khả
năng múa rất hạn chế, không nắm được các động tác cơ bản. Đồng thời thông qua việc
được học múa cơ bản tôi nhận thấy việc dạy cho trẻ nắm được các động tác cơ bản trên
cơ sở đó dạy múa cho trẻ là vấn đề rất cần thiết và quan trọng. Việc làm này không
những cho nghệ thuật múa của trẻ được tốt hơn mà còn góp phần vào quá trình phát

2

Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình. Chúng tôi trực tiếp quan sát
và điều tra 20 giáo viên và 30 cháu ở trường MN Bảo Ninh.
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy múa cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động âm nhạc ở trường mầm
non Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình.
6.3. Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 2/2016 – 5/2016

3


7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống
hóa những vấn đề lý luận, những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
- Quan sát kỹ năng múa của trẻ 5 - 6 tuổi.
-Quan sát quá trình giáo viên tổ chức hướng dẫn dạy múa cho trẻ 5 - 6 tuổi qua
hoạt động âm nhạc.
- Quan sát kết quả dạy múa cho trẻ thông qua hoạt động của trẻ.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Bằng hệ thống câu hỏi trao đổi, trò chuyện với giáo viên và với trẻ nhằm tìm hiểu
những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong quá trình dạy múa cho trẻ Mẫu giáo
lớn 5 - 6 tuổi qua hoạt động âm nhạc.
7.2.3. Phương pháp điều tra anket
Bằng phiếu điều tra (anket), nhằm tìm hiểu thực trạng việc dạy múa cho trẻ Mẫu
giáo lớn 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình. Từ đó đánh giá
thực trạng và làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp dạy múa cho trẻ 5 - 6 tuổi qua
HĐ âm nhạc.

Chương 3: Xây dựng biện pháp dạy múa cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động âm
nhạc và kết quả thực nghiệm
Phần 3: Kết luận và kiến nghị.

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu
Nghệ thuật múa là loại hình nghệ thuật có từ sớm nhất của loài người, nó tồn tại
và phát triển theo lịch sử văn hóa và lịch sử phát triển trí tuệ của con người. Ngay từ
thuở bình minh của bộ người nguyên thuỷ, nghệ thuật múa đã xuất hiện như một nhu
cầu thiết yếu trong đời sống văn hoá tinh thần và phát triển ngày càng hoàn thiện.
Từ thời kỳ xã hội nguyên thuỷ, sang thời kỳ chiếm hữu nô lệ rồi đến thời kỳ xã hội
phong kiến, đến chế độ tư bản và lên chủ nghĩa xã hội. Múa được phát triển theo từng thời
kỳ. Đầu tiên chưa có định hướng, sau đó múa mang tính mô phỏng, múa thể hiện các nội
dung sinh hoạt của con người, rồi múa ngày càng được nâng cao thành các thể loại múa,
hình thức múa và các dòng múa. Đến nay múa có sự định hướng và hướng con người đến
chân – thiện – mỹ, nó chiếm vị trí quan trọng trong nền văn hoá dân tộc và đời sống văn hoá
xã hội.
Như vậy có thể kết luận: Lịch sử phát triển nghệ thuật múa gắn liền với sự phát triển
của loài người. Múa còn có các chức năng cơ bản giáo dục, phản ánh, góp phần cải tạo xã
hội, định hướng thẩm mỹ và phát triển thể chất. Với những chức năng này, chúng ta thấy
múa rất gần gũi với cuộc sống của con người. Con người không chỉ có nhu cầu thưởng thức
mà còn nhu cầu muốn học, muốn sáng tạo ra nữa. Việc tìm hiểu một số biện pháp dạy múa
cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động âm nhạc là rất cần thiết.
Hiện nay, có rất nhiều nhà sư phạm đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật múa cho trẻ mầm
non như: “Cải tiến một số hình thức vận động theo nhạc cho trẻ 5 - 6 tuổi”. Dựa vào khả
năng tiếp xúc nghệ thuật của trẻ, tác giả đã đưa ra một số phương pháp mới trong tiết học

giải khác nhau nhưng đều quy tụ vào hai quan điểm là trường phái duy tâm và duy vật.
Đó là truyền thuyết thần thoại và các học thuyết về nghệ thuật múa. Các truyền thuyết
thần thoại: Thần thoại nhảy múa của Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam…Các học thuyết:
Thuyết bản năng của Kant, học thuyết bắt chước của Sáclơ Đác uyn, học thuyết du hí
khoái cảm, học thuyết tôn giáo, phật giáo, thiên chúa giáo, học thuyết lao động của
Mác – Ăng ghen.
Nền văn hóa Ấn Độ là một trong những nền văn hóa lớn nhất của loài người.
Múa cổ điển Ấn Độ có một truyền thống rực rỡ và là một cống hiến to lớn cho nền văn
minh Ấn và thế giới. Những luật lệ của Ấn Độ được ghi chép khá rõ trong cuốn Veda.
Điều đang chú ý là phần lớn các hình tượng, động tác, ưu thế múa đều xâm nhập vào
điêu khắc ấn độ. Nghệ thuật múa Ấn Độ đi vào truyền thuyết thần thoại như dòng song
lớn đổ về biển cả thần thoại. Có thể nói múa của Ấn Độ rất phong phú, đa dạng và
phức tạp, biểu hiện trên nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống
của con người.
Chúng ta thừa nhận truyền thuyết thần thoại nghệ thuật múa rất đa dạng và
phong phú, nhiều màu sắc. Song chúng ta không quên rằng bản chất của múa từ lao
động có sáng tạo, từ trí tuệ của con người, con người sáng tạo ra thần thoại và nghệ
thuật múa của con người.
Học thuyết bắt chước của Kant: Một số nhà nghiên cứu nghệ thuật múa phương
Tây cho rằng nguồn gốc của nghệ thuật múa là bản năng sinh vật của con người. Nghệ
thuật múa tồn tại độc lập ngoài xã hội. Học giả người Đức Kant xác định rằng nghệ
thuật múa là bắt nguồn từ sự du hí, bắt chước và sự hấp dẫn khác giống. Kant giải
thích là thời đại nguyên thủy của con người bắt chước những biến động tự nhiên xem
sao. Do ý nghĩa thử chơi bắt chước đó mà nảy sinh ra múa. Như vậy múa bắt nguồn từ
7


thời nguyên thủy. Nó độc lập không liên quan đến lao động sản xuất. Nó độc lập với ý
thức của con người. Con người muốn dồi dào sinh lực, sinh lực thừa nên phải phát
triển ra hình thức nhảy múa để thỏa mãn du hí, thỏa mãn vui chơi.

Do đó Ăng ghen đã khẳng định rằng: Lao động là điều kiện đầu tiên của toàn bộ hoạt
động linh hoạt của con người và như thể đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó
chúng ta phải nói lao động đã sáng tạo ra bản thân con người.

8


1.2.3. Phân loại múa
Múa là một loại hình nghệ thuật biểu hiện tư tưởng, tình cảm của con người nên
nghệ thuật múa phản ánh không chỉ đơn điệu bằng một loại hình mà tồn tại dưới nhiều
dạng khác nhau. Căn cứ vào dung lượng, tư tưởng tình cảm và hình thức biểu hiện
tương ứng với nó để phân loại. nghệ thuật múa tồn tại trong xã hội có hai loại chính:
Múa sinh hoạt và múa sân khấu.
* Múa sinh hoạt: Múa sinh hoạt là loại múa phát triển rộng rãi trong đời sống
hàng ngày của tầng lớp nhân dân như có đông người tham gia, tự diễn, tự thưởng thức
theo một quy ước nhất định.
Múa sinh hoạt được chia ra nhiều dạng như sau:
- Múa nguyên thủy
- Múa lễ hội
- Múa giao tế, gặp gỡ vui chơi
- Múa trong sinh hoạt lễ nghi
- Múa cung đình
- Múa nhà trẻ, mẫu giáo
Như vậy, múa sinh hoạt có các dòng đặc trưng khác nhau nhưng đều có tính thừa
kế và phát triển, nó là nguồn cội của các thể loại múa sau này.
*Múa sân khấu
Múa sân khấu mang tính chất tổng hợp và nâng cao. Múa sân khấu biểu hiện nội
dung phương pháp sâu sắc hơn múa sinh hoạt. Múa sân khấu được chia làm nhiều thể
loại, mỗi thể loại có một vị trí riêng. Giới thiệu nghệ thuật không căn cứ vào tác phẩm
ngắn hay dài, lớn hay bé mà căn cứ vào hiệu quả cuối cùng khi tác động đến sự thưởng

một tình cảm nào đó đã được hoạch định.
Thứ nhất: Ngôn ngữ, động tác nghệ thuật múa
Thái Ly – nghệ sĩ nhân dân, giảng viên, nhà biên đạo múa đã nói: “Động tác cơ
bản chính là chữ cái A, B, C sau ngày ghép lại thành ngôn ngữ của múa”.
Ngôn ngữ múa là tiếng nói, là phương tiện duy nhất để thể hiện nghệ thuật múa,
ngôn ngữ múa đóng vai trò quyết định của nghệ thuật múa. Không có ngôn ngữ, động tác,
đội hình thì nghệ thuật múa không có ý nghĩa. Song mỗi loại ngôn ngữ đều có đặc trưng
riêng biệt.
Nếu ngôn ngữ âm nhạc là âm thanh, tiết tấu, ngôn ngữ trong hội họa là sắc màu,
đường nét và các mảng, thì ngôn ngữ trong múa là động tác đội hình, tuyến múa, hình
tượng múa, tình cảm (biểu hiện).
Ngôn ngữ nghệ thuật múa là động tác, điệu bộ đơn lẻ có nghĩa như những âm
thanh của vần để cấu tạo nên các từ, nhiều từ sẽ kết hợp thành câu và chúng sẽ truyền
đạt một nội dung nhất định. Muốn đem lại ý nghĩa trong chuổi động tác, tổ hợp thì
nhất thiết mọi động tác phải chuyển động liên tục. Quá trình chuyển động là quá trình
biểu đạt ngôn ngữ. Do đó đặc trưng ngôn ngữ múa là ngôn ngữ sống động, chuyển
động. Như vậy ngôn ngữ múa là loại ngôn ngữ chuyển động trong điều kiện không
gian và thời gian.
Thứ hai: Hình tượng múa
Hình tượng múa là dáng dấp tư thế của con người trong lúc dừng lại. Thân thể
con người trong trạng thái bình thường cũng diển tả một trạng thái nào đó, ở hình
tượng múa, hình tượng để biểu đạt tư tưởng của tác phẩm. VD: lạnh co ro người, buồn
cúi gục đầu…

10


Hình tượng chính là trạng thái tâm sinh lý mà cơ thể con người tạo nên đang thể
hiện trong một thời gian nhất định. Hình tượng múa nhằm phản ánh tâm tư, tình cảm
phía nội tâm được cụ thể hóa ra bên ngoài mang tính tổng thể, có ý nghĩa sâu rộng như

tiếng cười là một trạng thái sinh lí của trẻ bộc lộ ra từ bên trong những nhu cầu đòi
hỏi. Nhưng cũng là sự xuất hiện của hình tượng múa

11


Múa là phương tiện góp phần hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách cho
trẻ, nghệ thuật múa giúp trẻ phát triển cảm giác nhịp điệu, tạo ra hình thể, phong thái,
dáng dấp đẹp, hình thành tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, hoạt bát, mạnh dạn, tự tin…
Thứ nhất: Múa và vận động theo nhạc góp phần giáo dục thẩm mỹ
Múa giúp trẻ phát triển khả năng cảm thụ, lĩnh hội và hiểu cái đẹp, có nhu cầu
hướng tới cái đẹp, làm ra cái đẹp, phân biệt được cái hay cái dở, tạo cho trẻ hướng tới
cái thiện, chủ động sáng tạo trong khi tiếp xúc với các hoạt động âm nhạc khác nhau.
Múa và vận động theo nhạc giúp trẻ bộc lộ và diễn đạt những cảm xúc của mình.
Nhịp điệu của âm nhạc giúp trẻ hào hứng, phấn khởi, những giai điệu bài hát mềm
mại, nhẹ nhàng, sâu lắng, thiết tha... giúp trẻ hình thành những tình cảm dịu dàng, tình
yêu quê hương đất nước con người.
Quá trình tiếp xúc với âm nhạc tạo cho trẻ khả năng cảm thụ âm nhạc, cảm nhận
được những hình tượng âm nhạc mà tác giả muốn gửi gắm vào trong đó từ đó trẻ biết
thể hiện qua những điệu múa của mình.
Thứ hai: Múa và vận động theo nhạc góp phần giáo dục thể chất
Khi tiếp xúc với âm nhạc và thể hiện cảm xúc âm nhạc qua hình thể giúp trẻ phát
triển về cơ thể mà trước hết là tai nghe, đó là nghe được âm hưởng, giai điệu nhịp
điệu, tiết tấu của âm nhạc. Qua quá trình vận động các khớp tay, chân... giúp cơ bắp
được vận động nhịp nhàng, uyển chuyển.
Bên cạnh đó, tính chất nhịp nhàng, đa dạng của âm nhạc và sự vận động của cơ
thể giúp giãn nở cơ, mạch máu, điều hoà nhịp tim, rèn luyện khả năng phối hợp giữa
đi, chạy, nhảy, tay, mắt được nhẹ nhàng uyển chuyển, chính xác, nhịp nhàng hơn. Từ
đó giúp trẻ có khả năng khống chế, mềm dẻo, hoạt bát, nhanh nhẹn có tư thế đẹp,
duyên dáng mềm mại.

múa gắn liền với một kịch bản có cốt truyện, có nhân vật: Ví dụ: nhổ cải...
- Múa lễ hội: Múa lễ hội nằm trong mức độ trang bị những kỹ năng chung nhất
để thể hiện một một tính chất, tình cảm, một khí thế (lễ hội mùa xuân, rước đèn, ca
ngời Bác Hồ...) Múa lễ hội có giá trị cuốn hút, kích thích trẻ hòa đồng với cộng đồng.
Việc thực hiện và hoàn tất một tác phẩm múa phải nắm vững những nguyên tắc
hiểu biết cơ bản về sáng tác múa.
1.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng múa của trẻ
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng múa của trẻ nhưng chủ
yếu bao gồm những nhân tố sau:
- Yếu tố dinh dưỡng: Có vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng múa cho
trẻ. Trẻ ăn uống đủ chất thì sẽ tạo được cơ thể đẹp, giúp trẻ có được dáng múa và bên
cạnh đó trẻ có sức đề kháng tốt, có đủ sức khỏe để tập luyện thường xuyên nhằm nâng cao
kỹ năng múa.
- Yếu tố bẩm sinh: Yếu tố bẩm sinh có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kỹ năng
múa cho trẻ. Một số trẻ sinh ra bị khuyết tật sẽ không thể tham gia vào các hạt động múa,
trẻ sinh ra đã không được phát triển như các bạn, nên chắc rằng kỹ năng múa của trẻ sẽ
hạn chế. Vì vậy đây cũng là yếu tố tác động mạnh đến kỹ năng múa.
- Yếu tố môi trường: Môi trường cũng ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kỹ năng
múa của trẻ, Nếu môi trường sạch sẽ, rộng rãi, không khí thoáng đãng thì sẽ tạo điều
kiện tốt trong quá trình tập luyện của trẻ. Ngược lại nếu môi trường không thuận lợi
không những không tạo điều kiện cho sự phát triển kỹ năng múa của trẻ mà còn có thể
là nguyên nhân gây ra một số bệnh tật cản trở sự phát triển kỹ năng múa của trẻ.

13


Bên cạnh môi trường tự nhiên thì môi trường không khí, tâm lí gia đình cũng
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kỹ năng múa của trẻ. Trẻ em được sống trong môi
trường gia đình êm ấm, hoà thuận, hạnh phúc, có được sự quan tâm của cha mẹ và
những người lớn khác trong gia đình thì sẽ phát triển tốt hơn những trẻ sinh ra trong

trong không gian một cách khoa học, người xem cảm thụ được thông qua tác phẩm tác
giả nói gì? phản ánh cái gì? giáo dục đối với xã hội.

14


Phải xác định được nội dung tác phẩm, từ nội dung mới có thể đi đến xây dựng hình thức
thể hiện. Người biên đạo múa phải có kiến thức thực tế, vốn múa chất liệu cơ bản từ đó phát
triển ngôn ngữ múa, phương pháp biên đạo múa, đồng thời có lý luận rõ ràng khi lập luận
một tác phẩm, một chi tiết nội dung tác phẩm. Người biên đạo múa phải am hiểu một loại
hình nghệ thuật khác như: âm nhạc, văn học, hội họa, sân khấu...
Thứ ba: Nhiệm vụ của người biên đạo múa
- Người biên đạo múa có đủ năng lực, khả năng thực hành và truyền đạt.
- Biết tổ hợp tất cả những yếu tố để ra đời tác phẩm trong mọi hoàn cảnh.
- Trong bất cứ tác phẩm nào điều quan trọng nhất đối với người biên đạo là
truyền đạt tới người xem tư tưởng giáo dục. Người biên đạo múa khẳng định cho mình
mọi chủ đề phục vụ chính trị, đường lối, chuyển tải những chính sách của Đảng và
Nhà nước, phản ánh các sự kiện trong xã hội.
- Tác phẩm múa chính là vũ khí của người biên đạo trên mặt trận văn hóa. Chính
vì vậy, người biên đạo múa phải vững vàng về lập trường tư tưởng, am hiểu sâu rộng
về nhiều lĩnh vực trong xã hội.
1.4. Quy trình biên đạo động tác múa theo bài hát
1.4.1. Xác định yếu tố âm nhạc
Soạn động tác múa theo một bài hát nào cũng cần phải cảm nhận sâu sắc về tính
chất, âm điệu, nhịp điệu và tiết tấu của bài hát đó. Để khi bài hát vang lên thì có thể
tưởng tượng, hình dung ra các động tác di chuyển.
Tính chất êm dịu, nhẹ nhàng,mềm mại hay vui nhộn, sôi nổi, ngộ nghĩnh...sẽ quyết
định hình hài của múa. Chính âm nhạc sẽ gợi ý cho ta sử dụng động tác nào đó để thể hiện.
1.4.2. Xác định nội dung thể hiện
Mỗi bài hát đều có một đại ý nhất định, đại ý đó thường nằm ngay trong tính

không, khăn quạt, nơ, ô, cầm cờ...Mặt khác phải tưởng tượng mặc trang phục gì, ánh
sáng như thế nào: áo, váy, giày dép, tóc...
Vấn đề quan trọng là làm sao động tác múa phải đúng nhạc, diễn tả được nội
dung, đẹp, hấp dẫn người xem và có nét riêng biệt, độc đáo.
1.4.4. Tập luyện và hoàn thiện
Mỗi bài múa có thể biện soạn hoàn chỉnh từ đầu đến cuối mới hướng dẫn cho trẻ
luyện tập. Quá trình luyện tập cũng là quá trình điều chỉnh, sữa đổi, bổ sung và hoàn
thiện dần.
1.5. Kịch bản
Kịch bản chỉ là một khâu trong quá trình sáng tác. Kịch bản phải đưa vào những
động tác, dáng dấp, cử chỉ, điệu bộ. Tính hành động là đặc điểm hết sức mấu chốt mà
người viết kịch bản nắm vững.
1.5.1.Nội dung, bố cục kịch bản
Toàn bộ sự việc câu chuyện diễn ra trong tác phẩm múa được chia thành trong
đoạn, từng phần, từng cảnh hoặc từng màn. Sau khi hoàn thành kịch bản thì người biên
đạo múa phải có kịch bản chi tiết. Sau khi hoàn tất kịch bản chi tiết người biên đạo cần
chuẩn bị kế hoạch biên đạo múa.
1.5.2. Một số kịch bản múa
Thứ nhất: Kịch bản múa“Mùa xuân đến rồi” nhạc và lời Phạm Thị Sửu
TT

1

Néi dung
* ChuÈn bÞ: 5 trẻ gái và 5 trẻ trai
- §o¹n nh¹c d¹o 1: 5 trẻ gái dàn
hang ngang vừa đi vừa làm động
tác vuốt cánh tay ra đến giữa sân
khấu. Sau đó nửa ngồi, nửa quỳ 2
tay chắp lại đặt luôn lên má, mắt

Câu 1: “Sáng hôm nay…lên rồi”
5 bạn trai chạy ra, làm động tác
chạm nhẹ vào vai bạn gái, các bạn
gái làm động tác vòng tay từ trước
ngực, kết tròn trên đầu

3

4

5

6

Câu 2: “Cầm tay…chơi”
Từng đôi 1 cầm tay nhau nhảy
chân sáo, nhảy chân sáo đổi chỗ
cho nhau
Câu 3: “Ngắm bướm…hồng”
Bạn gái quay lưng lại với bạn trai,
2 hàng làm động tác hái đào, 2 tay
đến chữ xinh đổi bên (2 lần)

Câu 4: “Mùa xuân…mừng”
Bạn gái xoay tròn tại chỗ 1 vòng,
lắc cổ tay, bạn trai đứng tại chỗ lắc
cổ tay.
Nhạc dạo lần 2
Cô nàng mùa xuân bước vào, trẻ



Nhạc dạo

quây thành vòng tròn cầm tay
nhau nhảy múa. Kết nhạc dạo
này, cô mùa xuân lui vào, trẻ gái
và trẻ trai đứng thành hang dọc ở
2 bên sân khấu

7

Câu 1: “Sáng hôm…rồi”
Trẻ từ 2 bên nhảy ra, 1 tay chống
hông, tay kia giơ cao vẫy tạo thành Nhạc lần
5
2 hàng dọc giữa sân khấu
Câu 2: “Cầm tay…chơi”

8

Từng đôi 1 cầm tay nhau nhảy di
chuyển sang phải trái, chân đá lăng Nh¹c lÇn
6
4 lần

17

*
*
*


10

Câu 4: “Mùa xuân… mừng”
Cả trẻ gái và trẻ trai xoay tại chỗ
Sau đó di chuyển lại chào

Nhạc câu
4

*
X
*
X
*
X
*
X
*
X
*X
* X*X

Thứ hai: Kịch bản múa“Hòa bình cho bé” sáng tác của nhạc sỹ Huy Trân
TT

1

2


tác bắt chéo tay hình chữ X, hàng
trước đi sang phải, hàng sau đi sang
trái

Nhạc lần
1

* * * * * *

Trẻ đi thành hình tròn làm động tác
vẫy cờ

Nhạc lần
2

* * * * * *

Thời
gian

- Đội hình 12
trẻ

15 giây

15 giây

15 giây

3

*
*
*
*
*

15 giây

*
*
*
*
*
*

Trang phục

15 giây

- Trẻ mặc áo
màu vàng, váy
màu xanh, tay
thắt nơ màu đỏ,
đầu cài nơ, chân
đi giầy màu
trắng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status