Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
CHƯƠNG I :
MỞ ĐẦU
I.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nằm trên cao nguyên Lâm Viên, Đà Lạt được biết đến không chỉ là một
thành phố hoa với sương mù huyền ảo, mà đây còn là thành phố thiên đường của
du lòch, nghó dưỡng nổi tiếng của cả nước từ trước đến nay. Gần đây, chính phủ đã
có văn bản nâng thành phố Đà Lạt lên tầm “thành phố trực thuộc Trung Ương”,
với vò thế và tầm cỡ quan trọng ấy, vấn đề vệ sinh môi trường luôn là mục tiêu
hàng đầu của các cấp lãnh đạo thành phố. Tuy nhiên trong những năm gần đây
N
do mức độ tăng dân số cùng với lượng khách du lòch tăng đã một phần làm cho
.V
môi trường đô thò bò ảnh hưởng và có chiều hướng bò ô nhiễm. Đặc biệt chất thải
rắn là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến cảnh quan đô thò và
X
T
môi trường sinh thái.
Theo như số liệu thống kê hiện nay, thành phố Đà Lạt có tổng cộng 168
con đường chính và mạng lưới giao thông nội bộ thuộc 12 phường, xã với tổng số
dân vào khoảng 250 000 người. Lượng chất thải rắn sinh hoạt thải ra trong một
N
thành phố, góp phần ngăn chặn các thảm họa ô nhiễm môi trường do rác gây nên,
cung cấp phân bón hữu cơ sinh học phục vụ cho nông nghiệp, hỗ trợ cho Đội cây
.V
xanh đô thò (cung cấp phân bón để trồng hoa, cây xanh trên hàng trăm tuyến
đường) và góp phần làm cho thành phố Đà lạt luôn xứng đáng là thành phố sinh
X
T
thái của nước ta.
I.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở khảo sát thực đòa, thu thập số liệu, kết hợp với các tài liệu có
M
sẵn, đồ án nghiên cứu đưa ra quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt
của thành phố Đà Lạt trước tình hình chất thải rắn sinh hoạt ngày càng gia tăng,
có khả năng gây nhiều tác hại đến con người và môi trường trong một tương lai
không xa. Góp phần bảo vệ môi trường, giữ cho thành phố Đà Lạt luôn xanh –
sạch – đẹp.
I.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỒ ÁN
Nội dung nghiên cứu của đồ án bao gồm :
Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt.
Giới thiệu tổng quan về công nghệ sản xuất phân Compost trong nước và
X
T
Phương pháp nghiên cứu là những nguyên tắc và cách thức hoạt động khoa
học nhằm đạt tới chân lý khách quan dựa trên cơ sở của sự chứng minh khoa học.
Theo đònh nghóa này, cần phải có những nguyên tắc và phương pháp cụ thể, mà
M
dựa theo đó các vấn đề được giải quyết.
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác thải sinh hoạt tại thành
phố Đà Lạt là nghiên cứu mối quan hệ từ nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
đến khâu xử lý cuối cùng. Từ đó đưa ra được phương pháp xử lý phù hợp nhất đối
với chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt.
I.6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
I.6.2.1. Phương pháp khảo sát thực tế
Thông qua giấy giới thiệu của trường và văn phòng Khoa Kỹ thuật Môi
trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ, Sở Tài nguyên Môi trường Tỉnh Lâm Đồng,
phòng tổ chức Công ty quản lý công trình Đô thò thành phố Đà Lạt đã bố trí cho
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 3
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
em được về Đội Vệ sinh Môi trường Đô thò thành phố Đà Lạt để khảo sát thực tế
tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn hiện nay của thành phố Đà
rác hiện tại của thành phố.
Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của các công nghệ xử lý rác.
Phân tích chi phí, lợi ích trong công tác xử lý rác sinh hoạt bằng phương
pháp chế biến phân Compost.
I.6.2.4. Phương pháp mô hình hóa môi trường
Phương pháp này được sử dụng trong đồ án để dự báo dân số và tốc độ
phát sinh chất thải rắn trên đòa bàn thành phố Đà lạt từ nay đến năm 2020 thông
qua mô hình sinh trưởng – phát triển (mô hình Euler cải tiến) trên cơ sở số liệu
dân số hiện tại và tốc độ tăng trưởng dân số.
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 4
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
Mô hình Euler cải tiến là mô hình mang tính toán học giúp tính toán, dự
báo trên một khoảng thời gian dài với công thức như sau :
Ni +1 = Ni + r t Ni + 1/ 2
Ni + 1/ 2 = 1 ( N i + 1 + Ni)
2
N i+ 1 = Ni + r t Ni
Trong đó :
r
t
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 5
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
CHƯƠNG II :
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.1. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH
PHỐ ĐÀ LẠT
II.1.1. Nguồn gốc
Đà Lạt là một thành phố cao nguyên có khí hậu trong lành, mát mẻ quanh
năm, cùng với những thắng cảnh và kiến trúc độc đáo đã thu hút đông đảo khách
du lòch trong nước và nước ngoài. Trong vài năm trở lại đây, thành phố Đà Lạt
đang cùng cả nước tiến lên quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những
N
thành tựu đáng kể trong nhiều lónh vực. Khác với các đô thò lớn khác nền công
.V
nghiệp của Đà Lạt chủ yếu là công nghiệp “không khói”, mũi nhọn là ngành du
lòch.
X
T
II.1.2. Thành phần
Bảng 2.1 : Thống kê thành phần rác thải sinh hoạt.
STT
Thành phần
rác thải
Hộ gia
Cơ quan,
đình
xí nghiệp
(%)
(%)
3
1
Giấy
15
2
Nilon
1
5
18
3
N
.V
X
T
0.1
Chợ
1
0.5
1
0.5
73.4
94.5
70
Chất thải hữu cơ
80
2
Nilon
3
3
Giấy
5
4
Kim loại
1
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 7
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
5
hiện nay, kể cả đô thò lớn như thành phố Hồ Chí Minh). Được sự ủy thác của
Công ty Quản lý công trình đô thò thành phố Đà lạt, đội Môi trường đô thò đã
thành lập các tổ chuyên trách làm nhiệm vụ thu gom, vận chuyển rác cũng như
các vấn đề liên quan.
M
II.1.4.1.1. Tổ chức lao động
Cán bộ quản lí : 8 người.
Kế toán : 1 người.
Bảo vệ : 1 người.
Tổng số công nhân lao động gồm 223 người được chia làm các tổ :
Tổ 1 : 27 người (phụ trách phường I và II).
Tổ 2 : 30 công nhân (phụ trách phường II và III).
Tổ 3 : 30 công nhân (phụ trách phường III, IV và V).
Tổ 4 : 28 công nhân (phụ trách phường V, VI, VII và VIII).
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 8
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
Tổ 5 : 30 công nhân (phụ trách phường IX, X, XI, XII và 2 xã
Xuân Thọ, Xuân Trường).
Tổ 6 : 23 công nhân (phụ trách phường I, gồm khu vực chợ Đà
Lạt).
Tổ xe đạp
M
Xe thu gom : có 2 loại là :
Xe thô sơ : 15 chiếc xe đạp để công nhân nhặt rác bay vương vãi, lưu
động; 210 chiếc xe đẩy tay có dung tích 0.6 m3 – 1 m3, đối tượng lấy
rác là rác quyét đường, rác từ hộ dân, rác từ chợ, rác cơ quan, khách
sạn, …
Xe cơ giới : Xe ép chuyên dùng, đối tượng lấy rác là rác từ các hộ
dân, rác từ chợ, rác cơ quan, khách sạn, …
Ngoài ra còn có một số phương tiện khác phục vụ công tác thu gom cho
đội.
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 9
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
II.1.4.1.3. Hoạt động của lực lượng thu gom
a) Quét các hè đường, lòng đường
Để thuận lợi cho việc thu gom rác, công ty đã chia quét lòng đường ra làm
4 cấp độ để đảm bảo vệ sinh cũng như chi phí mang lại hiệu quả cao nhất do tính
chất và số lượng rác của mỗi tuyến đường khác nhau. Đồng thời tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác quản lí và tránh tình trạng tồn đọng rác trên đường phố.
Đối với đường cấp độ 1 : Đây là tuyến đường mà số lượng rác trong ngày
rất lớn, vì số lượng dân sống tập trung đông và số lượng xe chạy trong
ngày rất nhiều, do vậy công ty đã bố trí quét 4 lần trong ngày. Với một số
tuyến đường tiêu biểu như : Khu vực Khu Hòa Bình …
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 10
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
Khu vực phường II : Vì lượng rác thải trong ngày nhiều hơn khu vực
phường I do đó số lượng xe thu gom là 2 chiếc : một xe loại 2.5 tấn và một
xe loại 4 tấn. Việc lấy rác trong ngày thường là từ 3 đến 4 lần.
Khu vực phường III : Đây là phường có lượng rác trong ngày lớn nhất trong
tất cả các phường trong thành phố nên được công ty điều động 2 xe 4 tấn.
Thời gian lấy rác luôn từ 2 đến 4 lần trong ngày.
Khu vực phường IV : Với xe thu gom là loại xe 4 tấn, việc lấy rác luôn liên
tục từ 2 đến 3 lần trong ngày.
Khu vực phường V và phường VI : Xe thu gom là 2 xe 4 tấn, luôn đảm bảo
việc lấy rác từ 2 đến 3 lần trong ngày.
N
Khu vực phường VII : Xe thu gom là một xe IFA 5 tấn, luôn đảm bảo lấy
rác từ 1 đến 2 lần trong ngày.
.V
Khu vực phường VIII : Xe thu gom là loại xe 4 tấn luôn đảm bảo thu gom
rác từ 1 đến 2 lần trong ngày.
X
T
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
II.1.4.2. Xử lý
Chất thải sau khi thu gom được các xe vận chuyển đến bãi rác để xử lý.
Bãi rác thành phố Đà Lạt được UBND Tỉnh Lâm Đồng cấp với diện tích 12 ha
đất, là vùng đất trủng đồi núi, nằm về phía Tây Bắc thành phố Đà Lạt, khoảng
cách gần nhất khu dân cư là 5 km. Được sử dụng từ năm 1996 đến nay.
Sau khi rác được chở đến bãi, sẽ có một đội ngũ công nhân phân loại rác
để thu gom lại những bao nilon lớn để tái chế, còn lại đều bò tiêu hủy.
Hiện tại công tác xử lý hàng ngày chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp.
Nhưng thực tế chỉ có phun chế phẩm vi sinh EM chống mùi hôi, sau đó dùng xe ủi
đào đất để chôn.
N
II.1.5. Vấn đề môi trường tồn tại do khâu xử lý
Khâu phân loại, tái chế chất thải rắn tại bãi rác chưa phong phú, chỉ thu
.V
gom bao nilon. Trong khi đó thành phần rác thực phẩm rất nhiều, đặc biệt là phế
phẩm nông nghiệp (rau) và rác du lòch (nhà hàng, khách sạn) hoàn toàn có khả
X
T
năng phân hủy sử dụng làm phân bón hay ủ để thu khí Mêtan, đều bò đem đi chôn
bỏ một cách rất phung phí.
Chất hữu cơ đã bò phân hủy
+ CH4 + CO2 + khí khác.
Khí CH4 có thể gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường không khí, làm ngạt thở
đối với người, động vật ở bãi chôn lấp và các khu vực xung quanh.
Gốc sulfate có trong rác trong điều kiện kỵ khí có thể bò khử thành sulfide,
sau đó sulfide tiếp tục kết hợp với ion H+ để tạo thành Hydrosulfur, một chất có
mùi hôi khó chòu. Quá trình được diễn ra theo phương trình sau :
2 CH3 CHCOOH + SO42S2- + 2 H+
N
2CH3COOH + S2- + H2O + CO2
.V
H2 S
Các chất hữu cơ có chứa S2- khi phân hủy có thể tạo thành Methyl
X
T
Mercaptan và Axid Amino Butyric có mùi hôi đặc trưng. Methyl Mercaptan có
thể bò thủy phân tạo ra Methyl Alcohol và H2S .
Trong điều kiện hiếu khí, Acid Amin có trong rác hữu cơ được men phân
M
88
5
Trang 13
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
3–6
3.8
76
21
6 – 12
0.4
65
29
12 – 18
1.1
52
50
47
42 – 48
0.4
51
48
( Nguồn : Handbook of Solid waste Management, 1994)
N
Thành phần và tính chất khí sinh ra từ bãi chôn lấp
.V
Bảng 2.4 : Thành phần, tính chất khí sinh ra trong bãi chôn lấp chất thải
rắn sinh hoạt.
X
T
Thành phần
CH4
CO2
N2
Giá trò
100 – 120
Trang 14
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
Tỷ trọng
1.02 – 1.06
(Nguồn : Tài liệu Quản lý kỹ thuật của Đội Môi trường Đô thị tp. Đà Lạt)
II.1.5.2. Đối với môi trường đất
Những thành phần rác khó phân hủy, không tái sử dụng được như kim loại
nặng, sơn, sành sứ được chôn lấp ở bãi rác sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi
trường đất ở khu vực gần bãi chôn lấp nhất là khi có nhu cầu sử dụng vùng đất
này phục vụ cho nông nghiệp.
Đối với môi trường đất, vi sinh vật giữ vai trò cực kỳ quan trọng không thể
thiếu được trong chu trình chuyển hóa vật chất và tạo nên độ phì nhiêu cho đất.
Kim loại nặng được coi là yếu tố cần thiết cho cây trồng nhưng với nồng độ vượt
N
quá nhu cầu của vi sinh vật đất thì nó trở thành chất gây ô nhiễm môi trường đất.
.V
Chất thải rắn khi được thải vào môi trường đất sẽ làm phá hủy cấu trúc của
hệ keo trong đất dẫn đến việc giữ nước, giữ chất dinh dưỡng trong đất giảm.
Nước rỉ rác di chuyển trong bãi chôn lấp chất thải rắn sẽ làm tăng khả năng phân
hủy sinh học trong rác cũng như quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra
môi trường xung quanh.
Nước rỉ rác từ bãi chôn lấp rác thải có chứa chất hữu cơ và vô cơ (đặc biệt
là các ion kim loại nặng), trong quá trình phân hủy sinh học, hóa học … hình thành
các chất có khả năng gây ô nhiễm.
Lượng nước rỉ rác ở bãi rác thành phố Đà Lạt thải vào môi trường khoảng
N
40 – 120 m3/ngày, có chứa nồng độ các chất ô nhiễm khá cao.
Trong rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng trong giai
.V
đoạn lên men axit sẽ cao hơn so với giai đoạn lên men mêtan. Đó là do các axit
béo, các hợp chất Hydroxyl vòng thơm, Axit Humic và Axit Fulvic mới hình thành
X
T
tác dụng với kim loại tạo thành phức kim loại. Hoạt động của các vi khuẩn kỵ khí
khử Fe3+ thành Fe2+ sẽ kéo theo sự hòa tan của các kim loại khác. Ngoài ra, trong
nước rỉ rác có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại như các chất hữu cơ bò
M
Halogen hóa, các Hydrocarbon đa vòng thơm … chúng có thể gây đột biến gen,
gây ung thư. Các chất này sẽ thấm vào trong các nguồn nước ngầm, nước mặt gần
đó, sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng.
(trên 10 năm)
1
BOD5
2 000 – 20 000
10 000
100 – 200
2
TOC
1 500 – 20 000
6 000
80 – 160
3
COD
3 000 – 60 000
18 000
20 – 40
7
Nitrat
5 – 40
25
5 – 10
8
Tổng lượng Photpho
5 – 100
30
5 – 10
9
Othophotpho
20
4–8
3 000
200 – 1 000
6
6.6 – 7.5
50 – 1 500
250
50 – 200
20 – 3 000
500
100 – 400
Tổng lượng Fe
50 – 1 200
60
20 – 200
Sunfat
Các tác động của xử lý chất thải rắn không hợp lý
.V
Tạo nếp
Gây ùn
trường
sống kém
tắc giao
dòch bệnh
văn minh
thông
Môi
Làm hại
Tạo môi
trường
sức khoẻ
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt
II.2. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PHÂN
COMPOST TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
II.2.1. Tổng quan về công nghệ sản xuất phân Compost
II.2.1.1. Đònh nghóa
Quá trình chế biến Compost : là quá trình phân hủy sinh học và ổn đònh của
chất hữu cơ dưới điều kiện nhiệt độ thermophilic. Kết quả của quá trình phân hủy
sinh học tạo ra nhiệt, sản phẩm cuối cùng ổn đònh, không mang mầm bệnh và có
ích trong việc ứng dụng cho cây trồng.
Compost : là sản phẩm của quá trình chế biến Compost, đã được ổn đònh
như chất mùn, không chứa các mầm bệnh, không lôi kéo các côn trùng, có thể
N
được lưu trữ an toàn và có lợi cho sự phát triển của cây trồng.
.V
Quá trình làm Compost có thể phân ra làm các giai đoạn khác nhau dựa
theo sự biến thiên nhiệt độ :
Pha thích nghi : là giai đoạn cần thiết để vi sinh vật thích nghi với môi
X
T
trường mới.
hơn ngưỡng này phân Compost sẽ không đạt tiêu chuẩn về mầm bệnh.
Bảng 2.6 : Khoảng nhiệt độ của các nhóm vi sinh vật.
Nhiệt độ (0C)
Loại vi sinh vật
N
Khoảng dao động
.V
Psychrophillic (VSV ưa lạnh)
Mesophilic (VSV ưa ấm)
10 - 30
X
T
Thermophilic (VSV ưa nhiệt)
Tối ưu
15
40 – 50
35
45 - 75
trình chuyển hóa và oxi hóa phần Cacbon dư cho đến khi đạt đến tỉ lệ thích hợp,
do đó thời gian cần thiết cho quá trình làm Compost sẽ bò kéo dài và sản phẩm
thu được ít mùn. Còn tỉ lệ C : N thấp sẽ bò thất thoát dưới dạng NH3.
Phospho là nguyên tố cần thiết cho sự phát triển của cây trồng.
Lưu huỳnh ảnh hưởng đến việc sinh ra các hợp chất bay hơi, tạo ra mùi
trong khối Compost.
II.2.1.2.4. Chất hữu cơ
Tốc độ phân hủy tùy thuộc vào thành phần và tính chất của chất hữu cơ.
N
Chất hữu cơ hòa tan dễ dàng phân hủy hơn chất hũu cơ không hòa tan. Lignin và
Ligno – Celluloses là những chất phân hủy rất chậm.
.V
II.2.1.2.5. Vi sinh vật
Không có gì có lợi bằng sự tham gia của vi sinh vật đối với việc chế biến
X
T
phân Compost từ rác hữu cơ. Trong quá trình chế biến có sự tham gia của nhiều
loại vi sinh vật khác nhau như nấm, vi khuẩn, khuẩn tia (Actinomycetes) đôi khi
còn có tảo …
M
Hầu hết hoạt động của vi sinh trong quá trình chế biến Compost có đến 80
II.2.1.2.7. pH
pH sẽ thay đổi trong quá trình chế biến Compost tùy thuộc thành phần và
.V
tính chất của rác thải.
pH tối ưu cho quá trình chế biến Compost là 6.5 – 8. pH của vật liệu ban
X
T
đầu từ 5.5 – 9 là có thể chế biến Compost một cách hiệu quả. pH giảm xuống 6.5
– 5.5 ở giai đoạn tiêu hủy ưa mát và sau đó tăng nhanh ở giai đoạn ưa ấm tới 8,
sau giảm nhẹ xuống tới 7.5 trong giai đoạn lạnh. pH của sản phẩm cuối cùng
M
thường dao động trong khoảng 7.5 – 8.5. Cần tránh không cho pH của nguyên
liệu chế biến Compost quá cao vì khi đó sẽ dẫn đến tình trạng thất thoát Nitơ
dưới dạng NH3.
II.2.1.2.8. Kích thước hạt
Kích thước hạt là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng giữ ẩm và tốc độ phân
hủy. Quá trình phân hủy hiếu khí sẽ xảy ra trên bề mặt hạt, hạt có kích thước nhỏ
sẽ có tổng diện tích bề mặt lớn nên sẽ tăng sự tiếp xúc với Oxi, do đó có thể làm
tăng tốc độ phân hủy trong một khoảng độ xốp nhất đònh.
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
công. Độ xốp thấp sẽ hạn chế sự vận chuyển Oxi nên hạn chế giải phóng nhiệt
và làm tăng nhiệt độ trong khối ủ Compost. Còn độ xốp cao có thể làm cho nhiệt
độ trong khối ủ Compost thấp, không đảm bảo tiêu diệt hết mầm bệnh.
II.2.1.2.10. Mức độ và tốc độ ủ
Không nên để quá trình lên men diễn ra quá lâu vì sẽ còn ít chất hữu cơ là
những chất làm giàu cho đất.
N
Quá trình ủ không được quá nhiệt, không nên để mất Nitơ, không nên quá
lạnh.
.V
Việc giảm lượng chất hữu cơ là một chỉ thò tốt để đánh giá mức độ ủ, và
mức độ phân hủy, tốc độ ủ có thể đo bằng tốc độ tiêu thụ Oxi.
X
T
II.2.1.3. Chất lượng Compost
Chất lượng Compost được đánh giá dựa trên 4 yếu tố sau :
Mức độ lẫn tạp chất (thủy tinh, plastic, đá, kim loại nặng, chất thải hóa
M
học, thuốc trừ sâu …)
Nồng độ các chất dinh dưỡng (dinh dưỡng đa lượng N, P, K; dinh dưỡng
trình làm phân Compost, các chất này được chuyển hóa thành các chất vô
.V
cơ như NO3- và PO43- thích hợp cho cây trồng. Sử dụng sản phẩm của quá
trình chế biến Compost bổ sung dinh dưỡng cho đất có khả năng làm giảm
X
T
thất thoát dinh dưỡng do rò rỉ vì các chất dinh dưỡng vô cơ tồn tại chủ yếu
dưới dạng không tan. Thêm vào đó, lớp đất trồng cũng được cải tiến nên
giúp rễ cây phát triển tốt hơn.
M
Làm khô bùn : Phân người, phân động vật và bùn chứa khoảng 80 – 95%
nước, do đó chi phí thu gom vận chuyển và thải bỏ cao. Làm khô bùn trong
quá trình ủ phân Compost là phương pháp lợi dụng nhiệt của chất thải sinh
ra từ quá trình phân hủy sinh học làm bay hơi nước chứa trong bùn.
Tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng : Trong đất bón phân vi sinh với
hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ hấp thụ và chủng loại vi sinh vật đa dạng
không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn giảm thiểu bệnh cho
cây trồng hơn so với các loại phân hóa học khác.
II.2.1.4.2. Hạn chế
Hàm lượng chất dinh dưỡng trong Compost không thoả mãn yêu cầu.
SVTH : Cao Nguyễn Thò Thanh Thúy
Trang 25