BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VĂN LÝ
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG
CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ
HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ
1 MINH - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VĂN LÝ
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG
CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ HUYỆN
HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
em là đúng sự thật và em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
TÁC GIẢ
PHẠM VĂN LÝ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VPTK:
Văn phòng – Thống kê
UBND:
Ủy ban nhân dân
HĐND:
Hội đồng nhân dân
SL:
Số lượng
1
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
1.2.7. Đánh giá năng lực thông qua ý kiến về mức độ hài lòng của người
dân đối với dịch vụ mà công chức văn phòng-thống kê cấp xã cung cấp.......44
Tiểu kết chương 1........................................................................................46
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA
CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG THỐNG KÊ CẤP XÃỞ HUYỆN HÒN
ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG...........................................................................47
2.1. Khái quát về đặc điểm, tình hình huyện Hòn đất, tỉnh Kiên Giang…....47
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân số.................................................................47
2.1.2. Kinh tế - xã hội..................................................................................48
2.1.3.Đơn vị hành chính cấp xã...................................................................49
2.2. Đánh giá thực trạng năng lực công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
huyện Hòn Đất theo tiêu chí do pháp luật quy định………………...…….....40
2.2.1.Tổng quan về công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã huyện Hòn
Đất...................................................................................................................50
2.2.2. Đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn
phòng – Thống kê cấp xã qua khảo sát............................................................55
2.3. Nhận xét, đánh giá tổng hợp về năng lực thực thi công vụ của công chức
Văn phòng – Thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, Kiên Giang giai
đoạn 2011-2016...............................................................................................64
2.3.1. Những điểm mạnh.............................................................................64
2.3.2. Những điểm hạn chế..........................................................................65
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế.......................................................68
Tiểu kết chương 2........................................................................................72
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG
VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ Ở
HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG.................................................74
3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ là cơ sở nâng cao
năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung, và công chức Văn phòng
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Chính quyền địa phương cấp xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống
chính quyền bốn cấp của nước ta hiện nay, đây là cấp chính quyền trực tiếp
với nhân dân, gần nhân dân nhất. Chính quyền địa phương cấp xã gồm có Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã, trong đó Ủy ban nhân dân cấp xã
là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng, nhiệm vụ điều
hành mọi hoạt động hành chính ở địa phương, trực tiếp quản lý và sử dụng
công chức cấp xã. Công chức cấp xã là những người giải quyết trực tiếp nhiều
công việc của nhân dân không qua cấp trung gian, có vai trò rất quan trọng
trong việc tham mưu cho chính quyền địa phương cấp xã tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và giữ
vững quốc phòng địa phương.
Công chức cấp xã gồm 07 chức danh: Chỉ huy trưởng Quân sự; Trưởng
Công an; Văn phòng – thống kê; Tư pháp – hộ tịch; Địa chính – xây dựng –
đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp
– xây dựng và môi trường (đối với xã); Văn hóa – xã hội. Trong đó, công
chức Văn phòng – thống kê có vị trí quan trọng trong đội ngũ công chức cấp
xã.
Công chức VPTK đảm nhiệm nhiệm vụ:Văn phòng HĐND&UBND
Văn thư lưu trữ, thủ quỹ, thống kê, , công tác thi đua khen thưởng, công tác
nội vụ.
1
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đó, đòi hỏi công chức VPTK phải có đủ
Số lượng công chức cấp xã (bao gồm 12 xã và 2 Thị trấn) đến cuối năm
2016 là 172 người. Theo định mức biên chế là 177. Như vậy huyện chưa tuyển
đủ biên chế được giao cho công chức cấp xã nói chung
Tất cả các xã, thị trấn được bố trí có 38 công chức văn phòng – thống
kê, bình quân 2,7 công chức Văn phòng – thống kê/ 1 xã. Những năm qua,
công chức Văn phòng – thống kê cấp xã được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp làm việc, văn hóa công sở, kỹ năng
giao tiếp công vụ, đạo đức công vụ. Tuy nhiên, xét trên khía cạnh năng lực,
đội ngũ công chức cấp xã của Huyện Hòn đất vẫn còn khá nhiều vấn đề phải
được hoàn thiện, nâng cao để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp cải cách hành
chính và xây dựng nông thôn mới.
Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống
kê cấp xã ở huyện Hòn Đất , tỉnh Kiên Giang là nhiệm vụ cấp thiết, góp phần
nâng cao chất lượng hoạt động hành chính, đáp ứng được đòi hỏi của sự phát
triển kinh tế xã hội ở địa phương trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước, xây dựng nông mới, xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu
đẹp. Đáp ứng những tiêu chuẩn chức danh mới đối với công chức cấp xã
trong giai đoạn tới.
Nhiệm vụ được giao cho công chức VPTK nói chung rất đa dạng, trên
nhiều lĩnh vực. Trong khi đó, năng lực của đội ngũ công chức VPTK cả
huyện còn nhiều bất cập.
Đề tài luận văn “Năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng
– Thống kê cấp xã ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang”, nhằm góp phần
hoàn thiên, nâng cao năng lực của công chức VPTK Huyện Hòn đất để đáp
ứng đòi hỏi của địa phương.
3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn.
Liên quan đến cán bộ, công chức nói chung đã được nhiều chuyên gia,
xã có 7 nhóm khác nhau, mỗi luận văn đề cập đến một nhóm công chức.
Võ Thị Thu Thủy (2009), Nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán
bộ, công chức cấp xã ở Thành phố Cần Thơ;
Vũ Văn Thi (2013), Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức
cấp xã huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội;
Trương Thị Ngọc Anh, Nâng cao năng lực công chức tư pháp xã (qua
thực tiễn một số huyện trên địa bàn TP. Hà Nội;
Đồng Thị Vân Anh (2014), Năng lực công chức tư pháp hộ tịch các xã
huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương;
Nguyễn Mạnh Hà (2012), Nâng cao năng lực thực thi công vụ cho công
chức cấp xã tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.
Tất cả các luận văn trên đều có kết cấu thống nhất và đề cập chung đối
với tất cả công chức cấp xã. Do đó, cũng giúp để nhìn nhận bức tranh chung
của công chức cấp xã về năng lực.
Công chức cấp xã và năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã,
bên cạnh những tiêu chí chung, mang tính pháp lý (năng lực pháp lý) thì năng
lực của công chức cấp xã phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của từng xã ở
từng huyện. Do đó, các luận văn trên giúp để có cùng chung suy nghĩ, nhưng
để giải quyết cụ thể cho các xã của từng huyện đòi hỏi phải có công trình
riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận chung về năng lực thực thi công vụ của công chức
cấp xã, cũng như thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã
Huyện Hòn Đất, Tỉnh Kiên giang, phải đưa ra được những đề xuất có thể
5
nâng cao năng lực thực thi công việc của công chức cấp xã Huyện Hòn Đất
phù hợp với điều kiện của huyện Hòn Đất.
chính cấp xã của Huyện Hòn Đất
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, lịch sử; Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và người làm
việc cho nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện bởi các phương pháp như: phương pháp
thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp để xử lý tài liệu thu thập.
Về Phương pháp điều tra xã hội học. Tác giả thực hiện điều tra xã hội
học thông qua điều tra chọn mẫu bằng cách phát phiếu bảng hỏi với 3 mẫu
phiếu:
Phiếu 1- Hỏi chính công chức văn phòng – thống kê và một số công
chức khác. Ngoài 38 công chức văn phòng – thống kê mỗi xã chọn ngẫu
nhiên 2 công chức. Tổng số 66 người
Phiếu 2- Hỏi cán bộ chủ chốt cấp xã. Mỗi xã hỏi chủ tịch hoặc phó chủ
tịch và 1 cán bộ chủ chốt của các tổ chức chính trị - xã hội: 30 người
Phiếu 3- Hỏi người dân ở các xã của Huyện Hòn Đất. Mỗi xã 10 người.
Tổng số 140 người
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp
phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê các số liệu từ Phòng Nội vụ Huyện
Hòn Đất.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn lý giải một số vấn đề liên quan đến năng lực thực thi công vụ
của công chức cấp xã tạo cơ sở lý luận trong việc nâng cao năng lực thực thi
1.1.Công chức cấp xã, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
1.1.1. Khái niệm công chức cấp xã và công chức Văn phòng – Thống
kê cấp xã
Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc
gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường
xuyên trong cơ quan nhà nước. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hnh
thành và gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Khái niệm
công chức lần đầu tiên được nêu là trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950
của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, theo đó thì công chức là:
“những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức
vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là
công chức theo quy chế này, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định”.
Đến năm 1991, mới có văn bản mới thay thế và quy định công chức khác với
công chức trước đây (Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng
Bộ trưởng). Và đến năm 1998, Pháp lệnh (Pháp lệnh Cán bộ công chức ngày
26/02/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) quy định chi tiết hơn về cụm từ
công chức.
Theo Luật cán bộ, công chức quy định “... Công chức cấp xã là công dân
Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc
Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước”[33].
Theo nghị định của Chính phủ, quy định công chức cấp xã gồm các chức
danh sau:
9
- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn phòng – Thống kê;
- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
pháp luật quy định[18].
1.1.2. Đặc điểm công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
Cũng như các công chức cấp xã khác, công chức Văn phòng – Thống
kê hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và cơ quan quản lý cấp trên. Công
chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là một bộ phận rất quan trọng trong đội
ngũ công chức xã, trực tiếp tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã tổ chức thực
hiện các hoạt động hành chính ở địa phương, là những người hằng ngày tiếp
xúc trực tiếp với nhân dân để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải quyết các vấn đề liên
quan đến đời sống của nhân dân do đó phải đáp ứng được các yêu cầu về
phẩm chất, năng lực và trình độ theo quy định đối với công chức. Bên cạnh
đó, công chức Văn phòng – Thống kê có những đặc điểm riêng như sau:
- Công chức VPTK hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Công chức
Văn phòng – Thống kê cấp xã không chỉ hình thành từ nguồn tuyển dụng
mới, theo chính sách thu hút, cử tuyển mà còn do chuyển đổi chức danh cán
bộ chuyên trách ở các tổ chức đoàn thể cấp xã theo yêu cầu của công tác tổ
chức nhân sự cần phải bố trí sắp xếp lại.
- Công chức VPTK chịu sự quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của
nhiều cơ quan chuyên môn cấp huyện. Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp cơ quan
hành chính thấp nhất trong hệ thống cơ quan hành chính 4 cấp ở nước ta. Về
chuyên môn của công chức nói chung, của công chức Văn phòng – Thống kê
nói riêng chịu sự quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của các phòng chuyên
11
môn cấp huyện. Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã đảm nhận nhiều
nhóm loại công việc như : công tác văn phòng, văn thư, lưu trữ, thống kê, tiếp
công dân, thi đua - khen thưởng, nội vụ, việc đảm bảo điều kiện cho hoạt
động của Ủy ban nhân dân cấp xã. Do đó, hoạt động chuyên môn của công
- Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã thuộc bộ phận gắn chặt với
hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã. Với chức năng đảm bảo các điều kiện
phục vụ chính quyền cấp xã hoạt động, bộ phận văn phòng trực tiếp thực hiện
rất nhiều loại công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân cấp xã. Thông qua bộ phận văn phòng, công tác thông tin
tổng hợp, hành chính, quản trị… của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
cấp xã được thực hiện.
- Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là đầu mối của nhiều lĩnh
vực quản lý nhà nước trên địa bàn như: Công tác thống kê, cải cách hành
chính, thi đua – khen thưởng, văn thư – lưu trữ, công tác nội vụ. Chính vì thế,
đòi hỏi công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã phải có năng lực để giải
quyết hoặc tham mưu giải quyết công việc thuộc lĩnh vực phụ trách theo quy
định của pháp luật.
1.1.3. Vị trí, vai trò của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
Cùng với đội ngũ công chức trong hệ thống chính trị ở xã, công chức
Văn phòng – Thống kê cấp xã là người thay mặt cho nhà nước thực thi công
vụ, phục vụ nhân dân địa phương theo thẩm quyền được pháp luật quy định.
Hoạt động thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã góp
phần phát huy quyền dân chủ, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Cũng như những công chức khác, thông qua hoạt động thực thi công vụ của
mình, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là người trực tiếp tuyên
truyền, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước tới nhân dân địa phương để những chủ trương, đường
13
lối, chính sách đó thực sự đi vào cuộc sống. Nếu công chức Văn phòng –
Thống kê cấp xã không có trình độ, năng lực thì các chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dù có đúng, có trúng đến đâu
thì cũng khó có thể đạt được hiệu quả trong thực tiễn.
- Mối quan hệ đối với UBND cấp xã:
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã đảm nhiệm công tác Văn
phòng Uỷ ban xã có chức năng tham mưu giúp UBND xã tổ chức điều hành
công việc lãnh đạo của Ủy ban; tham mưu xây dựng chương trình, kế hoạch
công tác thường kỳ của Ủy ban; giúp UBND xã ban hành các quy chế và tổ
chức thực hiện quy chế làm việc; thực hiện công tác tiếp công dân, nâng cao
hiệu quả việc xử lý tại chỗ những kiến nghị và khiếu nại của công dân; giúp
Ủy ban nhân dân xã thực hiện công tác văn thư, công tác lưu trữ, đảm bảo cơ
sở vật chất và phương tiện làm việc của UBND xã.
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có nhiệm vụ xây dựng
chương trình công tác thường kỳ của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
xã bảo đảm sự ăn khớp, thống nhất với chương trình công tác của Đảng uỷ xã.
- Mối quan hệ với Hội đồng nhân dân cấp xã: Hội đồng nhân dân là cơ
quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp
hành của Hội đồng nhân dân. Ở địa phương cấp xã, Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân là hai tổ chức khác nhau, song có quan hệ mật thiết với nhau.
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân muốn đến được với dân, chủ yếu thông
qua hoạt động của Ủy ban nhân dân. Hội đồng nhân dân cấp xã hiện nay
không có văn phòng. Vì vậy, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có
trách nhiệm rất lớn với Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua hai loại công
tác: Một là, công tác thông tin tổng hợp qua việc theo dõi tình hình chung của
địa phương, công chức Văn phòng – Thống kê có trách nhiệm bảo đảm thông
tin cho Hội đồng nhân dân hoạt động; tham mưu xây dựng chương trình công
15