BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ THANH HÙNG
CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Lê Thị Vân Hạnh
Phản biện 1: TS. Hà Quang Thanh
Phản biện 2: TS. Nguyễn Văn Bảng
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp 207, Nhà A - Hội trường bảo vệ luận
của Nhà nước trong cuộc sống; trực tiếp giải quyết các công
việc liên quan đến đời sống của Nhân dân; là cầu nối giữa
Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Nâng cao chất lượng đội ngũ này
sẽ góp phần giúp chính quyền cấp cơ sở hoạt động hiệu lực,
hiệu quả củng cố niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với sự
lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
1
Thời gian qua, Tỉnh uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban
Nhân dân tỉnh Kiên Giang nói chung, Huyện uỷ, Hội đồng
Nhân dân, Ủy ban Nhân dân huyện Gò Quao nói riêng, đã tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện tốt nhất có thể để thu hút,
đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã. Năm 2014, theo phân cấp
của UBND tỉnh Kiên Giang, UBND huyện Gò Quao đã xây
dựng và ban hành Kế hoạch tuyển dụng công chức cấp xã sau
khi được Sở Nội vụ thẩm định về chỉ tiêu biên chế cần tuyển.
Việc tổ chức thi tuyển được thực hiện công khai minh bạch,
theo đúng quy định của Chính phủ và Bộ Nội vụ, kết quả đã
tuyển dụng những tri thức trẻ có trình độ đại học chính quy về
công tác tại các xã trên địa bàn huyện, tổng số lượng công chức
được tuyển là 16 công chức. Trên cơ sở quy hoạch cán bộ lãnh
đạo, quản lý cấp xã giai đoạn 2015-2020 và kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng hàng năm, đã đào tạo, bồi dưỡng 325 lượt cán bộ,
công chức.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đến nay chất lượng
công chức xã ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang vẫn còn hạn
chế, bất cập. Phần lớn công chức xã do chuyển từ cơ chế cũ,
được hình thành từ nhiều nguồn nên cơ cấu chưa đồng bộ, trình
độ, phẩm chất, năng lực một số chưa đáp ứng được yêu cầu
đề này ở huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang, vì vậy tác giả chọn
đề tài “Chất lượng công chức xã huyện Gò Quao, tỉnh Kiên
Giang” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp phần nâng
cao hơn nữa chất lượng công chức cấp xã ở huyện Gò Quao,
tỉnh Kiên Giang, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mà
Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Gò Quao giao cho;
đáp ứng được tiêu chuẩn về trình độ cho cán bộ công chức, tiêu
chí về xây dựng nông thôn mới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề công chức cấp xã đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu. Liên quan trực tiếp đến việc nâng cao
chất lượng công chức, có một số công trình tiêu biểu, đó là:
3
- Dương Hương Sơn (2007), Nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị
hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh.
- Lê Thị Lý (2003), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức xã trước yêu cầu đổi mới, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc
gia, Hà Nội.
- Đỗ Thị Thu Hằng (2004), Nâng cao năng lực của đội
ngũ công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay - Luận văn
Thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, Hà
Nội.
Các tác giả đã đề cập khá hoàn chỉnh về cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã; đánh giá thực trạng năng lực công chức cấp
Học viện Hành chính, Hà Nội. Nội dung của luận văn đã đề cập
nhiều đến lý luận về năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công
chức phường, thực trạng chất lượng thực thi công vụ của công
chức phường ở các quận của thành phố Hà Nội. Luận văn cũng
đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi
công vụ của công chức cấp xã. Đây là những nội dung bổ ích
mà tác giả luận văn này có thể tham khảo. Tuy nhiên, toàn bộ
nội dung của luận văn đề cập đến chất lượng thực thi công vụ ở
một góc độ khác, chủ yếu là ở thành thị chưa sát với vùng nông
thôn như Huyện Gò Quao.
- Nguyễn Thị Bích Hường (2006), Chất lượng đào tạo
cán bộ chủ chốt của HTCT xã, phường, thị trấn ở Trường Đào
tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội trong giai đoạn
hiện nay, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
5
- Vũ Thuý Hiền (2012), Năng lực thực thi công vụ của
công chức xã trên địa bàn tỉnh Lai Châu, Luận văn thạc sĩ quản
lý hành chính công.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết liên quan đến chất lượng
của công chức chính quyền cấp xã. Các công trình đã đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức cấp xã nói chung.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
nào đề cập đến vấn đề chất lượng công chức xã trong giai đoạn
hiện nay trên địa bàn huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Đây là
vấn đề tuy không mới nhưng vẫn luôn mang tính thời sự để tác
đề xuất có giá trị tham khảo đến năm 2020 và những năm tiếp
theo.
Đối tượng hảo át: Luận văn tiến hành khảo sát 7
chức danh công chức chuyên môn của 11 xã thuộc huyện Gò
Quao.
. Phư ng ph p luận và phư ng ph p nghiên cứu
của luận văn
- hư ng h lu n: Luận văn được thực hiện trên cơ
sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch s .
-
hư ng h
nghiên cứu: Luận văn s
dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu; phương pháp thống
kê, phương pháp dự báo
Trong đó coi trọng phương pháp
tổng kết thực tiễn
6. Nh ng đ ng g p m i của luận văn
Luận văn làm r thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc nâng cao chất lượng công chức, sự phù hợp của vị trí việc
7
Chư ng 1: CÔNG CHỨC XÃ VÀ CHẤT LƯỢNG
CÔNG CHỨC XÃ
1.1. Cấp xã và công chức công xã
1.1.1. Kh i niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm cấp xã
1.1.1.1. Kh i niệm cấp xã
Cấp xã hiện nay là tên gọi chung của các đơn vị hành
chính địa phương trong hệ thống các đơn vị hành chính ở Việt
Nam. Thuật ngữ đơn vị hành chính cấp xã được dùng để chỉ
toàn bộ các đơn vị hành chính cấp cơ sở bao gồm xã, phường,
thị trấn.
1.1.1.2. Vị trí, vai trò chính quyền cấp xã
- Chính quyền cấp xã là cấp hành chính Nhà nước gần
dân và trực tiếp giải quyết các mối quan hệ xã hội, đồng thời là
nơi biểu hiện tập trung nhất, r nhất những ưu việt hay hạn chế
của chế độ xã hội chủ nghĩa.
- Chính quyền xã là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả
của chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và
Nhà nước.
- Chính quyền xã trực tiếp quản lý các hoạt động kinh
tế xã hội của địa phương. Những vấn đề của địa phương mà xã
có thẩm quyền giải quyết thì chính quyền xã đại diện cho Nhân
dân địa phương trực tiếp giải quyết. Là nơi thể hiện, đồng thời
phản ánh tâm tư nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân địa
phương.
9
1.1.1.3. Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Thứ nhất, chính quyền xã là cấp cơ ở trực tiếp tiếp xúc
+ Tài chính - Kế toán;
Tư pháp - Hộ tịch;
Văn hoá - Xã hội.
Số lượng công chức cấp xã được bố trí theo đơn vị
hành chính, dao động khoảng từ 7 đến 13 công chức.
1.1.2.2. Vị trí, vai trò của công chức xã
Công chức xã có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là
chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt trong đời sống xã
hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đề
ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh, ngăn chặn, x lý
các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của
tầng lớp Nhân dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế,
văn hoá, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước.
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ công chức xã
Theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ
hướng dẫn chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển
dụng công chức xã, phường, thị trấn đã quy định nhiệm vụ cụ
thể của các chức danh công chức: Tài chính, Tư pháp - Hộ tịch,
Địa chính - Xây dựng, Văn phòng, Văn hoá - Xã hội, Công an,
Quân sự và đồng thời họ là những người trực tiếp thực hiện các
nhiệm vụ do Chủ tịch UBND xã giao. Mỗi chức danh công
chức xã thực hiện một chức năng, nhiệm vụ cụ thể gắn với vai
trò của họ, cho thấy yêu cầu đối với mỗi chức danh là khác
nhau. Đặc biệt, với một huyện có đông đồng bào dân tộc, hệ
11
thống kênh rạch chằng chịch chủ yếu sản xuất nông nghiệp với
những đặc trưng về tự nhiên, kinh tế - xã hội cần phải chú trọng
xác định tiêu chuẩn cụ thể của từng công chức.
viên chức. Bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác và
không nể nang, trù dập, thiên vị, hình thức.
1.2.2.1. Về phẩm chất chính trị
Đây là tiêu chuẩn đầu tiên, là điều kiện đối với mỗi
người công chức. Phẩm chất chính trị của đội ngũ công chức xã
được biểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt đối với lý tưởng
cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ
nghĩa xã hội. Phẩm chất chính trị của công chức cấp xã còn
biểu hiện thông qua thái độ phục vụ Nhân dân, tinh thần gương
mẫu trong công tác, tinh thần trách nhiệm đối với đời sống của
Nhân dân địa phương.
1.2.2.2. Trình độ và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ;
Trình độ văn hoá.;
Trình độ lý luận chính trị;
Trình độ quản lý hành chính nhà nước;
Tiêu chí đánh giá ỹ năng nghề nghiệp.
1.2.2.3. Tiêu chí đạo đức công vụ
Đạo đức là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn
mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng x của con
người trong mối quan hệ với nhau và mối quan hệ với xã hội.
1.2.2.4. Tiêu chí sức khoẻ
Sức khoẻ của mỗi con người được đánh giá qua nhiều
tiêu chí, song tiêu chí cơ bản nhất là thể lực và trí lực. Trí lực
13
được đánh giá thông qua sự minh mẫn linh hoạt trong phản ứng
x lý công việc.
1.2.2. . Kết quả thực hiện nhiệm vụ, sự hài lòng của
145 xã, phường, thị trấn (118 xã, 15 phường, 12 thị trấn); 102
xã loại 1, 42 xã loại 2 và 1 xã loại 3.
2.1.2 Đặc điểm công chức cấp xã tỉnh Kiên Giang
Căn cứ Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10
năm 2009 của Chính phủ, Quyết định số 16/2010/QĐ-UBND
ngày 26 tháng 7 năm 2010, ban hành Về việc ban hành quy
định về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với
cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt
động không chuyên trách ở cấp xã, ấp khu phố thuộc tỉnh Kiên
Giang. Tổng số công chức xã, phường, thị trấn đã bố trí 1.724
người. Trong đó trình độ chính trị từ trung cấp trở lên người
1.178 người chiếm 68,33%, số chưa qua đào tạo chính trị 546
người chiếm 31,67%; trình độ chuyên môn từ sơ cấp trở lên
1.703 người chiếm 98,78%, chưa qua đào tạo chuyên môn 21
người chiếm 1,22%.
15
2.2. Thực trạng chất lượng công chức xã trên địa
bàn huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
Gò Quao là huyện nông thôn thuộc tỉnh Kiên Giang.
Cách trung tâm hành chính của tỉnh khoản 50km; có diện tích
tự nhiên 43.950 ha, huyện có 10 xã, 01 thị trấn, với 100 ấp và
860 tổ nhân dân tự quản; dân số toàn huyện có 33.360 hộ, với
139.749 khẩu, so với các huyện trong tỉnh Kiên Giang thì
Huyện Gò Quao có tỷ lệ đông đồng bào dân tộc Khmer sinh
sống.
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đoàn kết gắn bó giữa các dân
tộc; có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác. Trong tổng
số công chức xã có 118/130 công chức là Đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2.2.3.4. Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề
nghiệp cần thiết
Về trình độ chuyên môn
Trình độ văn hóa
Trình độ chuyên môn
Trình độ lý luận chính trị
Trình độ ngoại ngữ, tin h c
ức độ đáp ứng hung năng lực cần thiết.
17
Hiệu quả thực thi công vụ
Kết quả thực hiện tại Bộ phận một c a ở UBND các
xã đã giải quyết xong 62.615 hồ sơ cho tổ chức và công dân,
trong đó: 50.092 hồ sơ trả đúng hạn (đạt tỷ lệ 80%), 12.460 hồ
sơ phải ra hạn thêm thời gian (chiếm tỷ lệ 11,8%); trễ h n 63 hồ
sơ, chiếm 0,10%.
2.2.3. . Đạo đức công vụ
Có thể thấy đạo đức công vụ của công chức cấp cơ sở
được thể hiện r nét qua hiệu quả thực thi công vụ và người dân
là những người đánh giá, nhận xét chính xác nhất.
Dựa vào đó, nhìn chung công chức xã của huyện đều có
phẩm chất, đạo đức tốt; có lối sống lành mạnh, ý thức kỷ luật
tốt và có tinh thần trách nhiệm với công việc. Vì vậy đã xây
các chế độ tiền lương, phụ cấp đối với công chức cấp cơ sở
không đủ đảm bảo cuộc sống bản thân và gia đình họ. do cơ chế
tuyển dụng công chức chuyên môn cấp xã trước đó để lại mặt
khác do ảnh hưởng của cơ chế xin – cho , thân quen nên
một bộ phận công chức chuyên môn cấp xã khi chưa được đào
tạo đã được nhận vào làm, sau đó được c đi đào tạo, bồi dưỡng
(chủ yếu theo hình thức ngắn hạn hoặc tại chức). Chính điều
này cũng ảnh hưởng đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa
đáp ứng nhu cầu công việc là tương đối phổ biến; do chính sách
đào tạo, bồi dưỡng chưa phù hợp, còn nhiều hạn chế; Công tác
quản lý, s dụng công chức ở một số xã hiệu quả chưa cao, lề
lối, tác phong làm việc và trách nhiệm của một số công chức xã
đã có thay đổi nhưng chưa có chuyển biến r nét, công tác đánh
giá, xếp loại công chức hàng năm từng lúc còn hạn chế.
19
Chư ng 3: PHƯ NG HƯ NG VÀ GI I PHÁP N NG
CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
3.1. Yêu cầu, phư ng hư ng nâng cao chất lượng
công chức xã
3.1.1. Yêu cầu đặt ra đối v i việc nâng cao chất
lượng công chức xã ở huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang
3.1.1.1. Yêu cầu của việc cải c ch hành chính
3.1.1.2. Yêu cầu của CNH-HĐH đất nư c
3.1.1.3. Yêu cầu của việc ph t huy vai trò của CQĐP
ở c c xã
3.1.1.4. Xuất phát từ yêu cầu, đòi h i thực tế CQĐP
phát sinh ở cơ sở.
3.2.2. Bố trí, sắp xếp sử dụng hợp lý c cấu công
chức tại c c xã
Tiếp tục rà soát, tổng hợp công chức xã không đạt tiêu
chuẩn theo quy định, công chức đạt chuẩn về trình độ nhưng có
độ tuổi cao, năng lực hạn chế chưa đủ điều kiện nghỉ hưu để
xem xét từng trường hợp cụ thể.
3.2.3. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và
tuyển dụng công chức xã
Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng công chức là công việc diễn ra
một cách thường xuyên, liên tục hiện nay.
- Trước hết việc tuyển dụng phải đảm bảo đúng ngành
nghề, đảm bảo tiêu chuẩn trình độ để khỏi phải tốn kém chi phí
đào tạo lại.
- Phải thay đổi quan điểm, đào tạo để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ chứ không phải đào tạo để "chuẩn hoá".
21
Để đào tạo có hiệu quả, cần có sự tác động của nhiều yếu tố:
trình độ giáo viên, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất, chất
xám và sức học của học viên.
3.2.4. Thực hiện tốt công t c nhận xét đ nh gi công
chức
Thứ nhất, công tác đánh giá phải được thực hiện một
cách nghiêm túc theo định kỳ hàng tháng, hàng năm; tránh tình
trạng làm lấy lệ, làm cho đủ thủ tục, trong đó đề cao vai trò
công tâm khách quan của người đứng đầu.
Thứ hai, để công tác đánh giá có hiệu quả thì việc rà
soát luôn phải gắn với tiêu chuẩn chức danh vì có gắn với tiêu
Rà soát đánh giá hiện trạng và quy hoạch trụ sở làm
việc của các xã, tổng hợp nhu cầu đầu tư s a chữa, xây dựng và
nâng cấp trụ sở các cơ quan, UBND các xã, đảm bảo đủ điều
kiện, tiêu chuẩn và từng bước hiện đại, đạt chuẩn nông thôn
mới. (hiện nay chỉ có 5/11 trụ sở xã đạt chuẩn).
Xây dựng môi trường công sở văn minh, hiện đại, có
đầy đủ phương tiện làm việc, phòng làm việc, công sở có quy
định quy chế làm việc r ràng để công chức tuân thủ nề nếp,
tránh đi muộn về sớm, công chức không chia bè phái, nói xấu,
gây khó khăn, cản trở việc hoàn thành nhiệm vụ của nhau, công
chức lâu năm có nhiều kinh nghiệm dẫn dắt công chức mới vào,
cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau cùng hoàn
thành nhiệm vụ.
KẾT LUẬN
Trong thời gian qua, cùng với sự quan tâm lãnh đạo của
các cấp ủy đảng, chính quyền, từ trung ương đến địa phương,
công chức cấp xã đã có bước phát triển cả về số lượng, chất
lượng. Công tác tuyển dụng, s dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen
thưởng, kỷ luật, thôi việc, phân cấp quản lý công chức và chính
sách thu hút nguồn nhân lực
đã được thực hiện một cách
công khai, minh bạch, theo đúng quy định. Điều này đã tạo
động lực cho công chức cấp xã nêu cao tinh thần trách nhiệm,
23