giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện yên phong tỉnh bắc ninh - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*****

NGUYỄN QUANG NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN PHONG - TỈNH BẮC NINH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN CÔNG TIỆP

HÀ NỘI, 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết rằng, mọi sự giúp đỡ cho viên thực hiện luận văn đã
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./.

Tác giả luận văn



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cám ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục các chữ viết tắt

vii

Danh mục bảng

viii

Danh mục biểu đồ

x


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

1.3.1

Đối tượng nghiên cứu

4

1.3.2

Phạm vi nghiên cứu

4

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

5

2.1

Cơ sở lý luận

5

2.1.1

Những vấn đề chung về hệ thống quản lý Nhà nước


16

2.1.7

Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức

17

2.1.8

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CB, CC cấp xã

21

2.1.9

Yêu cầu khách quan của việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức

2.2

cấp xã.

28

Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng CBCC ở trong và ngoài nước

33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

41

3.1.1

Đặc điểm tự nhiên

41

3.1.2

Điều kiện kinh tế xã hội

46

3.1.3

Tình hình phát triển kinh tế xã hội

47

3.2

Phương pháp nghiên cứu

50

3.2.1


56

4.1

Thực trạng chất lượng CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Yên Phong

56

4.1.1

Thực trạng số lượng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Yên Phong

56

4.1.2

Độ tuổi, giới tính và thâm niên công tác

58

4.1.3

Thực trạng chất lượng cán bộ công chức cấp xã huyện Yên Phong

61

4.1.4

Đánh giá chất lượng cán bộ công chức cấp xã huyện Yên Phong


cấu CBCC cấp xã huyện Yên Phong

93

4.2.3

Đổi mới công tác tuyển dụng CBCC cấp xã huyện Yên Phong

96

4.2.4

Đào tạo, bồi dưỡng CB, CC cấp xã

98

4.2.5

Tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức
cho CBCC

104

4.2.6

Nâng cao hiệu quả công tác bố trí, sử dụng cán bộ công chức cấp xã

104

4.2.7


112

TÀI LIỆU THAM KHẢO

115

PHỤ LỤC

117

Phụ lục

117

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Nội dung từ thể hiện

BHYT

Bảo hiểm y tế

CBCC


HĐND

Hội đồng nhân dân

LĐTB&XH

Lao động thương binh và xã hội

LLCT

Lý luận chính trị

MN

Mầm non

NVQS

Nghĩa vụ quân sự

THCN

Trung học chuyên nghiệp

THCS

Trung học cơ sở

TH

Trang

3.1

Hiện trạng cơ cấu kinh tế huyện Yên Phong 2012 – 2014

46

3.2

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn 2012 – 2014

47

3.3

Số phiếu điều tra ở các đối tượng nghiên cứu

52

4.1

Số lượng công chức cấp xã huyện Yên Phong, giai đoạn 2012 - 2014

57

4.2

Biến động nhân sự từ năm 2012 – 2014



Đánh giá của lãnh đạo về khả năng giải quyết công việc và quan hệ
với nhân dân của CBCC cấp xã huyện Yên Phong

70

4.8

Đánh giá của lãnh đạo về năng lực của CBCC cấp xã huyện Yên Phong

71

4.9

Đánh giá về kiến thức chuyên môn của CBCC cấp xã huyện Yên Phong

73

4.10

Đánh giá về các kỹ năng làm việc của CBCC cấp xã huyện Yên Phong

75

4.11

Đánh giá về mức độ hoàn thành công việc của CBCC cấp xã huyện
Yên Phong

4.12

CBCC cấp xã huyện Yên Phong

4.16

83

Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã huyện Yên Phong,
giai đoạn 2012 - 2014

4.17

85

Thể hiện kết quả đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng của CBCC
cấp xã huyện Yên Phong

86

4.18

Công tác bồi dưỡng CB, CC huyện và xã từ 2011 – 2014

4.19

Ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan đến nâng cao chất lượng CBCC
cấp xã huyện Yên Phong

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

87

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page x


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN trong bối cảnh quốc tế và
trong nước rất phức tạp, có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, có cả thời
cơ và nguy cơ, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức trên mọi lĩnh vực công tác "Phải
vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến
thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân" (Văn kiện Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói "Cán bộ là gốc của mọi phong trào".
Chính vì vậy, cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước có một vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội
và bảo đảm cho nền hành chính quốc gia hoạt động (Hồ Chí Minh, 1974).
Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách hành chính là
xây dựng đội ngũ CB, CC hành chính vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực,
trình độ chuyên môn cao, vừa có kỹ năng quản lý, vận hành bộ máy hành chính tốt.
Đội ngũ CB, CC có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt
động của chính quyền các cấp nói chung và chính quyền cấp cơ sở nói riêng. Hiệu lực
quản lý nhà nước được thực hiện bởi số lượng và chất lượng của đội ngũ CB, CC (Bộ
nội vụ, 2004).
Việc xây dựng đội ngũ CB, CC cấp xã có năng lực tổ chức, quản lý điều hành phát
triển kinh tế - văn hóa - xã hội và có khả năng vận động nhân dân thực hiện đường lối của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thành thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy
sức mạnh toàn dân, không tham nhũng, không nhũng nhiễu nhân dân, đồng thời quan tâm

nhiệm vụ của các bộ phận chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ
ràng, nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, có lúc, có nơi còn có biểu
hiện thiếu dân chủ, quan liêu. Đội ngũ CB, CC cấp xã ít được quan tâm đào tạo, bồi
dưỡng; chính sách đối với CB, CC cấp xã còn nhiều bất cập. Từ những thực tế đó
đòi hỏi bức xúc đặt ra là phải xây dựng tốt, chuẩn mực đội ngũ CB, CC cấp xã,
trong đó đáng chú ý là vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức
chuyên môn có đủ năng lực, trình độ đảm đương trọng trách của mình.
Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC cấp xã trên địa bàn huyện Yên

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


Phong, Đảng bộ và chính quyền huyện Yên Phong đã đặc biệt chú trọng đến công
tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và quản lý CB, CC, bởi đây cũng là một vấn đề đang
được xã hội quan tâm và công tác này được các cơ quan chức năng thực hiện một
cách nghiêm túc và đã đem lại hiệu quả khả quan. Tuy nhiên hiện tượng “vừa thừa,
vừa thiếu” CB, CC cấp xã trên địa bàn huyện Yên Phong là một thực trạng nhiều
năm qua vẫn tồn tại. Do điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, đội ngũ CB, CC được
hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
không đồng đều, có nơi một số CB chuyên trách cấp xã không được đào tạo đúng
về chuyên môn, quản lý Nhà nước. Điều này thể hiện sự bất cập trong công tác quản
lý và phát triển nguồn nhân lực trong công tác tổ chức cán bộ hiện nay. Trước tình
hình trên, đòi hỏi phải có những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và năng lực
của CB, CC một cách thiết thực hơn nhằm tạo ra những con người ngang tầm với
tình hình mới, thời kỳ CNH - HĐH đất nước góp phần vào công cuộc đổi mới đất
nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm
bảo quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xuất phát từ những vấn đề
quan trọng và bức xúc được nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng

liên quan như tiêu chuẩn công chức cấp xã và nhân tố tác động đến nâng cao chất
lượng cán bộ công chức cấp xã
Chủ thể là: Cán bộ lãnh đạo cấp huyện (Thường trực Huyện ủy - HĐND UBND, UB MTTQ các ban ngành đoàn thể, một số phòng ban chuyên môn của
UBND huyện). Cán bộ công chức đang công tác tại UBND của 14 xã, thị trấn và
đại diện người dân để đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ của CBCC cấp xã.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung vào đánh giá thực trạng năng lực cán bộ công chức cấp xã
trong việc thực thi nhiệm vụ tại địa phương.
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng cán
bộ công chức cấp xã;
- Các tiêu chí phản ánh chất lượng của CBCC cấp xã;
- Các yếu tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã;
- Trên cơ sở đó đề xuất định hướng và những giải pháp nâng cao chất lượng
CBCC cấp xã huyện Yên Phong.
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu lựa chọn 14 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2.3. Phạm vi thời gian
- Thời gian thực hiên đề tài nghiên cứu từ 5/2014 đến 12/2014.
- Số liệu phân tích thực trạng vấn đề được thu thập từ năm 2012 – 2014, số liệu
điều tra năm 2014.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN


Page 5


Liên hệ trực tiếp
Lệnh từ cấp trên

Chủ thể

Đối tượng

Liên hệ ngược (thông tin phản hồi)
Sơ đồ 2.1: Mô hình hoạt động quản lý
Trong khuôn khổ của đề tài, khái niệm quản lý được cụ thể hoá với chủ thể là lãnh
đạo cấp huyện và đối tượng quản lý là đội ngũ CB,CC cấp xã.
2.1.1.2 Đặc điểm về quản lý Nhà nước
Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng
quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hoạt động của con người.
Quản lý Nhà nước khác với dạng quản lý của các chủ thể khác ở chỗ các chủ thể này
không dùng quyền lực pháp luật của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ quản lý mà chỉ
dùng phương thức giáo dục, vận động quần chúng. Quản lý Nhà nước cũng có nội
dung như quản lý hành chính Nhà nước là một dạng hoạt động tổ chức và điều hành
để thực hiện quyền lực Nhà nước (Quốc hội, 2008).
Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động hành chính của các cơ quan thực
thi quyền lực Nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của
đời sống xã hội theo pháp luật. Đó là Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa
phương các cấp, không kể các tổ chức thuộc Nhà nước nhưng không nằm trong cơ
cấu quyền lực như các doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp. Quyền hành pháp có
hai nội dung: một là lập quy, được thực hiện bằng việc ban hành văn bản pháp quy,
quy phạm pháp luật để chấp hành; hai là quản lý hành chính tức là tổ chức, điều

- Có cơ chế bầu cử cán bộ địa phương
- Có tính tự quản nhất định
- Chịu sự kiểm soát của cấp trên
Thứ hai, đây là cấp thấp nhất, không có cấp nào thấp hơn cấp xã, phường, thị
trấn. Đây là cấp gần dân nhất, sâu sát nhân dân nhất so với các cấp khác.
Thứ ba, cấp xã là nền móng của bộ máy nhà nước, là cái gốc của hệ thống
nhà nước 4 cấp.
Mặc dù là cấp thấp nhất nhưng cấp cơ sở có một vai trò rất quan trọng trong hệ
thống chính quyền 4 cấp và vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống chính trị cơ sở.
Hiến pháp 1980 quy định việc phân chia các đơn vị hành chính của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:
+ Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị hành
chính tương đương.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


+ Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã.
+ Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện.
+ Huyện chia thành xã và thị trấn.
+ Thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã.
+ Quận chia thành phường.
- Xã là cấp cơ sở ở nông thôn, có đặc điểm là địa bàn rộng; dân cư chủ yếu là
nông dân, sống theo cộng đồng làng xóm; kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, dịch vụ,
đang trong quá trình biến đổi cơ cấu theo hướng CNH – HĐH.
- Thị trấn cũng là cấp cơ sở, nhưng ở đó thường là nơi tập trung các cơ quan
huyện, thị xã. Do đó thị xã là trung tâm chính trị, kinh tế, văn háo, khoa học của
huyện. Là đầu mối giao lưu hàng hóa quan trọng giữa nông thôn và thành thị. Thị

nghiệm và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế, chính sách. Do đó,
chất lượng của hệ thống thể chế chính sách phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của
hệ thống chính trị ở cấp cơ sở.
Cấp xã trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương.
Những vấn đề của địa phương mà cấp cơ sở có thẩm quyền giải quyết thì chính
quyền cơ sở đại diện cho nhân dân địa phương trực tiếp giải quyết.
Cấp xã là nơi thực hiện đồng thời phản ánh tâm tư nguyện vọng và lợi ích
của nhân dân địa phương. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách đều được xuất
phát từ cơ sở và hướng về cơ sở. Không ai khác ngoài cấp cơ sở hiểu rõ và đảm
nhận vai trò thu thập, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa phương; đồng
thời giúp Nhà nước đề ra các biện pháp tổ chức, quản lý phù hợp với đặc điểm của
một địa phương, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương.
2.1.3 Một số vấn đề về cán bộ, công chức cấp xã
2.1.3.1 Khái niệm chung về CB, CC
Mỗi một quốc gia, dân tộc khác nhau thì khái niệm về CB, CC cũng khác nhau, đa
số các nước đều giới hạn CB, CC trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ
và cấp địa phương). Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy Đảng, nhà
nước, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “Cán bộ, công chức”. Theo Pháp lệnh CB, CC
ban hành ngày 09/03/1998 và các văn bản khác của Chính phủ thì CB, CC là công dân
Việt Nam trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan
Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.
- Những người làm việc trong tổ chức chính trị – xã hội và một số tổ chức
xã hội nghề nghiệp, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công làm nhiệm vụ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


thường xuyên.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


cầu khách quan đặt ra là: cán bộ xã, phường, thị trấn cần được xếp vào đội ngũ CB,
CC trong biên chế nhà nước. Chính vì vậy, Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ
sung năm 2003, tại tiết (g) và (h) điều 1 chương I đã quy định (Pháp lệnh cán bộ
công chức sửa đổi, 2003):
- Cán bộ cấp xã: Là công dân Việt Nam được bầu cử để đảm nhiệm chức
vụ theo nhiệm kỳ (gọi chung là cán bộ chuyên trách) gồm các chức danh sau: Bí
thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND; Chủ tịch UBMTTQ; Bí thư Đoàn Thanh niên, Chủ tịch Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh (Pháp lệnh cán
bộ công chức sửa đổi, 2003).
- Công chức cấp xã: Là công dân Việt Nam được tuyển dụng, giao giữ
một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công
chức cấp xã), gồm các chức danh: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng
công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng – Thống kê; Địa chính –
Xây dựng; Tài chính – Kế toán; Tư pháp – Hộ tịch; Văn hóa – Xã hội (Pháp lệnh
cán bộ công chức sửa đổi, 2003).
Với quy định mới này địa vị pháp lý của CB, CC cấp xã có sự thay đổi lớn.
Quyền hạn và trách nhiệm của họ được quy định chặt chẽ hơn, đồng thời yêu cầu đối với
họ cũng cao hơn để đảm nhận trách nhiệm do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
2.1.3.3 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng
xuất bản năm 2000 thì chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là "Cái tạo nên phẩm
chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc"(Bộ nội vụ, 2006) .
Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức

sống xã hội. Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng cán bộ, công chức không chỉ
bao gồm một mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống, được kết
cấu như một chỉnh thể toàn diện từ chất lượng của từng cán bộ, công chức (đây là
yếu tố cơ bản nhất, tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam nữ, độ tuổi, thành
phần cùng với việc bồi dưỡng, giáo dục, phân công, quản lý kiểm tra giám sát và
thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền
nhân dân. Để nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức, cần phải giải quyết tốt
mối quan hệ giữa chất lượng với số lượng cán bộ, công chức. Trong giai đoạn hiện
nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng của cán bộ, công chức trên cơ sở
bảo đảm số lượng hợp lý.
Từ những đặc điểm trên có thể khái niệm: Chất lượng cán bộ, công chức cấp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


xã là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn
diện được thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực,
khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức và cơ cấu, số lượng, độ
tuổi, thành phần của cả đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
2.1.4. Đặc điểm, vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
* Đặc điểm của cán bộ công chức cấp xã:
CB, CC xã, phường, thị trấn (cấp xã) là đội ngũ gần dân nhất, là cầu nối giữa
Đảng với dân. Đội ngũ này có vị trí, vai trò hết sức quan trọng vừa phải thực thi các
chủ trương chính sách, pháp luật từ cấp trên, vừa phản ánh nguyện vọng của quần
chúng nhân dân đến với cấp trên, đồng thời cán bộ cấp xã phải giải quyết các công
việc hàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương. Trong quá trình
thực thi nhiệm vụ, cán bộ, công chức cấp xã phải chịu sự giám sát trực tiếp, hàng
ngày của dân dân. Cơ bản đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vững vàng về chính trị,

kinh nghiệm chuyên sâu còn thấp vì ở mỗi chức vụ cán bộ cơ sở phải tham gia học
tập những lớp bồi dưỡng phù hợp với chức vụ của mình.
* Vị trí, vai trò của CB, CC cấp xã: là một bộ phận không thể thiếu trong đội
ngũ CB, CC nước ta, mọi hoạt động ở cơ sở đều do CB, CC cấp xã đảm nhận thực
hiện. Xác định rõ vai trò quan trọng của cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp xã đối với
sự nghiệp cách mạng của nước ta, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương lớn
về công tác cán bộ như Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị
“Về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ CNH – HĐH đất nước”,
Nghị định 121/2003/NĐ-CP, ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách
đối với CB, CC ở xã, phường.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) khẳng định trong công cuộc
đổi mới đất nước đối với tầm quan trọng và đề cao vị trí của cán bộ cơ sở như sau:
“Cán bộ cũng có vai trò cực kỳ quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình
đổi mới. Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí
nền tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường
lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong thực tế. Pháp luật của Nhà nước có
được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không hiệu quả một phần quyết định là
ở cơ sở. Cấp cơ sở trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng
quần chúng. Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ
thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn”.
Đội ngũ CB, CC cấp xã là lực lượng đóng vai trò nòng cốt, điều hành và thực
thi hoạt động của bộ máy tổ chức xã. Vì vậy, đội ngũ CB, CC hệ thống chính trị cấp xã

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


có tầm quan trọng đặc biệt về nhiều mặt và là một trong những nhân tố có ý nghĩa
chiến lược, mặc dù cấp xã là cấp đơn vị hành chính nhỏ nhất nhưng lại là nơi gần dân


Page 15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status