BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
DANH NGỌC BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
1
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hƣờng
Phản biện 1: TS. Tạ Thị Thanh Tâm
Phản biện 2: TS. Lê Văn In
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia.
Địa điểm: Phòng họp 210, Nhà A- Hội trường bảo vệ luận văn
khách quan nhưng cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan từ phía công
tác quản lý của nhà nước. Trong một thời gian dài, trước khi Luật
Dạy nghề được ban hành năm 2006, hoạt động tổ chức dạy nghề, học
nghề thường chỉ được làm theo phong trào, mang tính cục bộ nhỏ lẻ
3
ở từng địa phương, các chính sách, pháp luật của nhà nước thiếu
đồng bộ; nguồn ngân sách của nhà nước dành cho lĩnh vực này còn
hạn chế…đã gây không ít khó khăn trong hoạt động đào tạo nghề
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cả nước nói chung và tỉnh
Kiên Giang nói riêng.
Trong những năm tới nhằm giải quyết tình trạng đã nêu trên: Vấn
đề đặt ra cấp bách là phải đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề, có
chuyên môn hướng theo nhu cầu thực tế đòi hỏi của xã hội. Cùng với
hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân, đào tạo nghề đã có những
đóng góp to lớn trong việc đào tạo NNL có trình độ kỹ thuật và
nghiệp vụ chuyên môn. Đây là lực lượng lao động không thể thiếu
trong quá trình CNH – HĐH đất nước. Chính vì vậy ngày 27 tháng
11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
1956/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đến năm 2020” với tổng kinh phí khoảng 26 nghìn tỉ đồng,
nhưng đến nay trình độ tay nghề của lao động Việt Nam vẫn rất thấp.
Tỉnh Kiên Giang và nhiều địa phương khác trong cả nước đang
chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu các ngành kinh tế, sự phát triển
không ngừng của các ngành công nghiệp và dịch vụ… đã đặt ra yêu
cầu cấp thiết trong việc đào tạo nghề cho lao động trong tỉnh, phục
vụ nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương. Ở người DTTS khó
khăn cơ bản và trực tiếp vẫn là trình độ dân trí và trình độ học vấn
5
ngƣời dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” là một đề tài
mới, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam. Trong
quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những
thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả cũng tham khảo, kết hợp việc
khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất là về lý luận và thực tiễn
quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Từ đó tác giả đề xuất các giải
pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người
DTTS ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới. Những câu hỏi nghiên
cứu mà đề tài đặt ra là: Cơ sở khoa học của công tác quản lý Nhà
nước về đào tạo nghề cho người DTTS ở tỉnh Kiên Giang trong giai
đoạn 2000 - 2015, công tác quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho
người DTTS diễn ra như thế nào? Có tồn tại nào không? Nguyên
nhân và cách khắc phục những tồn tại đó?
Đề tài luận văn “Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho ngƣời
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” chính là sự kế thừa
và phát triển công tác quản lý đào tạo nghề theo hướng phù hợp với
địa bàn tỉnh Kiên Giang, không trùng lặp với bất cứ công trình
nghiên cứu khoa học nào trước đó trong lĩnh vực này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích,
đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số (DTTS)
ở tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay, luận văn đề xuất một số
giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện hoạt động quản lý nhà
nước về đào tạo nghề cho người DTTS của tỉnh trong thời gian tới.
6
đồng thời quán triệt sâu sắc các quan điểm đường lối, chính sách của
Đảng và nhà nước về đào tạo nghề cho người DTTS.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài
sử dụng các phương pháp: thu thập số liệu (số liệu điều tra thực tế từ
ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang, số liệu từ
niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang và số từ trường Trung cấp nghề
Dân tộc nội trú tỉnh Kiên Giang, HĐND - UBND tỉnh Kiên Giang);
phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học, thống kê mô tả, phương
pháp so sánh và phân tích tổng hợp; phương pháp tham khảo tài liệu
nghiên cứu trong nước, các địa phương, các ngành và lĩnh vực.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- Ý nghĩa về mặt lý luận:Đề tài mong muốn cung cấp cái nhìn
tổng quát về việc đào tạo nghề cho người DTTS, từ đó: nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu lao động đáp ứng mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang.
8
- Ý nghĩa về mặt thực tiển: Vận dụng trong thực tế để đánh giá
thực trạng công tác đào tạo nghề cho người DTTS: độ tuổi lao động,
trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, sức khỏe
và chỉ ra những bất cập trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao
động người DTTS; đề xuất các mục tiêu và giải pháp cơ bản thúc đẩy
phát triển đào tạo nghề cho người DTTS trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bảng, phụ lục và
tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản nhà nước về đào tạo nghề cho
Người dân tộc thiểu số (DTTS) có truyền thống đoàn kết; có nền
văn hóa cực kỳ đặc sắc và hấp dẫn; tập quán sản xuất còn mang tính
tự cung tự cấp, phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên, đông con.
Trình độ văn hóa và chuyên môn của lao động người DTTS còn hạn
chế. Đa số người DTTS sống bằng nghề nông nghiệp, làm thuê, làm
mướn; một số có tính tự ti mặc cảm, một số khác còn trông chờ, ỷ lại
vào Nhà nước. Thu nhập của người DTTS thấp, tỷ lệ hộ nghèo và cận
nghèo còn cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng sâu, vùng xa, vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
1.1.2. Khái niệm đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
1.1.2.1. Khái niệm về đào tạo nghề
1.1.2.2. Khái niệm đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
Đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số (DTTS) là tạo ra lực
lượng lao động có trình độ, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ
thuật sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, nhằm giải
quyết tốt nhu cầu việc làm, tự tạo việc làm cho người DTTS, tăng thu
nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người DTTS.
1.1.3. Đặc điểm đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
1.1.4. Ý nghĩa và vai trò của đào tạo nghề cho người dân tộc
thiểu số
1.1.4.1. Ý nghĩa của đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
11
1.1.4.2. Vai trò đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
1.2. Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc
thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
1.3.2. Về chủ quan
1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho
ngƣời dân tộc thiểu số ở một số địa phƣơng và bài học cho tỉnh
Kiên Giang
1.4.1. Mô hình quản lý đào tạo nghề tại một số tỉnh ở Việt Nam
1.4.1.1. Mô hình quản lý đào tạo nghề tại tỉnh Ninh Bình
1.4.1.2. Mô hình quản lý đào tạo nghề tại tỉnh Nam Định
1.4.1.3 Kinh nghiệm đào tạo nghề của tỉnh Quảng Trị
1.4.1.4 Kinh nghiệm đào tạo nghề của tỉnh Thanh Hóa
13
1.4.2. Bài học rút ra đối với quản lý nhà nước về đào tạo nghề
cho người dân tộc thiểu số ở tỉnh Kiên Giang hiện nay
Từ kết quả đào tạo nghề tại một số địa phương trên ta có thể đưa
ra được một số vấn đề cần thực hiện khi triển khai công tác đào nghề
và nâng cao chất lượng lao động là người DTTS trong thời gian tới:
Một là: Cần thực hiện theo sát đề án mà các cấp chính quyền từ
Trung ương đến địa phương đã đề ra, đồng thời phải có các chính
sách phát triển công tác đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề cho
người DTTS nói riêng phù hợp với thực tế và định hướng phát triển
kinh tế - xã hội của từng địa phương.
Hai là: Tăng cường công tác tuyên truyền sâu, rộng hơn nữa về
công tác đào tạo nghề cho người DTTS đến toàn thể lực lượng lao
động của địa phương.
Ba là: Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở, trang thiết bị dạy
nghề, cũng như tăng cường nâng cao năng lực của cán bộ, giáo viên
tham gia công tác đào tạo nghề. Tập trung đào tạo nghề theo nhu cầu
của người học và nhu cầu của các doanh nghiệp, quan tâm đào tạo
2.1.2.2 Tình hình văn hóa - xã hội
2.2. Khái quát về hoạt động đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc
thiểu số ở tỉnh Kiên Giang
2.2.1. Lực lượng lao động người dân tộc thiểu số trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang
2.2.2. Mạng lưới cơ sở đào tạo ở tỉnh Kiên Giang
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tào nghề
2.2.3.1. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo
2.2.3.2. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
2.2.3.3. Nhận thức của người học và xã hội về đào tạo
2.2.3.4. Ảnh hưởng của văn hóa đến công tác đào tạo
2.2.3.5. Các chính sách của Nhà nước liên quan đến công tác đào
tạo
2.3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề
cho ngƣời dân tộc thiểu số ở tỉnh Kiên Giang
2.3.1. Xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, đề án đào tạo
nghề trên địa bàn tỉnh
16
2.3.2. Những tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho người dân tộc thiểu số
- Hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo nghề nói chung còn thấp,
dẫn đến việc nguồn lực sử dụng lãng phí, vì cả hai ngành (Giáo dục –
Đào tạo và Lao động – Thương binh và xã hội) cùng làm những công
việc như nhau trong quản lý. Ban Dân tộc tỉnh chưa xây dựng được
đề án đào tạo nghề riêng cho lao động là người dân tộc thiểu số để có
đổi từ quản lý kiểu hành chính, sự vụ theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu truyền thống sang quản lý chất lượng theo cơ chế thị
trường.
3.1.2. Công tác đào tạo nghề phải có tính kế thừa
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục nói chung và quản lý nhà
nước về đào tạo nghề nói riêng cần không ngừng được đổi mới nhằm
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý. Do đó, các giải pháp nhằm
18
hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề phải thực hiện trên cơ sở
kế thừa những thành tựu đã đạt được đồng thời phải biết chọn lọc những
cái mới, phù hợp hơn để đổi mới từng bước. Đề tài xây dựng trên cơ sở
kế thừa và phát triển các thành tựu trong nhiệm vụ quản lý nhà nước về
đào tạo nghề nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho người DTTS ở tỉnh Kiên Giang từ nay đến năm 2020 và
những năm tiếp theo.
3.1.3. Công tác đào tạo nghề phải có tính khả thi quản lý nhà
nƣớc về đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang
Các giải pháp quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho
người DTTS ở tỉnh Kiên Giang được đề xuất phải có khả năng áp
dụng vào thực tiễn để đổi mới quản lý nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo của các cơ sở dạy nghề trong tỉnh một cách thuận lợi, trở
thành hiện thực và có kết quả. Để bảo đảm tính khả thi, các giải
pháp được đề xuất phải căn cứ vào khả năng và điều kiện cụ thể của
tỉnh để thực hiện các giải pháp một cách có hiệu quả nhất.
3.2. Mục tiêu đào tạo
3.2.1. Mục tiêu tổng quát
3.3.3. Đánh giá, dự báo, lập quy hoạch, kế hoạch và nghiên cứu
về đào tạo nghề gắn với thực tiễn ở tỉnh Kiên Giang
3.3.4. Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ công chức làm
công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang
3.3.5. Đổi mới và phát triển chương trình dạy nghề tại các cơ sở
dạy nghề trong tỉnh
3.3.6. Đa dạng và tăng cường các nguồn lực đầu tư, đổi mới cơ
chế chính sách, tài chính đối với công tác đào tạo nghề cho người dân
tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
3.3.7. Đẩy mạnh xã hội hóa về đào tạo nghề tại tỉnh Kiên Giang
3.3.8. Kiểm tra, kiểm định chất lượng đối với các cơ sở dạy nghề
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
3.3.9. Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo nghề
KẾT LUẬN
21
KẾT LUẬN
Trong những năm qua, nền kinh tế- xã hội tỉnh Kiên Giang có
nhiều chuyển biến tích cực, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững, ổn định; đã đào tạo và tạo được nhiều việc làm
cho lao động nông thôn nói chung và lao động người DTTS nói
riêng, góp phần nâng cao thu nhập và nâng cao mức sống của người
dân, dần dần từng bước xóa hộ đói, giảm hộ nghèo trên toàn tỉnh.
Tuy nhiên, trình độ lao động người DTTS trên địa bàn vẫn còn
thấp, vì vậy vấn đề đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động
DTTS, tạo việc làm cho họ đang là vấn đề bức xúc hiện nay.
góp phần tạo thêm giải pháp đào tạo cho lao động người DTTS, giúp
thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh, để người dân tỉnh Kiên Giang nói chung và người DTTS
nói riêng thật sự làm giàu, làm đẹp được cho quê hương bằng chính
trí và lực của chính mình.
Do trình độ, kiến thức của bản thân còn hạn chế và thời gian
nghiên cứu chưa nhiều, nên luận văn không tránh khỏi những sai sót.
Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô
giáo, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
23