Quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TRUNG TIẾN

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG
BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA



Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 8 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Trung Tiến


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu Luận văn Cao học,
chuyên ngành Quản lý công, niên khóa 2015 - 2017, em nhận được sự quan tâm
giảng dạy, giúp đỡ của Ban Giám đốc, các Thầy, Cô tham gia giảng dạy và
Khoa sau Đại học đã giúp em lĩnh hội những kiến thức khoa học và bổ ích của
chương trình Cao học, chuyên ngành Quản lý công.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các Thầy, Cô, các Phòng, Ban,
Khoa, cơ sở Học viện Hành chính Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, UBND
tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Trường Chính trị tỉnh, Ban
Giám đốc Sở Công Thương, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Kiên Giang, đồng
nghiệp, bạn bè, gia đình và những người thân… đã động viên và cung cấp tài
liệu, hỗ trợ về thời gian hữu ích cho em hoàn thành khóa học và luận văn.
Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn Giảng viên Cao cấp, TS. Đào Đăng
Kiên, nguyên Phó trưởng khoa Quản lý nhà nước về Kinh tế đã trực tiếp nghiêm
túc tận tình hướng dẫn và động viên em nghiên cứu hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa, em xin khắc ghi những tình cảm quý báu của quý Lãnh đạo,
Thầy, Cô, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và những người thân đã quan tâm động
viên, tạo điều kiện và giúp đỡ hoàn thành khóa học cũng như luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 8 năm 2017
Tác giả


thương mại............................................................................................................... 22
1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận
thương mại ở một số nước, tổ chức trên thế giới và bài học có thể vận dụng đối
với Việt Nam và tỉnh Kiên Giang ........................................................................... 25
1.3.1. Tổ chức Hải quan thế giới................................................................. 25
1.3.2. Một số nước trên thế giới .................................................................. 27
1.3.3. Bài học rút ra cho Việt Nam và tỉnh Kiên Giang ............................. 31
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 32


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG
BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN
GIANG ................................................................................................................... 33
2.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các nhân tố tác
động đến buôn lậu và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang .............. 33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội............................................... 33
2.1.2. Các nhân tố tác động đến buôn lậu và gian lận thương mại ............. 35
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận
thương mại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang ................................................................ 36
2.2.1. Về xây dựng và chỉ đạo các chiến lược, chương trình, chính sách
và kế hoạch quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương
mại………….….. .................................................................................................... 36
2.2.2. Về ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật ................. 38
2.2.3. Về hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về
phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại ...................................................... 40
2.2.4. Về cơ chế phối/kết hợp và hợp tác giữa các ngành, doanh nghiệp,
người dân, khu vực quốc tế để phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại .... 43
2.2.5. Về hoạt động tuyên truyền, giáo dục phòng, chống buôn lậu và
gian lận thương mại cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp ........................... 45
2.2.6. Về hoạt động kiểm tra, kiểm soát phòng, chống buôn lậu và gian

buôn lậu và gian lận thương mại ............................................................................. 78
3.2.6. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho công
dân và doanh nghiệp................................................................................................ 81
3.2.7. Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ cho hoạt
động phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại ............................................. 83
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 86
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 87
3.3. Kiến nghị .................................................................................................. 88
3.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ ............................................................ 88
3.3.2. Kiến nghị đối với UBND tỉnh Kiên Giang ....................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1. Khái quát tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phòng,
chống buôn lậu và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

42

Bảng 2.2. Kết quả xử lý buôn lậu và gian lận thương mại từ
năm 2011 - 2016

48



của Việt Nam nói chung cũng như của tỉnh Kiên Giang nói riêng. Có thể nêu lên
một số công trình tiêu biểu như sau:
Nguyễn Thị Thiên Hương (2010), “Tăng cường quản lý nhà nước đối với
công tác chống gian lận thương mại trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh
Tây Ninh”, Luận văn cao học quản lý hành chính công, bảo vệ tại Học viện
Hành chính Quốc gia. Luận văn đã hệ thống hình thành khung lý tuyết về buôn
lậu, gian lận thương mại và nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống buôn
lậu và gian lận thương mại, phân tích thực trạng buôn lậu ở các địa bàn huyện
giáp biên giới Campuchia, rút ra được các nguyên nhân và từ đó, đề xuất bốn
nhóm giải pháp, (1) Về thể chế, chính sách, (2) Về tổ chức bộ máy, (3) Về đội
ngũ cán bộ, công chức và (4) Về tăng cường thanh, kiểm tra đối với hành vi vi
phạm pháp luật trong hoạt động thương mại. Luận văn là gợi ý để học viên kế
thừa nhất là về khung lý thuyết, các giải pháp. Những nghiên cứu tiếp theo là về
phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trên biển và điều kiện của tỉnh
Kiên Giang khác biệt với tỉnh Tây Ninh.
Nguyễn Minh Hải (2010), “Một số giải pháp tăng cường đấu tranh chống
hàng giả và gian lận thương mại”, Học viện Hành chính Quốc gia - Tạp chí
Quản lý nhà nước số 12, tr.36-39. Tác giả đã hệ thống thực trạng với số liệu
minh họa có tính cập nhật về tình hình buôn lậu và gian lận thương mại ở nước
ta, từ đó, đề xuất một số giải pháp (1) Xây dựng và ban hành Luật về phòng,
chống buôn lậu và gian lận thương mại với chế tài mạnh để răn đe hành vi vi
phạm trong lĩnh vực buôn lậu và gian lận thương mại, (2) Nâng cao năng lực và
xây dựng tổ chức bộ máy Quản lý thị trường với đội ngũ cán bộ, công chức có
năng lực và tận tụy thực thi công vụ, (3) Bổ sung trang thiết bị cho lực lượng
Quản lý thị trường tham gia đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thương
mại, (4) Chế độ, chính sách đối với người tham gia phát hiện hành vi buôn lậu
qui mô lớn để khuyến khích người dân tham gia cùng cơ quan quản lý nhà nước
phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
3


4


Nguyễn Bỉnh Lại (2013), “Đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương
mại ở nước ta hiện nay”. Bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Cộng sản số 2, tr.4548. Kết quả nghiên cứu (1) Thực trạng buôn lậu và gian lận thương mại những
năm qua trên tuyến đường bộ, tuyến đường biển, đường hàng không và Bưu
điện, (2) Kết quả kiểm tra, xử lý và những hạn chế, tồn tại, theo số liệu báo cáo
của Ban Chỉ đạo 127/TW (nay là Ban Chỉ đạo 389), trong 10 năm qua (từ năm
2001 đến 2010) các lực lượng chức năng đã kiểm tra, xử lý 3.527.627 vụ vi
phạm pháp luật, (3) Một số kiến nghị, giải pháp nhằm ngăn chặn hiệu quả nạn
buôn lậu và gian lận thương mại, Một là, phát triển sản xuất trong nước, nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa trong nước, Hai là, chú
trọng dựa vào nhân dân, biết phát huy sức mạnh và sự phát hiện của nhân dân;
đề cao vai trò trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan; tăng cường vai trò
lãnh đạo của các cấp ủy và chính quyền địa phương (đặc biệt là cấp ủy và chính
quyền cơ sở, huyện, xã), Ba là, Nhà nước tổ chức lại một số cơ quan thực thi
công tác đấu tranh chống buôn lậu cho ngang tầm với nhiệm vụ được giao (ví dụ
như nâng tầm Cục Quản lý thị trường ở trung ương thành Tổng cục Quản lý thị
trường, Chi cục Quản lý thị trường ở tỉnh, thành phố thành Cục Quản lý thị
trường; nâng tầm công tác phối hợp, Bốn là, giải quyết những khó khăn về kinh
phí, trang thiết bị, phương tiện hoạt động cho các cơ quan thực thi (Quản lý thị
trường, Hải quan, Công an, Biên phòng) như ô-tô, tàu, xuồng; các phương tiện
kiểm tra xách tay hiện đại phát hiện nhanh hàng kém chất lượng, hàng hóa có
chứa các chất độc hại, Năm là, xác định tính quy luật của buôn lậu, gian lận
thương mại để dự báo phòng ngừa, đồng thời thường xuyên tổng kết rút kinh
nghiệm, đổi mới phương thức đấu tranh của các lực lượng chức năng, Sáu
là, quan tâm giải quyết thỏa đáng các chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức
trực tiếp làm công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Nguyễn Đức Dũng (2014), “Báo chí đấu tranh chống buôn lậu và gian lận
thương mại”, Luận văn cao học bảo vệ tại Học viện Báo chí và Truyền thông.

6


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: về buôn lậu và gian lận thương mại.
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 - 2016 là số liệu nghiên cứu và
tầm nhìn đến năm 2025.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các quan
điểm của Đảng và Nhà nước về thể chế quản lý hành chính nhà nước, được thể
hiện trong Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như:
- Phương pháp tiếp cận và thu nhập thông tin tài liệu sơ cấp, thứ cấp, phân
tích, diễn giải và bình luận, đánh giá theo phương pháp lịch sử qua các giai đoạn
phát triển.
- Phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp mô hình hóa.
- Phương pháp thống kê - so sánh, hệ thống hóa - khái quát hóa.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như: dự báo, báo cáo kết quả
nghiên cứu.
Vì vậy, khi áp dụng, xem xét, nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nói chung
cần phải dựa trên nguyên tắc đa chiều, toàn diện.
7


Chƣơng 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG
BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về buôn lậu
Theo từ điển Tiếng Việt: “buôn lậu” có ý nghĩa là buôn bán những hàng
hóa trốn thuế và hàng cấm. Đây là một khái niệm kế thừa những hiểu biết xưa,
nay của cụm từ này và khá phù hợp với quan niệm phổ thông hiện nay [54].
Từ xa xưa, trong “Quốc triều Hình luật” của triều Lê (1428 - 1788), Bộ
Luật Hình sự được xem là hoàn chỉnh nhất của thể chế phong kiến Việt Nam, tội
danh buôn lậu không được quy định. Mặc dù vậy “Quốc triều Hình luật” đã quy
định “những trang trại ven bờ biển mà đón tiếp thuyền buôn, ngầm dỡ hộ hàng
hóa lên bờ thì bị xử biếm (cách chức), phạt gấp 3 tang vật để sung công quỹ…
“Những người bán ruộng, đất ở, bờ cõi, binh khí; các thứ chất nổ có thể chế hỏa
tiễn, hỏa pháo cho người nước ngoài đều phải tội chém”, “bán mắm muối ra
nước ngoài… thì bị xử đi Châu Xa”. Các mặt hàng cấm xuất khẩu lúc đó được
quy định gồm: ruộng đất, thuốc nổ, vũ khí, sắt, đồng, vàng, da trâu, gỗ lim, vỏ
quế, trân châu, ngà voi… Những hành vi cụ thể, tách biệt nói trên trong tiềm
thức xã hội đều được gộp chung lại là hiện tượng buôn lậu chứ không có tội
danh buôn lậu [24].
Trước năm 1985, thuật ngữ “tội buôn lậu” đã được đề cập trong một số văn
bản pháp luật nước ta như Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng cảnh
sát nhân dân (ngày 20 tháng 7 tháng 1962); Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ,
buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (ngày 30 tháng 6 năm 1982). Song
về cơ bản tội danh “buôn lậu” lúc đó chưa được hướng dẫn, nhận diện đầy đủ
với các yếu tố cấu thành và dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Từ năm 1985, Bộ luật
Hình sự ra đời (ngày 27 tháng 6 năm 1985) đã chính thức ghi nhận tội danh
9


Theo Từ điển Tiếng Việt, “thương mại là toàn bộ hoạt động trao đổi hàng
hóa thông qua mua và bán các loại hàng hóa, dịch vụ, các chứng từ có giá trị
trong xã hội” [54].
Thương mại đã xuất hiện rất sớm cùng với nền sản xuất hàng hóa và phát
triển mạnh dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Thương mại ở Việt Nam cũng không
nằm ngoài quy luật chung của thế giới. Tuy nhiên, thương mại ở Việt Nam bị
kìm hãm một thời gian dài do chiến tranh và chế độ quan liêu bao cấp. Sau khi
đất nước thống nhất và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thương
mại được xem là một khâu trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
với vai trò là “cầu nối” giữa công nghiệp và thương nghiệp, giữa các vùng kinh
tế, giữa trong nước và ngoài nước. Bên cạnh đó, thương mại còn thúc đẩy sản
xuất, phục vụ đời sống, đảm bảo quá trình tái sản xuất của nền sản xuất xã hội.
Với vai trò quan trọng của thương mại ở Việt Nam, thuật ngữ “thương mại”
được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội và trong nhiều các văn bản quy
phạm pháp luật, vào năm 1997, thương mại được định nghĩa “chính thống”
trong Luật Thương mại, tại Khoản 1, Điều 3 quy định: “Hoạt động thương mại
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
So với cách định nghĩa chung về thương mại thì định nghĩa về thương mại
tại Luật Thương mại năm 1997 của Việt Nam chỉ ở một góc hẹp, không bao hàm
hết những hoạt động thương mại diễn ra trong thực tế. Với sự phát triển và gia
nhập thương mại thế giới như hiện nay, có thể tìm hiểu khái niệm chung về
thương mại qua vận dụng khái niệm thương mại của Ủy ban Liên hợp quốc về
Luật Thương mại (UNCITRAL) năm 1985, bởi lẽ đây là cách tiếp cận tương
đồng với khái niệm thương mại theo pháp luật và tập quán thương mại quốc tế.
Theo Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại định nghĩa: “Hoạt động
thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ
chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại
11



Hiện nay, chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Chấp nhận cơ chế
thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực để phát
triển. Nguyên nhân và động cơ cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận. Trong
cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện hình thức và thủ đoạn gian lận thương mại
phức tạp và tinh vi thể hiện ở các hành vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của
Nhà nước, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực
phi kinh tế.... Như vậy, có thể thấy mục đích hành vi gian lận trong lĩnh vực
thương mại nhằm thu được lợi nhuận không chính đáng.
Gian lận thương mại là một hiện tượng mang tính lịch sử, chỉ khi có sản xuất
hàng hóa, các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua,
người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hóa thì gian lận
thương mại cũng mới xuất hiện. Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, thị
trường ngày càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi, buôn bán trên thị trường
ngày càng nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng, phong
phú thì gian lận thương mại cũng ngày càng phức tạp và tinh vi hơn. Ngày nay,
mặc dù người ta khó có thể tiến hành xã hội hóa toàn cầu nhưng toàn cầu hóa về
kinh tế lại là một quá trình tất yếu khách quan dẫn đến gian lận thương mại mang
tính toàn cầu trên cơ sở sự khác biệt các Nhà nước, quốc gia độc lập.
Như vậy: gian lận thương mại là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong
lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu
hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính. Mục đích của hành vi gian
lận thương mại là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo,
dối trá. Chủ thể tham gia hành vi gian lận thương mại bao gồm: người mua,
người bán, hoặc cả người mua và người bán thông qua đối tượng là hàng hóa.

13



phương diện hành chính, pháp luật và chấp hành nhằm thiết lập quan hệ “quyền
uy” và sự “phục tùng”; có nghĩa là toàn bộ các tác động tổ chức và điều chỉnh của
quản lý được tiến hành dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước. Quyền lực đó được
ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế
nhà nước. Xã hội càng phát triển thì càng phải có trật tự kỷ cương. Vì vậy, quyền
lực nhà nước vừa là dấu hiệu đặc trưng, vừa là điều kiện đảm bảo của xã hội văn
minh, dân chủ, hiện đại. Xã hội càng hiện đại, nền dân chủ càng cao, càng cần
đến quản lý (trong đó có quản lý nhà nước) có nghĩa là càng cần đến quyền lực
(trong đó quyền lực nhà nước là một dạng cụ thể). Điều nay, trong tác phẩm Bàn
về quyền uy, Ph. Ăng-ghen đã viết “Muốn tiêu diệt quyền uy trong đại công
nghiệp, chính là muốn tiêu diệt nhà máy sợi để đưa về cái xa kéo sợi”.
Thứ ba, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính khoa học, tính kế hoạch
hay đó là hoạt động mang tính chủ quan của con người, nhưng lại dựa trên
những yêu cầu khách quan và quy luật khách quan. Vì vậy, quản lý là những tác
động mang tính chủ động sáng tạo, nó xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội
luôn biến động và phát triển để tìm kiếm biện pháp, phương thức thích ứng kịp
thời và giải quyết có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu và chủ đích đã được
xác định; được xác định dựa trên những chương trình cụ thể cả về chiến lược, về
không gian cũng như thời gian. Nhìn từ một khía cạnh khác, có thể khẳng định
quản lý nhà nước bao giờ cũng mang tính chính trị rõ rệt.
Thứ tư, quản lý nhà nước là những tác động lên các quá trình xã hội và hệ
thống các hành vi xã hội một cách liên tục, đặc điểm này hình thành chu kỳ quản
lý nhà nước và thông qua các chu kỳ diễn ra liên tục mà quản lý nhà nước thúc
đẩy các quá trình xã hội phát triển theo chiều hướng liên tục. Như vậy, hoạt
động quản lý nhà nước diễn ra thường xuyên, hàng ngày, hàng giờ không bị gián
đoạn. Đây cũng là đặc điểm mà các hoạt động khác của Nhà nước không có.

15




nhằm giáo dục, bảo vệ hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền lợi
chính đáng của người tiêu dùng và của các doanh nghiệp để phát triển kinh tế
- xã hội của quốc gia.
Buôn lậu và gian lận thương mại là một trong những hoạt động kinh tế phi
pháp trong nền kinh tế quốc dân, do đó cần phải có sự quản lý của nhà nước để
hạn chế, ngăn chặn hoạt động này gia tăng. Quản lý nhà nước đối với hoạt động
buôn lậu và gian lận thương mại đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát
triển của đất nước, đặc biệt là nền kinh tế và đây là một hoạt động rất khó khăn,
phức tạp, đòi hỏi phải có sự quản lý thường xuyên, liên tục của các cơ quan
quản lý nhà nước.
Trong phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại, Nhà nước ta sử dụng
các cách thức, công cụ, phương tiện khác nhau trên cơ sở luật pháp, lợi ích
kinh tế, khoa học để tổ chức các hoạt động nhằm quản lý, kiểm soát, khắc
phục tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại, tạo ra một môi trường kinh
doanh lành mạnh, cạnh tranh công bằng. Việc sử dụng các công cụ và phương
pháp quản lý sẽ tùy thuộc vào tính chất của đối tượng quản lý và nội dung của
vấn đề cần giải quyết cụ thể mà nhà nước sẽ áp dụng công cụ, phương thức quản
lý và cách thức sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất.
Như vậy, phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại phải đảm bảo
tính quyền lực của nhà nước và đáp ứng được các yêu cầu: Quản lý, kiểm
soát, xử lý và khắc phục tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại được tiến
hành một cách thường xuyên, liên tục, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, hợp
pháp và phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế của quốc gia, địa phương;
ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng các hành vi buôn lậu và gian lận thương
mại và phải lấy phòng ngừa làm chủ đạo.
Mục tiêu: quản lý, kiểm soát tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại
nhằm làm giảm các hành vi buôn lậu, buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, sản
xuất và buôn bán hàng giả, gian lận thương mại, hàng kém chất lượng trong hoạt
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status