BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ HỒNG PHƯỢNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP - LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ HỒNG PHƯỢNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Huỳnh Văn Thới đã tận tình hướng
dẫn bản thân tôi nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn này.
Trong quá trình thực hiện, luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế,
thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của quý thầy,
cô giáo và người đọc.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Hồng Phượng
MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHỤ LỤC
DANH TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ ...................................................................... 8
1.1. Những vấn đề chung về thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở .......... 8
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở ............................. 8
1.1.2. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở ......................... 13
1.1.3. Hình thức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở............................ 19
1.1.4. Vai trò thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở ................................ 21
1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở .......................... 23
1.2.1. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật ....................................................... 23
1.2.2. Chỉ đạo triển khai thực hiện ............................................................... 24
1.2.3. Xây dựng chương trình, tài liệu .......................................................... 28
3.1.1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về hòa
giải, xác định đó là một định chế xã hội phát huy quyền làm chủ của nhân
dân ở cơ sở...................................................................................................... 82
3.1.2. Nâng cao năng lực quản lý của cơ quan Tư pháp và đội ngũ cán bộ
Tư pháp – Hộ tịch xã đối với công tác hòa giải ở cơ sở.............................. 82
3.1.3. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; tiếp tục
đảm bảo cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động hòa giải ở cơ sở .............. 83
3.1.4. Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền với các đoàn thể, tổ chức
chính trị trong thực hiện hòa giải ở cơ sở .................................................... 85
3.1.5. Hòa giải ở cơ sở phải phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội ......... 85
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa
bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay ....................... 86
3.2.1. Giải pháp trước mắt ............................................................................ 86
3.2.2. Giải pháp lâu dài ................................................................................. 87
Tiểu kết Chương 3 ................................................................................... 95
KẾT LUẬN .............................................................................................. 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HĐPHCTPBGDPL : Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
PBGDPL
phạm pháp luật, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, công tác hoà giải ở cơ sở
đã trở thành yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong đời sống xã hội.
Hoà giải ở cơ sở không chỉ đơn thuần góp phần hạn chế các tranh chấp dân
sự và phòng ngừa tội phạm, vận động nhân dân sống và làm việc theo pháp
luật, củng cố tình làng, nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết trong cộng
đồng dân cư mà còn góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh, tế xã hội. Duy trì,
phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hoà giải
ở cơ sở cũng chính là góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản
lý nhà nước, quản lý xã hội của Nhà nước, giảm bớt các vụ việc phải giải
quyết tại Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tiết kiệm thời gian
và chi phí cho nhà nước và nhân dân, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế xã
hội phát triển.
Với ý nghĩa đó, Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở cơ sở,
thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi
phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp
luật”. Trên cơ sở quy định này của Hiến pháp, ngày 25/12/1998 Ủy ban
1
Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải
ở cơ sở; ngày 18/10/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 160/1999/NĐCP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà
giải ở cơ sở. Tuy nhiên, trong công cuộc đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát
huy dân chủ, xuất phát từ vai trò và ý nghĩa quan trọng của công tác hòa
giải ở cơ sở đối với đời sống xã hội, từ tình hình tổ chức, hoạt động hòa
giải ở cơ sở trong thời gian qua và thực trạng pháp luật hiện hành về lĩnh
vực này, các chuyên gia pháp luật cho rằng, việc ban hành Luật Hòa giải cơ
sở sẽ đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống khi mà các mâu thuẫn
và tranh chấp trong nhân dân ngày càng tăng và rất đa dạng, do đó, cần xây
dựng khung pháp lý cao hơn nhằm điều chỉnh hoạt động hòa giải ở cơ sở,
Trong những năm gần đây, thực trạng tình hình nghiên cứu về thực
hiện pháp luật và hoạt động hòa giải ở cơ sở đã được một số nhà nghiên cứu
chú ý đến và đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết đề cập tới nội dung
này ở nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể có một số công trình nghiên cứu, bài
viết có nội dung liên quan đến vấn đề này sau đây:
- Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa
bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị Bích Thủy, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, 2015.
- Đặc san Tuyên truyền pháp luật số 6/2014, Hội đồng phối hợp phổ
biến, giáo dục pháp luật Trung ương, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2014.
- Sổ tay Pháp luật về hòa giải ở cơ sở, Nguyễn Thị Tố Nga, NXB
Chính trị quốc gia, Hà nội, 2014.
3
- “Hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở góp phần ổn định đời sống xã
hội”, Báo Tin Tức, số 3/2016.
- “Cần phân biệt giữa hòa giải ở cơ sở với hòa giải trong giải quyết
tranh chấp đất đai”, Báo Đăclăk, số 8/2015.
- “Sự ra đời của Luật Hòa giải ở cơ sở là một bước tiến quan trọng
cho hoạt động hòa giải ở cơ sở”, Trang web Trường Đại học kiểm sát Hà
Nội.
- Thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở, số 7/2016, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật.
- Một số bài viết bình luận nằm rải rác ở trong các tạp chí, báo chí
khác.
Các giáo trình, bài viết liệt kê trên đã đề cập, phân tích việc thực hiện
pháp luật hòa giải ở cơ sở và hoạt động hòa giải ở cơ sở ở nhiều khía cạnh
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động thực hiện pháp luật
về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn khảo sát thực tiễn tại các xã, phường trên địa
bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2014 đến năm 2016.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
5
về xây dựng nền dân chủ XHCN, về xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN nói chung và về lý luận xây dựng pháp luật nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản: Được sử dụng để thu thập, phân tích
và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao
gồm các văn kiện của Đảng, văn bản luật pháp của các cơ quan nhà nước ở
Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, các thống kê
của tổ chức và cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thực hiện pháp
luật về hòa giải ở cơ sở.
- Phương pháp xử lý thông tin: 1) thông tin định lượng, đề tài đã xử lý số
liệu và trình bày dưới nhiều dạng biểu đồ, đồ thị, giúp nhận dạng quá trình thực
hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở 2) thông tin định tính bổ sung thêm cứ liệu cho
thông tin định lượng, làm rõ hơn các ý tưởng mà dữ liệu định lượng chưa phản
ánh được hoặc phản ánh chưa đầy đủ.
- Phương pháp đánh giá: dùng để phân tích, đánh giá thực trạng công tác
thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh
Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay, từ đó tìm kiếm cơ sở đề xuất giải pháp
thực hiện có hiệu quả pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn thành phố
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
1.1. Những vấn đề chung về thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
Pháp luật về hòa giải ở cơ sở là một bộ phận cấu thành của hệ thống
pháp luật nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện pháp luật
về hòa giải ở cơ sở là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực trong xã hội, cụ
thể là lĩnh vực hòa giải ở cơ sở. Để làm sáng tỏ khái niệm thực hiện pháp
luật về hòa giải ở cơ sở, trước hết cần làm rõ những khái niệm có liên quan
như: hòa giải, hòa giải ở cơ sở, pháp luật về hòa giải ở cơ sở...
Trong lý luận khoa học cũng như trong thực tiễn tùy theo cách tiếp
cận khác nhau mà xuất hiện nhiều quan niệm về hòa giải.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thì hòa giải là:
“thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách
ổn thỏa” [46, tr.430].
Theo Từ điển Luật học thì hòa giải là: Tự chấm dứt việc xích mích,
tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung
gian của một người khác. Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa
các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp
chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự [44, tr.208]. Quan niệm
này không phân biệt được phương thức thương lượng tự giải quyết với
phương thức hòa giải, vô hình đồng nhất người trung gian với người hòa
giải.
8
Một số luật gia lại cho rằng hòa giải là chế định pháp luật về hòa
giải, coi hòa giải như là một quy định, một trình tự, thủ tục để giải quyết
tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thầm
quyền ban hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở,
từ văn bản cao nhất là Hiến pháp cho đến các văn bản dưới luật khác.
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở cơ sở thành lập các tổ
chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” [25, tr.72]. Để
cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, ngày 25/12/1998 Ủy ban Thường vụ
Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở;
ngày 18/10/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP
quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa
giải cơ sở. Ngoài ra còn có các văn bản khác như: Quyết định số
06/2008/QĐ-BTP ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban
hành biểu mẫu thống kê về tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải ở cơ sở;
Chương trình phối hợp số 1285/CTPH-BTP-BTTUBTƯMTTQVN ngày
24/4/2009 giữa Bộ Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam về tăng cường thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở;
Chỉ thị số 03/CT-BTP ngày 27/6/2011 về tăng cường công tác hòa giải ở cơ
sở…
Cùng với Hiến pháp 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và những
văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành của Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu
quan, các văn bản của UBND các cấp ban hành đã tạo nên một hệ thống
đồng bộ các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
10
Như vậy, có thể định nghĩa pháp luật về hòa giải ở cơ sở như sau:
Pháp luật về hòa giải ở cơ sở là tổng thể các quy phạm pháp luật thể chế
hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, do cơ
quan Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành nhằm điều chỉnh các
dung cơ bản đó là: thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực
hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật là hoạt động thực tế,
hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật
trở thành hiện thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, cũng có sự khác nhau trong
các định nghĩa trên. Có định nghĩa nêu thực hiện pháp luật là một quá trình
hoạt động, các định nghĩa khác lại chỉ nêu thực hiện pháp luật là hiện
tượng, quá trình. Tóm lại, thực hiện pháp luật được thống nhất hiểu chung
là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các qui định của pháp luật trở
thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật và
được thực hiện trong thực tế cuộc sống.
Pháp luật về hòa giải ở cơ sở muốn đi vào thực tiễn đời sống xã hội
cần phải biến những quy định, những yêu cầu trong quy phạm pháp luật về
hòa giải ở cơ sở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể
pháp luật. Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa về thực hiện pháp luật hòa giải ở
cơ sở như sau:
Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở là quá trình hoạt động có
mục đích làm cho những quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở đi vào
cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp
luật nhằm góp phần giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong
nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp
trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp
12
luật; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; giảm bớt một phần gánh nặng cho
tòa án và các cơ quan hành chính nhà nước, góp phần tạo sự ổn định để
phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
- Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp
tính phổ biến nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của các tổ chức và công dân. Các quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán
tốt đẹp là các quy tắc xử sự có tính truyền thống trong quan hệ xã hội phù
hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân.
Chính sách pháp luật của Nhà nước cùng với đạo đức xã hội và phong tục
tập quán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình hòa giải viên
thực hiện nhiệm vụ của mình. Người hòa giải viên nếu biết kết hợp chính
sách, pháp luật của Nhà nước với các chuẩn mực đạo đức, phong tục tập
quán tốt đẹp của dân tộc ta sẽ là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên
sự thành công của hòa giải.
Để đạt được sự thành công đó, người hòa giải viên phải hiểu, nắm
vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trước hết,
cần nắm vững các văn bản pháp luật có liên quan mật thiết với công tác
hòa giải ở cơ sở như pháp luật dân sự (quan hệ tài sản, quan hệ hợp đồng
dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế...); pháp luật hôn nhân và gia đình (quyền,
nghĩa vụ của vợ, chồng, quan hệ cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn...);
pháp luật đất đai; pháp luật hành chính, pháp luật hình sự...
Bên cạnh việc nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, hòa giải viên cần nắm vững các phong tục, tập quán tốt đẹp
của địa phương để động viên, khuyên nhủ các bên dàn xếp mâu thuẫn,
tranh chấp nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu
14
số. Tuy nhiên việc vận dụng các phong tục tập quán, câu ca dao, tục ngữ
phải có sự chọn lọc cho phù hợp, tránh giáo lý, hủ tục lạc hậu. Ví dụ, ở Tây
Nguyên, hòa giải viên có thể kết hợp một số quy định tiến bộ trong luật tục
Êđê để hòa gải. Cụ thể trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, luật tục Êđê
coi trọng việc “vợ chồng kết hôn ăn ở bền vững, không bỏ nhau” hoặc luật
không xuê xoa “dĩ hòa vi quý” cho xong việc. Hơn nữa, có khách quan,
công bằng thì hòa giải viên mới tạo được lòng tin của các bên, để họ lắng
nghe, tiếp thu ý kiến phân tích, giải thích của mình, từ đó có nhận thức và
tự nguyện điều chỉnh hành vi cho phù hợp với quy định của pháp luật, đạo
đức xã hội và phong tục tập quán.
Hoạt động hòa giải ở cơ sở đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc có lý, có
tình, nghĩa là hòa giải phải dựa trên cơ sở pháp luật và đạo đức xã hội.
Trước hết cần đề cao yếu tố tình cảm, dựa vào đạo đức xã hội để phân tích,
khuyên nhủ các bên ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức: như con cái
phải có hiếu với cha mẹ; anh chị em phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn
nhau “như thể tay chân”, “chị ngã em nâng”, “máu chảy ruột mềm”, “môi
hở răng lạnh”; vợ chồng sống với nhau phải có tình, có nghĩa : “đạo vợ,
nghĩa chồng”, “gái có công chồng chẳng phụ”, tất cả vì con cái; xóm giềng
thì “tối lửa tắt đèn có nhau”, “vắng anh em xa mua láng giềng gần” và
“thương người như thể thương thân”...Cùng với việc giải thích, thuyết phục
các bên ứng xử phù hợp với các quy tắc đạo đức xã hội, hòa giải viên phải
dựa vào pháp luật để phân tích, tư vấn pháp luật, đưa ra những lời khuyên
và hướng dẫn các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố
và pháp huy những tình cảm, đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và
cộng đồng, phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an
toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.
16