Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước tại
một số làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và
đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm
Nguyễn Thị Thắm
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Khắc Hiệp
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu: tìm hiểu một số khái niệm về làng nghề,
giới thiệu về làng nghề Việt Nam nói chung và làng nghề Bắc Ninh nói riêng. Đánh
giá hiện trạng môi đất, nước tại một số làng nghề trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh. Đề xuất
phương án, giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu ô nhiễm, từng bước cải thiện chất
lượng môi trường các làng nghề trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh.
Keywords: Khoa học môi trường; Môi trường đất; Môi trường nước; Bắc Ninh
Content
MỞ ĐẦU
Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, được phân bố rộng khắp
trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu. Trong những năm qua,
nhất là khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập dần vào nền kinh tế thế giới
thì hoạt động làng nghề ở Bắc Ninh đã có bước thay đổi lớn. Đến nay, Bắc Ninh có 62 làng
nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép
tái chế, đúc đồng...; trong đó có 32 làng nghề truyền thống và 30 làng nghề mới, chiếm
khoảng 10% tổng số làng nghề truyền thống của cả nước. Các làng nghề tập trung chủ yếu ở 3
huyện Từ Sơn, Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% số làng
nghề của tỉnh). Nhiều làng nghề của Bắc Ninh như: gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng
Đại Bái, tranh Đông Hồ... có từ lâu đời và nổi tiếng cả trong và ngoài nước.
Hàng năm, các làng nghề đã đóng góp ngân sách nhà nước, tạo việc làm tại chỗ cho gần
35 nghìn lao động và thu hút hàng nghìn lao động nông thôn các vùng phụ cận. Việc khôi
phục các làng nghề cũ, xây dựng các làng nghề mới, hình thành các cụm công nghiệp theo
ngành hàng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống; là mục tiêu, động lực thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, phù hợp với chủ trương của Đảng và
thông số trong nước thải giữa các làng nghề, nhâ ̣n thấ y nước thải ta ̣i tấ t cả các làng nghề
nghiên cứu đề u bi ̣ô nhiễm bởi các chấ t hữu cơ , riêng làng nghề Đa Hô ̣i còn bi ̣ô nhiễm bởi
kim loa ̣i nă ̣ng (hàm lượng Mn vượt QCCP 1,47 lầ n; hàm lượng Fe vượt QCC P 1,23 lầ n ).
- BOD5: tấ t cả các điể m đo đề u vươ ̣t QCCP từ 1,28 – 19,3 lần, trong đó cao nhất là điểm
NT3 và thấp nhất là điểm NT 2.
- COD: tấ t cả các điể m đo đề u vươ ̣t QCCP từ 1,16 – 17,28 lần, trong đó cao nhất là
điểm NT3 và thấp nhất là điểm NT2.
- TSS: có 3/5 điể m đo vươ ̣t QCCP từ 4,98 – 7,82 lần, trong đó cao nhất là điểm NT5.
- Amoni: tấ t cả các điể m đo đề u vươ ̣t QCCP từ 1,06 – 1,45 lần, trong đó cao nhất là
điểm NT5 và thấp nhất là điểm NT 1.
- Tổ ng N: tấ t cả các đi ểm đo đều vượt QCCP từ 1,04 – 2,17 lần, trong đó cao nhất là
điểm NT5 và thấp nhất là điểm NT 1.
- Tổ ng P: tấ t cả các điể m đo đề u vươ ̣t QCCP từ 1,13 – 1,97 lần, trong đó cao nhất là
điểm NT5 và thấp nhất là điểm NT 1.
- Coliform: có 4/5 điể m đo vươ ̣t QCCP từ 1,2 – 3,2 lần, trong đó cao nhất là điểm NT5.
Tại điểm đo NT 1 có 8/22 chỉ tiêu vượt QCCP . Tại điểm đo NT 2 có 5/22 chỉ tiêu vượt
QCCP. Tại điểm đo NT3, NT4 và NT5 có 7/22 chỉ tiêu vượt QCCP.
Qua bảng phân tić h kế t qu ả chất lượng nước mặt tổng hợp và các đồ thị
so sánh các
thông số ô nhiễm trong nước mặt giữa các làng nghề, nhâ ̣n thấ y nước mă ̣t ta ̣i tấ t cả các làng
nghề nghiên cứu đề u bi ̣ô nhiễm bởi các chấ t hữu cơ .
- BOD5: tấ t cả các điể m đo đề u vươ ̣t QCCP từ 2,2 – 10,27 lần, trong đó cao nhất là điểm
NM3 và thấp nhất là điểm NM 2.
- COD: tấ t cả các điể m đo đề u vươ ̣t QCCP từ 1,87 – 8,73 lần, trong đó cao nhất là điểm
NM3 và thấp nhất là điểm NM 2.
- TSS: có 3/5 điể m đo vươ ṭ QCCP từ 1,08 – 3,2 lần, trong đó cao nhất là điểm NM3.
- Amoni: tấ t cả các điể m đo đề u vươ ̣t QCCP từ 1,1 – 8 lần, trong đó cao nhất là điểm
NM3 và thấp nhất là điểm NM 2.
- Coliform: có 3/5 điể m đo vươ ̣t QCCP từ 1,04 – 1,13 lần, trong đó cao nhất là điểm
NM3.
các bệnh hô hấp, bệnh tiêu hóa, bệnh thần kinh... rất cao và không có sự khác biệt lớn giữa
người trực tiếp sản xuất và người không trực tiếp sản xuất.
Như vậy có thể thấy tác động của môi trường đến sức khoẻ cộng đồng ở làng giấy
Dương ổ trên diện rộng. Mọi người sống trong làng đều bị ảnh hưởng bất kể có tham gia sản
xuất hay không. Điều này thực sự nguy hiểm đặc biệt đối với người già và trẻ em.
Môi trường làng nghề ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân, mà
còn tác động trực tiếp đến đời sống và sản xuất của xã.
Sự tăng trưởng kinh tế và những thay đổi tại làng nghề không phải là hoàn toàn tích
cực. Cùng với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế đối với cộng đồng địa phương và vấn đề ô
nhiễm môi trường, vấn đề sức khoẻ tại làng nghề Phong Khê đã xuất hiện như một cái gì đó
tất yếu của sự phát triển; và người dân trong làng nghề đang phải chấp nhận sống trong điều
kiện ô nhiễm về mặt môi trường để đổi lại sự thu nhập về mặt kinh tế.
Đến làng Dương ổ - xã Phong Khê, hầu hết những thửa ruộng dọc theo chiều dài gần
200m của mương tiêu nước đã trở thành ao chứa một thứ nước thải đen kịt và đặc sệt do chứa
quá nhiều hóa chất và bột giấy. Những thửa ruộng này đang phải bỏ hoang trong vài năm nay
vì không thể trồng được một loại cây gì đem lại năng suất, dù chỉ ở mức thấp nhất. Hiện nay,
việc tăng cường và mở rộng sản xuất, các hộ dân tự ý xây dựng nhà xưởng sản xuất ở khu vực
Đồng Ngòi, Đồng Dé, Đồng Lũng… đã thải trực tiếp nước thải ra mương và chảy tràn vào các
thửa ruộng ở lân cận. Hàng chục hécta đồng ruộng sẽ không thể sản xuất nông nghiệp, nhiều
gia đình đang lâm vào tình trạng không có đất sản xuất, năng suất sản xuất không cao, chất
lượng sản phẩm kém chất lượng.... Các bãi rác trong làng luôn ở trong tình trạng được đốt
cháy âm ỉ trong nhiều ngày làm cho bầu không khí trong làng trở nên ngột ngạt và một điều
đáng lưu ý là trong thành phần của rác thải chứa rất nhiều nilon, băng dính, keo, nhựa… trong
3
quá trình đốt cháy thủ công sinh ra các khí độc, trong đó có khí đioxin là tác nhân gây ung
thư.
Bệnh phổ biến của làng nghề sắt thép Đa Hội, làng nghề đúc nhôm chì Văn Môn là các
Từ việc phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường tại các làng nghề cho thấy ô nhiễm
môi trường của các làng nghề trên địa bàn toàn tỉnh đã đến mức báo động. Nhằm ngăn chặn
tình trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng, khắc phục mức độ suy thoái ô
nhiễm, từng bước cải thiện chất lượng môi trường sống của cộng đồng dân cư các làng nghề
cũng như các vùng lân cận, cần phải thực hiện và áp dụng đồng bộ các giải pháp sau:
*/ Quy hoạch lại làng nghề
Vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề chủ yếu là do người dân tiến hành sản xuất ngay
tại hộ gia đình, không tách rời sản xuất khỏi khu dân cư dẫn đến ảnh hưởng tới tất cả mọi
người trong thời gian dài. Vì vậy:
- Đối với các làng nghề chưa có cụm công nghiệp: Giải pháp trước tiên là tiến hành quy
hoạch, xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung có đầu tư xây dựng các hệ thống đường
giao thông nội bộ, hệ thống cấp thoát nước, áp dụng đồng bộ các công nghệ xử lý khí thải,
nước thải và chất thải rắn… sau đó di chuyển các cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư.
- Đối với các làng nghề đã quy hoạch, xây dựng cụm công nghiệp: Phải tiến hành rà
soát lại toàn bộ hệ thống quy hoạch, đầu tư xây dựng ngay hệ thống xử lý nước thải công
nghiệp tập trung, khu vực thu gom rác thải công nghiệp. Yêu cầu các hộ sản xuất trong cụm
công nghiệp phải xây dựng hệ thống xử lý khí thải, nước thải sơ bộ.
4
*/ Giáo dục môi trường nâng cao ý thức cộng đồng
Thực tế người lao động và người dân làng nghề coi việc bảo vệ môi trường là việc của
các cấp chính quyền. Họ luôn trông chờ vào bên ngoài trong việc cải thiện chất lượng môi
trường sống của chính họ. Vì vậy, giáo dục môi trường nhằm nâng cao nhận thức của cộng
đồng trong việc bảo vệ môi trường, làm cho các thành viên trong cộng đồng nhận thức được
rằng bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của mỗi người trước hết vì sức khoẻ của chính bản thân
những người lao động và nhân dân trong làng. Muốn phát triển bền vững thì phải bảo vệ môi
trường. Việc nâng cao nhận thức của người dân có thể đạt được dưới nhiều hình thức như: Sử
dụng các phương tiện truyền thanh của thôn, xã để thông báo, nhắc nhở mọi người giữ vệ sinh
động.
- Phải quy hoạch các doanh nghiệp, khu vực lưu trữ chất thải rắn và chất thải nguy hại
bằng việc xây dựng tường bê tông và đáy bể được phủ một lớp màng chống thấm nước thải
xuống tầng sâu, các hố này phải có nhiều ngăn để chứa riêng chất thải nguy hại và chất thải
không nguy hại.
*/ Giám sát chất lượng môi trường
Tổ chức quan trắc, đo đạc, phân tích ghi nhận và kiểm soát một cách thường xuyên, liên
tục các thông số chất lượng môi trường, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp xử lý, bảo vệ môi
trường. Đây là biện pháp đòi hỏi quan điểm đầu tư phù hợp về nguồn nhân lực và vật lực, bởi
vì nó là một quá trình tổng hợp các biện pháp kỹ thuật, công nghệ và kiểm soát chất thải của
5
doanh nghiệp. Nếu làm tốt việc này thì đây sẽ là giải pháp bảo vệ môi trường một cách hữu
hiệu nhất đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội trong chiến lược phát triển bền vững.
Nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, ngoài
các giải pháp kỹ thuật trên cần phải tăng cường các biện pháp quản lý sau:
Tổ chức thanh, kiểm tra việc chấp hành quy định về bảo vệ môi trường đối với các cơ
sở sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp, làng nghề và tiến hành phân loại các cơ sở sản xuất
theo các mức độ ô nhiễm.
Thực hiện việc lập báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường.
+ Tất cả các cơ sở sản xuất trên địa bàn các xã có làng nghề đang tiến hành hoạt động
sản xuất, kinh doanh chưa lập báo cáo đánh giá tác động môi trường phải tiến hành lập báo
cáo đánh giá hiện trạng môi trường và thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình xử
lý chất thải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam.
Xây dựng và ban hành chính sách:
* Đối với các khu, cụm công nghiệp làng nghề đang hoạt động:
- Tổ chức rà soát, bổ sung xây dựng cải tạo hạ tầng cơ sở đồng bộ hệ thống cấp thoát
nước mặt và trạm xử lý nước thải tập trung , bố trí diện tích đất lưu giữ chất thải công nghiệp
trình xử lý chất thải vận hành thử đạt yêu cầu mới được đưa vào sử dụng.
- Khuyến khích khai thác nước mặt vào phục vụ nước sản xuất công nghiệp đối với các
cụm công nghiệp làng nghề có nguồn nước mặt.
1. Qua các kết quả số liệu thu thập được cho thấy:
6
- Môi trường nước mặt tại tấ t cả các làng nghề nghiên cứu bi ̣ô nhiễm nă ̣ng bởi các
chất hữu cơ: BOD5 = (33-154) mg/l, COD = (56-262) mg/l, amoni = (0,55-4) mg/l…
- Môi trường nước thải ở các làng nghề Văn Môn , Phong Khê, Phú Lâm và Đại Lâm
không bi ̣ô nhiễm bởi kim loa ̣i nă ̣ng mà chỉ bi ̣ô nhiễm nă ̣ng bởi chấ t hữu cơ
: BOD5 = (64965) mg/l, COD = (116-1728) mg/l, amoni = (10,6-14,5) mg/l, tổ ng N = (31,2-65) mg/l, tổ ng
P = (6,8-11,8) mg/l… Riêng làng nghề Đa Hô ̣i thì bi ̣ô nhiễm nă ̣ng bởi cả chấ t hữu cơ và kim
loại nặng : BOD5 = 135 mg/l, COD = 240 mg/l, Coliform = 6000 MPN/100ml, Mn = 1,47
mg/l, Fe = 6,15 mg/l…
- Môi trường đất ở tất cả các làng nghề mà đề tài nghiên cứu chưa có dấu hiệu bị ô
nhiễm bởi kim loại nặng, các chỉ tiêu phân tích về kim loại nặng đều nằm trong giới hạn cho
phép theo QCVN 03:2008/BTNMT - Đất công nghiệp.
2. Những căn bệnh chủ yếu ở các làng nghề nghiên cứu là bệnh về đường hô hấp (ho,
khạc đờm, ngạt thở….), bệnh về mắt (ngứa cộm mắt, mắt đỏ…), bệnh tiêu hóa (chán ăn, đau
bụng, tiêu chảy…)… Nguyên nhân gây ra các bệnh trên là do người dân tại các làng nghề này
thường xuyên hít thở phải không khí ô nhiễm bởi khí độc, khói bụi và sử dụng nước để sinh
hoạt bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ.
3. Để làm giảm thiể u ô nhiễm môi trường đấ t , nước ta ̣i các làng nghề nghiên cứu , mô ̣t
số giải pháp cầ n đươ ̣c thực hiê ̣n : quy hoa ̣ch la ̣i làng nghề , xây dựng hương ước bảo vê ̣ môi
trường, xây dựng hệ thống xử lý nước thải, tăng cường các biện pháp quản lý...
4. Bên cạnh những kết quả đạt được, đề tài vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:
- Số lươ ̣ng mẫu phân tích đấ t và nước ta ̣i mô ̣t số làng nghề còn quá ít
, hơn nữa có
nghiê ̣p (QCVN 24:2009/BTNMT), Hà Nội.
5. Phạm Thị Hoa Mai (2000), Báo cáo nghiên cứu khoa học y tế cộng đồng, Hà Nội.
6. Nguyễn Thuý Quỳnh (2001), Báo cáo nghiên cứu khoa học y tế cộng đồng, Hà Nội.
7. Sở Công Thương Bắc Ninh (2008), Làng nghề Bắc Ninh hội nhập và phát triển, Bắc Ninh.
8. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2009), Đề án điều tra, đánh giá hiện trạng môi
trường đất do phát triển làng nghề, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Ninh.
9. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2009), Hiện trạng môi trường một số làng nghề
tỉnh Bắc Ninh, Bắc Ninh.
10. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2010), Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2010,
Bắc Ninh.
11. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2010), Đề án đánh giá hiện trạng môi trường 5
năm (2006 – 2010), Bắc Ninh.
12. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2011), Kế t quả phân tích hiê ̣n trạng môi trường
nước quý I/2011, Bắ c Ninh.
13. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2011), Kế t quả phân tích hiê ̣n trạng môi trường
nước quý II/2011, Bắ c Ninh.
14. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2011), Kế t quả phân tích hiê ̣n trạng môi trường
nước quý III/2011, Bắ c Ninh.
15. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2011), Kế t quả phân tích hiê ̣n trạng môi trường
đấ t quý II/2011, Bắ c Ninh.
16. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2011), Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện mạng
lưới quan trắ c tài nguyên và môi trường quý III năm 2011, Bắ c Ninh.
17. Tổng cục môi trường (2008), Báo cáo hiện trạng sản xuất và môi trường một số làng nghề
tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội.
18. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2007), Định hướng chiến lược bền vững tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2006 - 2020, Bắc Ninh.
19. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2008), Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2010 - 2020, Bắc Ninh.
8