BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ CÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................................6
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ..................................................................................7
MỞ ĐẦU ..............................................................................................................8
Chƣơng 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ
công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng ...............................................13
1.1. Những khái niệm cơ bản về đầu tƣ công .....................................................13
1.2. Quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ƣơng ....................................................................................................................31
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công ....................................31
1.2.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công............................ 31
1.2.3. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công ...................................32
1.2.4. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công ......................................34
1.2.5. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công .........44
1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ công ...........................................48
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................... 52
Chƣơng 2 Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai
đoạn 2011-2016 ..................................................................................................53
2.1. Khái quát chung về tình hình phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội
giai đoạn 2011-2016 ........................................................................................... 53
2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai
đoạn 2011-2016 ..................................................................................................56
2.3. Đánh giá chung quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội
giai đoạn 2011-2016 ........................................................................................... 75
Tiểu kết chƣơng 2 ............................................................................................... 79
Chƣơng 3 Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà
Nội giai đoạn đến năm 2020 ...............................................................................80
3.1. Bối cảnh mới về đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020 ..80
4
Bảng 2.5. Cơ cấu đầu tƣ chi đầu tƣ XDCB theo lĩnh vực và theo ngành
của thành phố Hà Nội trong kế hoạch đầu tƣ công trung hạn 2016-2020
6
53
60
60
61
62
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Hình
Trang
Hình 1.1. Các nội dung của chi đầu tƣ công theo thông lệ quốc tế
Hình 1.2. Các nội dung của chi đầu tƣ phát triển theo Luật Ngân sách
Việt Nam
7
13
18
- Đề tài “Quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách nhà nƣớc (NSNN) của
thành phố Hà Nội” - Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị do Tác giả Lê Toàn Thắng
bảo vệ và công bố năm 2012 tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài không đặt trọng
tâm vào nghiên cứu QLNN mà nghiên cứu quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN.
- Đề tài khoa học cấp Thành phố “Tái cấu trúc đầu tƣ công thành phố Hà Nội
phục vụ tăng trƣởng cao, bền vững trong giai đoạn 2011-2020” do TS. Nguyễn
Đình Dƣơng thực hiện, bảo vệ và công bố năm 2012 tại Viện nghiên cứu phát triển
kinh tế - xã hội Hà Nội. Đề tài nghiên cứu có liên quan đến đầu tƣ công thành phố
Hà Nội, song không đặt trọng tâm vào nghiên cứu QLNN.
- Đề tài “Quản lý nhà nƣớc về vốn đầu tƣ trong phát triển kết cấu hạ tầng
giao thông đô thị Hà Nội” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế do Tác giả Hồ Thị Hƣơng Mai
bảo vệ và công bố năm 2015 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài
đặt trọng tâm nghiên cứu vào QLNN nhƣng nghiên cứu trong phạm vi hẹp thuộc
ngành giao thông.
- Báo cáo nghiên cứu “Đầu tƣ công, thực trạng và tái cơ cấu” do Tác giả Vũ
Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái, Viện Kinh tế Việt Nam công bố năm 2011, Nhà
xuất bản Từ điển Bách Khoa Hà Nội. Đề tài vừa nghiên cứu về đầu tƣ công, vừa
nghiên cứu về QLNN đối với đầu tƣ công, song phạm vi nghiên cứu là quốc gia.
- Báo cáo nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tƣ XDCB tập trung từ NSNN do thành phố Hà Nội quản lý” do Tác giả Cấn Quang
Tuấn công bố năm 2009. Mặc dù phạm vi nghiên cứu của đề tài là thành phố Hà
Nôi, song đề tài chỉ nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ XDCB.
- Báo cáo nghiên cứu “Tái cơ cấu đầu tƣ trong nông nghiệp trong bối cảnh
đổi mới mô hình tăng trƣởng và tái cấu trúc nền kinh tế ở Việt Nam” do Tác giả
Đặng Kim Sơn công bố năm 2010 tại Hội thảo về tái cơ cấu đầu tƣ do Ủy ban kinh
tế của Quốc hội và Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tại Huế tháng 12/2010.
Đề tài có nghiên cứu về đầu tƣ công, song không tập trung vào QLNN và phạm vi
nghiên cứu trong ngành nông nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam.
công thành phố Hà Nội theo hƣớng phát triển bền vững, nhằm thực hiện Nghị quyết
của Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVI về phát triển Thủ đô 5 năm
(2015 - 2020).
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
10
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đƣa ra cơ sở khoa học về đầu tƣ công
và QLNN đối với đầu tƣ công, từ đó đối chiếu vào thực tiễn QLNN đối với đầu tƣ
công thành phố Hà Nội để kiến nghị các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những
hạn chế trong QLNN đối với đầu tƣ công Thành phố.
- Nhiệm vụ
Một là, hệ thống cơ sở lý luận về QLNN đối với đầu tƣ công.
Hai là, phân tích thực trạng QLNN đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội,
làm rõ hiệu quả và kết quả đầu tƣ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành
phố Hà Nội, chỉ rõ các hạn chế và nguyên nhân.
Ba là, đề xuất quan điểm, định hƣớng, giải pháp QLNN về đầu tƣ công của
thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
QLNN đối với đầu tƣ công từ nguồn vốn cân đối NSĐP thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Chủ thể QLNN: Chính quyền cấp Thành phố.
+ Khách thể: Đầu tƣ công trên địa bàn thành phố Hà Nội.
+ Về thời gian: Từ năm 2011 trở lại đây.
+ Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận
Luận văn vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, phƣơng pháp luận về thế
Nội giai đoạn 2011-2016.
Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công
thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020.
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ CÔNG CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ
TRỰC THUỘC TRUNG ƢƠNG
1.1. Những khái niệm cơ bản về đầu tƣ công
1.1.1. Khái niệm đầu tƣ
Đầu tƣ là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài
nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế.
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tƣ, có thể có những
cách hiểu khác nhau về đầu tƣ.
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả nhất định trong
tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực có thể là tiền, tài nguyên thiên
nhiên, sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt đƣợc có thể là sự tăng thêm các tài
sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực
ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn
hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc các kết quả đó.
Từ đây có khái niệm về đầu tƣ nhƣ sau: Đầu tƣ là hoạt động sử dụng các
nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất,
kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh
tế xã hội.
chính phủ trong kế toán và thống kê ngân sách chính phủ.
Theo đó, mặc dù các chính phủ trên thế giới có thể còn có các quan niệm
khác nhau nhƣng nhìn chung, đầu tƣ công hay đầu tƣ của chính phủ (tiếng Anh là
capital expenditure) về cơ bản đề cập đến hoạt động đầu tƣ của chính phủ vào tài
sản có thời gian sử dụng từ một năm trở lên. Đầu tƣ công cũng bao gồm đầu tƣ
nâng cấp hay phục hồi các tài sản vật chất mà cho phép gia tăng thời gian sử dụng
của tài sản (khác với việc sửa chữa hay bảo dƣỡng nhằm đảm bảo khả năng vận
hành tài sản trong thời gian sử dụng đã đƣợc kế hoạch) [19]. Ví dụ, đầu tƣ công của
chính phủ có thể bao gồm đầu tƣ vào các tài sản cố định mà chính phủ sử dụng (ví
dụ: văn phòng làm việc), hàng hóa bản chất là hàng hóa công cộng (ví dụ cầu,
đƣờng, điện, nƣớc) và các tài sản vô hình (ví dụ: giáo dục và nghiên cứu) [17].
14
Một cách khái quát, các nội dung chi đầu tƣ công trong thống kê ngân
sách theo thông lệ quốc tế [17] bao gồm: chi đầu tƣ tài sản cố định (đang tồn tại),
chi đầu tƣ tài sản cố định mới; chi đầu tƣ tài sản chính; chi chuyển giao (bao gồm
chi bổ sung cho NSĐP và chi hỗ trợ doanh nghiệp nhà nƣớc (DNNN)), chi trả nợ
(Hình 1.1).
Chi đầu tƣ công
(Capital expenditure)
Mua tài sản
(đang tồn tại)
- Nhà máy,
tài sản, trang
thiết bị.
- Tài sản tài
chính.
loại chi khác, thƣờng diễn ra dƣới dạng chi thƣờng xuyên và đƣợc thống kê vào chi
thƣờng xuyên nhƣng có đóng góp lớn vào tích lũy tài sản và sự phát triển lâu dài
của một quốc gia, trong đó nổi bật nhất là chi giáo dục và y tế. Một nội dung khác
cũng gây tranh cãi là chi bảo dƣỡng định kỳ, thƣờng đƣợc thống kê vào chi thƣờng
xuyên, nhƣng xét về ý nghĩa kinh tế, chi bảo dƣỡng và phục hồi tài sản theo định
15
kỳ cần đƣợc coi là chi đầu tƣ vì nếu không có những hoạt động này, thời gian và
hiệu quả sử dụng tài sản có thể bị ảnh hƣởng rất lớn.
Cũng cùng quan điểm tƣơng tự, Bộ Tài chính Đan Mạch (2011) cho rằng
đầu tƣ của nhà nƣớc và vốn vật chất (đƣờng sá, văn phòng, các công trình thủy
lợi…) là một bộ phận quan trọng trong ngân sách đầu tƣ công. Song, đầu tƣ vào
giáo dục, đào tạo và nghiên cứu - đầu tƣ vào hạ tầng mềm, đóng vai trò quan trọng
không kém vào tăng trƣởng quốc gia, lại không đƣợc tính vào ngân sách đầu tƣ
công.
Viện Chính sách kinh tế Hoa Kỳ (2011) cũng cho rằng, đầu tƣ công là tất
cả các khoản chi tiêu của ngân sách cho các đối tƣợng khác nhau trong nền kinh tế
mà những khoản chi tiêu này có tác dụng kích hoạt hoặc thúc đẩy chi tiêu của mọi
thành phần kinh tế. Nhƣ vậy, theo khái niệm này, chi tiêu của nhà nƣớc cho giáo
dục, y tế và các lĩnh vực khác để phát triển con ngƣời cũng đƣợc coi là đầu tƣ công.
Thống nhất với cách hiểu này, giáo sƣ Robert Ducan (Đại học Missouri, Hoa Kỳ,
2011) đã tóm tắt quan điểm của mình rằng “đầu tƣ công có nghĩa là sở hữu công”.
Nói cách khác, bất kỳ chi tiêu nào sử dụng các nguồn lực do nhà nƣớc sở hữu đều
bao hàm trong khái niệm đầu tƣ công, và nhƣ vậy đầu tƣ công gần nhƣ đồng nhất
với chi tiêu công.
Không chỉ có những tranh luận về cách thức định nghĩa đầu tƣ công trên
cơ sở phân loại ngân sách thế giới đang áp dụng phổ biến hiện nay, bản thân định
nghĩa đầu tƣ công theo các nhà kinh tế, ví dụ E. Anderson (2006) cũng có nhiều
Ở mức độ khái quát cao, đầu tƣ phát triển đƣợc định nghĩa là “công việc
sử dụng một khoản tiền vốn có tính toán, để đạt được mục đích nhất định vì sự phát
triển” [14]. Cụ thể hơn, đầu tư phát triển được hiểu là “bộ phận cơ bản của đầu
tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng
thêm hoặc tạo ra nhưng tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri
thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát
triển” [5]. Dù định nghĩa thiên về tính khái quát cao hay thiên về cụ thể, các quan
niệm này đồng nhất với quan niệm về đầu tƣ phát triển của cộng đồng quốc tế. Ví
dụ, quan niệm của Quỹ Tiền tệ quốc tế, đầu tƣ phát triển đƣợc định nghĩa là phần
sản lƣợng đƣợc tích lũy nhằm tăng năng lực sản xuất tƣơng lai của nền kinh tế [20].
b) Về đầu tư công
Quan niệm về đầu tƣ công chƣa đƣợc thống nhất giữa các nhà nghiên
cứu, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý trong nƣớc và có sự khác biệt
với quan niệm và thống kê của quốc tế.
17
Theo Nguyễn Đăng Bình [2], đầu tƣ công đƣợc hiểu là đầu tƣ vào hàng
hóa công cộng, “nói chung là đầu tƣ của nhà nƣớc vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội, sản xuất, cung cứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cải thiện môi trƣờng sinh thái,
tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm an ninh quốc phòng”. Quan niệm này liệt kê khá
cụ thể về các nội dung của đầu tƣ công nhƣng tính khái quát chƣa cao nên không
bao hàm hết các nội hàm của đầu tƣ công. Quan niệm tƣơng tự cũng đƣợc thể hiện
trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh [9]: Đầu tƣ công
(thuần) đƣợc hiểu nhƣ là phần chi tiêu công (public expenditure) đƣợc thêm vào
lƣợng vốn vật chất để tạo ra các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đƣờng sá, cầu
cảng, trƣờng học, bệnh viện v.v… Nguồn vốn đầu tƣ công thƣờng bao gồm NSNN,
trái phiếu chính phủ, hoặc viện trợ phát triển của nƣớc ngoài. Tùy theo quan niệm
của từng quốc gia mà đầu tƣ công có thể bao gồm các dự án cho các mục đích kinh
doanh (qua khu vực DNNN) hoặc các dự án chỉ thuần mục đích công ích.
vụ hoạt động của cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội; (ii) Đầu tƣ và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công
ích; (iii) Đầu tƣ của Nhà nƣớc tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công
tƣ [6].
Về khía cạnh thống kê, rõ ràng là có sự khác biệt rất lớn về các khái niệm
Việt Nam sử dụng so với thông lệ quốc tế. Trong phạm vi của đề tài, sự khác biệt
lớn nhất đó nằm ở khái niệm đầu tƣ XDCB.
Trong thống kê chi ngân sách của Việt Nam có nội dung chi đầu tƣ phát
triển (bản dịch tiếng Anh của Bộ Tài chính sử dụng thuật ngữ capital development
expenditure), trong chi đầu tƣ phát triển có chi đầu tƣ XDCB (bản dịch tiếng Anh
của Bộ Tài chính sử dụng thuật ngữ (capital construction investment, trong khi
Niên giám thống kê dịch là capital expenditure).
Thống kê ngân sách của quốc tế không có khái niệm đầu tƣ XDCB mà
hiểu nhƣ Tổng Cục thống kê thì chi đầu tƣ XDCB chính là chi đầu tƣ của chính phủ
(capital expenditure) nhƣ thế giới dùng. Tuy vậy, ở Việt Nam, thống kê chi đầu tƣ
XDCB của chính phủ chỉ là một nội dung của chi đầu tƣ phát triển bằng ngân sách
(khoảng 40% chi đầu tƣ phát triển bằng ngân sách) và về mặt nội dung cũng hẹp
hơn rất nhiều so với thống kê chi đầu tƣ của chính phủ theo cách thống kê của thế
giới. Vì thế, có lẽ không thể dùng thuật ngữ “capital expenditure” để dịch và hiểu
tƣơng đƣơng nhƣ “chi đầu tƣ XDCB” ở Việt Nam mà thuật ngữ này của quốc tế sát
với “chi đầu tƣ phát triển” hơn, tuy vẫn có khác biệt, đó là chi trả nợ ở Việt Nam
19
không tính vào chi đầu tƣ phát triển trong khi đó là một bộ phận của thống kê chi
đầu tƣ công theo thông lệ quốc tế.
Chi đầu tƣ phát triển
(Capital development
expenditure)
dựng mới TSCĐ (thƣờng đƣợc gọi là vốn đầu tƣ XDCB và (ii) Chi phí cho sửa
chữa lớn TSCĐ.
Về nội dung chi tiêu, vốn đầu tƣ XDCB và chi phí cho sửa chữa lớn
TSCĐ bao gồm: Chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy hoạch xây dựng chuẩn
bị cho việc đầu tƣ; chi phí thiết kế công trình; chi phí xây dựng; chi phí mua sắm,
lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn đầu tƣ XDCB; chi
phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết bị, sửa chữa lớn
các TSCĐ khác.
1.1.2.3. Quan điểm của Tác giả
20
Từ khảo sát các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về quan niệm đầu tƣ
công, Tác giả thấy rằng:
a) Về mặt ý nghĩa kinh tế
Để có quan niệm đầu tƣ công đúng đắn, cần xuất phát từ một quan niệm
đầu tƣ phát triển đúng đắn1. Quan niệm đầu tƣ phát triển đã đƣợc sử dụng thống
nhất ở cả trong nƣớc và quốc tế là hoạt động đầu tƣ nhằm tăng năng lực sản xuất
tƣơng lai của nền kinh tế. Khi nhà nƣớc là ngƣời đầu tƣ thì hoạt động đầu tƣ đó cần
đƣợc gọi là đầu tƣ công, khi tƣ nhân là ngƣời đầu tƣ thì hoạt động đầu tƣ đó cần
đƣợc gọi là đầu tƣ tƣ nhân.
Nhƣ vậy, Tác giả thống nhất với quan niệm cho rằng: Đầu tƣ công là đầu
tƣ bằng nguồn vốn nhà nƣớc bao gồm vốn NSNN, vốn vay trong và ngoài nƣớc của
chính phủ, vốn đầu tƣ phát triển của các DNNN và các vốn khác do nhà nƣớc quản
lý. Cần lƣu ý là quan niệm nhƣ vậy khác với ý kiến cho rằng việc gia tăng tƣ bản tƣ
nhân đƣợc gọi là đầu tƣ tƣ nhân… Việc gia tăng tƣ bản xã hội đƣợc gọi là đầu tƣ
công vì có những hoạt động đầu tƣ của chính phủ đƣợc thực hiện không nhằm gia
tăng tƣ bản xã hội, ví dụ đầu tƣ của các DNNN kinh doanh vì lợi nhuận.
Đối với khái niệm đầu tƣ XDCB, Tác giả cho rằng Việt Nam nên hƣớng
tới việc xây dựng hệ thống thuật ngữ và cách thống kê nhƣ thông lệ quốc tế, do đó
kéo dài từ 1940 đến 1979
Thời kỳ này chính phủ đảm nhận vai trò kinh doanh chủ đạo trong nền
kinh tế. Các quan điểm cổ vũ cho trào lƣu này có thể thấy trong các nghiên cứu của
các nhà kinh tế học cổ điển trƣớc Marshall và ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai
nhƣ W.A Lewis, Rosenstein Rodan, Nurkse, Singer, Prebish, Hirshman và
Leibenstein. Các nhà kinh tế này cho rằng phát triển kinh tế đòi hỏi việc tái phân bổ
một cách hệ thống các nguồn lực sản xuất từ khu vực năng suất lao động thấp, công
nghệ truyền thống (lạc hậu), mức sinh lợi giảm dần sang khu vực có năng suất cao,
công nghệ hiện đại và mức sinh lợi tăng dần. Với giả định rằng, quá trình tái phân
bổ nguồn lực bị cản trở bởi tính cứng nhắc vốn là bản chất của công nghệ và thể
chế, trƣờng phái này cho rằng, đầu tƣ nhỏ lẻ, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu kém, hạn
chế về tầm nhìn và thiếu vắng các thị trƣờng sẽ cản trở việc chuyển giao nguồn lực
giữa các khu vực một cách suôn sẻ theo hƣớng tối đa hóa lợi nhuận của tƣ nhân.
Ngoại ứng công nghệ ở các dự án kết cấu hạ tầng và dự án công nghiệp “cơ bản” sẽ
dẫn đến hợp tác thất bại và khiến tƣ nhân không (ít) đầu tƣ vào đó.
Quan điểm chính phủ đóng vai trò chủ đạo trong phát triển đã càng đƣợc
tăng cƣờng bởi thực tiễn cuối những năm 1950 cho thấy không có đủ các nhà công
nghiệp tiềm năng sẵn lòng và có thể thực hiện các dự án công nghiệp, trong khi đó
đầu tƣ vào bất động sản đem lại lợi nhuận cao. Hầu hết các nhà kinh tế phát triển cổ
điển đề xuất khi thiếu vắng khu vực tƣ nhân, chính phủ một mặt phải tiếp tục thực
22
hiện công việc của doanh nghiệp, mặt khác đồng thời phải thúc đẩy sự phát triển
của kinh tế tƣ nhân bằng cách tăng suất sinh lợi từ đầu tƣ tƣ nhân nhờ trợ cấp trực
tiếp của chính phủ hay bằng các dự án hợp tác công tƣ hoặc bằng cách trợ cấp các
chƣơng trình đào tạo quản lý v.v…
- Thời kỳ chính phủ đƣợc nhìn nhận là nguồn gốc của các vấn đề (từ năm
1979 đến năm 1996)
Các quan điểm nghi ngờ vai trò chủ đạo của chính phủ trong nền kinh tế
hạn chế đến tối đa. Các nhà lý thuyết thƣơng mại tân cổ điển hàng đầu của kinh tế
phát triển nhƣ Krueger và Bhagwati đã nhấn mạnh đến vai trò của thƣơng mại quốc
tế trong thay thế cầu trong nƣớc còn thấp ở các nƣớc đang phát triển. Họ cho rằng
điều cốt yếu nhất chính phủ cần làm để nền kinh tế tự vận hành trên con đƣờng
tăng trƣởng bền vững là loại bỏ các rào cản đối với thƣơng mại quốc tế. Theo
trƣờng phái “thƣơng mại là đủ”, tăng trƣởng kinh tế do xuất khẩu dẫn dắt sẽ là kết
cục tất yếu. Lợi thế so sánh, kết hợp định lý Hecksher - Ohlin sau đó sẽ đảm nhiệm
nốt phần còn lại. Chính phủ cũng nên loại bỏ các méo mó giá cả trên thị trƣờng
hàng hóa và thị trƣờng nhân tố sản xuất trong nƣớc để thúc đẩy các nhân tố sản
xuất chuyển dịch hợp lý, khuyến khích việc ứng dụng công nghệ phù hợp và tăng
tích lũy tƣ bản.
- Thời kỳ củng cố vai trò của chính phủ từ năm 1996 đến nay
Từ năm 1996 đến nay đã có các nghiên cứu đánh giá lại vai trò tối ƣu
của chính phủ trong phát triển kinh tế. Thứ nhất, các nhà kinh tế và các nhà hoạch
định chính sách cùng nhận ra rằng, kết quả tăng trƣởng của các nƣớc đang phát
triển trong những năm 1980, khi thực hiện các đề xuất hạn chế tối đa vai trò của
chính phủ, là khá kém cỏi. Thứ hai, mặc dù tăng trƣởng yếu kém diễn ra ở hầu hết
các nƣớc đang phát triển, ở khu vực Đông Á và một số nƣớc Nam Á nơi mà chính
phủ đóng vai trò tích cực đã có thành tích tăng trƣởng rất ấn tƣợng. Thứ ba, ở các
nƣớc thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng có xu hƣớng phản
đối triết lý tân tự do của thập kỷ 1980 mà kết quả là tăng trƣởng thấp và thất nghiệp
cao, chuyển sang tăng cƣờng vai trò của chính phủ.
Tuy nhiên, giờ đây trung tâm của tranh luận không ở chỗ tối thiểu hóa
vai trò của chính phủ mà tập trung vào việc làm thế nào để chính phủ can thiệp hiệu
quả hơn, hình thành nên trƣờng phái “Hậu đồng thuận Washington”. Trƣờng phái
này ủng hộ việc linh hoạt phối hợp tƣơng tác giữa nhà nƣớc và thị trƣờng. Theo đó,
các chính phủ phát triển đóng vai trò quan trọng trong đầu tƣ, ngân sách, hình thành
vốn nhân lực, đầu tƣ vào công nghệ, thiết lập thể chế, và thúc đẩy cải cách chính
24
triển, nhóm nƣớc đang phát triển và nhóm nƣớc phát triển [16].
25