Chơng XVII
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
I. Khái niệm và ý nghĩa của hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự
1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Hợp tác và hội nhập quốc tế và khu vực đang là một xu
thế phát triển tất yếu trên toàn thế giới và trong mọi lĩnh vực,
kể cả lĩnh vực t pháp hình sự. Điều này đợc lý giải trớc hết bởi
sự gia tăng về số lợng cũng nh tính chất nghiêm trọng của các
tội phạm quốc tế và các tội phạm mang tính quốc tế nh tội
khủng bố, buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em, các tội
phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, thơng mại... Đấu
tranh phòng chống tội phạm trong bối cảnh nh vậy đòi hỏi sự
nỗ lực không chỉ từng quốc gia riêng lẻ, mà đòi hỏi phải có sự
hợp tác chặt chẽ, đồng bộ của các quốc gia vì mục tiêu chung.
Mặt khác, những khác biệt trong điều kiện kinh tế-xã hội, về
phong tục tập quán, văn hóa, về pháp luật thực định sẽ cản trở
việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nếu không có sự
hợp tác thống nhất trên ít nhất là những nguyên tắc cơ bản về
hợp tác trong lĩnh vực t pháp hình sự. Nh vậy, yêu cầu đấu
tranh có hiệu quả với tội phạm nói chung, tội phạm quốc tế và
tội phạm có tính chất quốc tế nói riêng, đòi hỏi phải có sự hợp
tác quốc tế trong hoạt động t pháp hình sự đảm bảo cho hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án vừa đúng pháp
luật của mỗi quốc gia, vừa phù hợp với pháp luật quốc tế. Đó là
một nhu cầu cấp thiết đối với nớc ta cũng nh cộng đồng quốc
tế.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đợc hiểu là sự hợp
tác giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự
nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các cơ quan có
đến nay, nớc ta đã ký kết Hiệp định tơng trợ t pháp quốc tế
với nhiều quốc gia (khoảng 14 nớc), tham gia các công ớc quốc tế
của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy, về chống tội phạm có
tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tham gia tổ chức Cảnh sát
hình sự quốc tế và khu vực (Interpol, Aseanpol)...Trong pháp
luật thực định, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 lần đầu tiên
có quy định riêng về hợp tác quốc tế.
Cơ sở pháp lý, hình thức và nội dung hợp tác quốc tế
- Cơ sở pháp lý của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
là pháp luật quốc tế, tập quán quốc tế, các điều ớc quốc tế mà
nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia,
các hiệp định tơng trợ t pháp hoặc văn bản hợp tác quốc tế
song phơng giữa Việt Nam với các nớc khác và các quy định
của pháp luật nớc ta.
-Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đợc thực hiện dới
các hình thức sau:
2
- Hợp tác đa phơng giữa các quốc gia. Hình thức này đợc
thực hiện bằng sự ký kết hoặc tham gia của các quốc gia vào
các điều ớc quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham
gia các tổ chức quốc tế cũng nh khu vực có nhiệm vụ đấu
tranh phòng, chống tội phạm;
- Hợp tác song phơng giữa Việt Nam với quốc gia khác nh
ký kết hiệp định tơng trợ t pháp với các quốc gia khác nhau; các
bộ, ngành chức năng của nớc ta ký kết các văn bản hợp tác song
phơng trong lĩnh vực t pháp với các bộ, ngành của các quốc gia
khác.
-Nội dung hợp tác quốc tế phụ thuộc vào nội dung các văn
đời sống xã hội.
Trong lĩnh vực t pháp hình sự, hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng góp phần đấu tranh
phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm quốc tế nói riêng.
Thiếu những hợp tác quốc tế đa phơng hoặc song phơng
trong lĩnh vực t pháp hình sự, không thể tiến hành một cách
có hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án đối với các vụ án quốc tế hoặc có tính chất quốc tế. Rõ
ràng hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là một xu thế tất
yếu trong thời đại hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay.
Có thể khái quát ý nghĩa của hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự qua những điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự góp phần
bảo vệ và phát triển sự hợp tác quốc tế của Nhà nớc trong các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao;
Thứ hai, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là một
hình thức, biện pháp quan trọng đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm, và do vậy, đó là công cụ hữu hiệu để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và quốc gia;
Cuối cùng, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự góp phần
giáo dục ý thức pháp luật, ý thức tôn trọng lợi ích quốc gia, trách
nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong phạm vi quốc gia
cũng nh quốc tế.
II. Những quy định chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự
1. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố
tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, lần đầu tiên dành hẳn
một phần quy định về vấn đề hợp tác quốc tế trong tố tụng
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
quốc tế đợc xác định trong Hiến chơng Liên hợp quốc. Nguyên
tắc này điều chỉnh mọi quan hệ quốc tế song phơng cũng
nh đa phơng, trong đó có quan hệ quốc tế trong lĩnh vực t
pháp nói chung, t pháp hình sự nói riêng.
Nội dung nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, các cơ quan tiến
hành tố tụng của các quốc gia có nghĩa vụ phải tôn trọng độc
lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ khi phối hợp hoặc đợc ủy
thác tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự; nghiêm cấm
tiến hành các hoạt động tố tụng nếu hoạt động đó xâm phạm
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.
- Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi
5
Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế có nghĩa
là các quốc gia khác nhau, không phân biệt chế độ chính trị,
xã hội, lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều có quyền và nghĩa vụ
quốc tế nh nhau trong quan hệ quốc tế.
Trong hợp tác tố tụng hình sự, nguyên tắc bình đẳng đợc thể hiện ở chỗ các quốc gia bình đẳng trong tiến hành các
hoạt động tố tụng hình sự, có quyền lợi, nghĩa vụ ngang nhau,
không quốc gia nào đợc sử dụng các biện pháp kinh tế, chính
trị, ngoại giao, đặc biệt là quân sự để áp đặt ý chí của
mình cho quốc gia có quan hệ hợp tác.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải đảm bảo cho
các bên tham gia đều có lợi. Hoạt động tố tụng hình sự gây
thiệt hại hoặc bất lợi cho bất kỳ một bên nào đều không thể
đợc thực hiện.
- Nguyên tắc phù hợp với Hiến pháp của nớc Cộng hòa xã hội
nhau;
+ Nguyên tắc hợp tác giữa các quốc gia;
+ Nguyên tắc dân tộc có quyền tự quyết;
+ Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền;
+ Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế. (1)
- Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đợc
tiến hành phù hợp với các điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập và quy định của pháp luật nớc Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Nguyên tắc trên đây là những cơ sở pháp lý mà các bên
thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự phải
tuân theo.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự cũng đợc thực hiện
trên cơ sở các điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia
nhập. Đó là những văn bản đa phơng hoặc song phơng. Thông
thờng các điều ớc quốc tế mà hiện nay Việt Nam ký kết hoặc
gia nhập về lĩnh vực tố tụng hình sự là một số công ớc và các
hiệp định tơng trợ t pháp giữa nớc ta và một số nớc trên thế
giới.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đợc thực hiện phù
hợp với các văn bản pháp luật khác của nớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, trong đó chủ yếu là các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự nh Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh
điều tra hình sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân v.v...
- Nguyên tắc có đi có lại
Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng trong quan hệ
quốc tế nhằm đảm bảo sự cân bằng và lợi ích của các bên
(1)
(1993), Liên bang Nga (1998), Cộng hòa Pháp (1999), Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa (1998), Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào (1998) v.v...;
Đối với các quốc gia mà nớc ta cha ký kết hiệp định tơng
trợ t pháp thì áp dụng các quy định của các điều ớc quốc tế có
liên quan mà nớc ta và quốc gia tơng ứng ký kết hoặc gia nhập;
Đối với các quốc gia mà nớc ta cha ký kết hiệp định tơng
trợ t pháp, cha ký kết hoặc gia nhập các điều ớc quốc tế có liên
quan thì việc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đợc thực
hiện trên nguyên tắc có đi có lại không trái với pháp luật Việt
Nam và pháp luật cũng nh tập quán quốc tế.
8
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nớc ta.
2.2. Nội dung tơng trợ t pháp trong tố tụng hình sự
Nội dung của tơng trợ t pháp phụ thuộc vào yêu cầu tơng
trợ t pháp của bên hợp tác tơng ứng trên cơ sở điều ớc quốc tế
ký kết hoặc gia nhập. Qua thực tiến thực hiện các hiệp định
tơng trợ t pháp mà nớc ta ký kết với các nớc, nội dung tơng trợ t
pháp trong tố tụng hình sự thờng gồm:
- Tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Thực hiện các hoạt động điều tra nh thu thập chứng cứ,
lấy lời khai, thực hiện khám xét, thu giữ...;
- Tống đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng;
- Cung cấp thông tin, tài liệu, vật chứng, kết luận giám
định;
- Trợ giúp việc trình diện của cá nhân tại cơ quan tiến
hành tố tụng của quốc gia yêu cầu;
- Dẫn độ để xét xử hoặc thi hành án;
đến chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác
của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
III. Dẫn độ và chuyển giao hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ
án
1. Dẫn độ trong tố tụng hình sự
1.1. Khái niệm, căn cứ, nội dung dẫn độ trong tố
tụng hình sự
Dẫn độ trong tố tụng hình sự là việc bắt giữ và chuyển
giao ngời nào đó từ quốc gia này sang quốc gia khác để truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.
Việc dẫn độ đợc thực hiện dựa trên các căn cứ sau đây:
- Căn cứ pháp lý của việc dẫn độ là có các điều ớc quốc tế
mà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc
gia nhập. Đó có thể là các công ớc quốc tế đa phơng, các quy
chế thành lập, hoạt động của các tổ chức quốc tế về đấu
tranh phòng, chống tội phạm, các hiệp định tơng trợ t pháp
song phơng, các thỏa thuận khác giữa nớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam với các nớc khác;
- Căn cứ thực tế là ngời đợc yêu cầu dẫn độ đã thực hiện
hành vi phạm tội hoặc đã bị kết án hình sự mà bản án đã có
hiệu lực pháp luật.
Mục đích của việc dẫn độ là để truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc thi hành án. Ngoài ra, không thể thực hiện việc
dẫn độ nhằm vào mục đích nào khác.
10
Dẫn độ trong tố tụng hình sự đợc thực hiện thông qua
1.2. Từ chối dẫn độ trong tố tụng hình sự
Từ chối dẫn độ là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng của quốc gia đợc yêu cầu dẫn độ không thực hiện việc
dẫn độ khi có những lý do mà pháp luật quy định.
11
Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định các
trờng hợp từ chối dẫn độ bắt buộc và các trờng hợp từ chối dẫn
độ tùy nghi.
- Từ chối dẫn độ bắt buộc.
Theo quy định của Bộ luật tố tungj hình sự 2003, cơ
quan tiến hành tố tụng của Việt Nam bắt buộc từ chối dẫn độ
trong các trờng hợp sau đây:
Ngời bị yêu cầu dẫn độ là công dân nớc Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam;
Ngời bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt do đã hết thời hiệu
hoặc vì những lý do hợp pháp khác. Ví dụ: Ngời bị yêu cầu
dẫn độ cha đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật
hình sự Việt Nam, ngời không thực hiện hành vi phạm tội, đã
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu chấp
hành hình phạt v.v...;
Ngời bị yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự
đã bị Tòa án nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kết tội
bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi phạm tội đợc
nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc vụ án đã đợc đình chỉ theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;
Ngời bị yêu cầu dẫn độ là ngời đang c trú ở Việt Nam vì
vụ án, tài liệu liên quan đến vụ án đợc thực hiện theo các quy
định của điều ớc quốc tế mà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và quy định của pháp luật
Việt Nam. Vật chứng, đồ vật, tài liệu chỉ đợc chuyển ra khỏi
biên giới nớc ta nếu theo pháp luật Việt Nam thì vật chứng, tài
liệu, đồ vật đó có thể đa đợc ra khỏi biên giới. Những vật mà
theo pháp luật Việt Nam bị cấm lu hành hoặc cấm buôn bán,
vận chuyển ra khỏi biên giới thì không đợc chuyển giao cho cơ
quan có thẩm quyền của nớc ngoài; tài liệu thuộc bí mật quân
sự, bí mật quốc gia hoặc bí mật công tác không thể chuyển
ra nớc ngoài cùng hồ sơ vụ án v.v...
Đối với những vật chứng nếu không thể chuyển giao đợc
cho phía nớc ngoài cùng hồ sơ vụ án thì cơ quan tiến hành tố
tụng Việt Nam cung cấp bản ảnh, biên bản mô tả cho cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng nớc ngoài.
Riêng việc chuyển giao đồ vật, tiền liên quan đến vụ án
ra ngoài lãnh thổ nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ
đợc thực hiện theo quy định của pháp luật nớc Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Tiền liên quan đến vụ án thuộc sở hữu
nhà nớc, sở hữu tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức
13
xã hội, sở hữu của công dân nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam không đợc chuyển ra nớc ngoài.
Chủ thể duy nhất có trách nhiệm chuyển giao hồ sơ, vật
chứng của vụ án, tài liệu, đồ vật, tiền liên quan đến vụ án là
Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong mọi trờng hợp, nếu cần
chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án, tài liệu, đồ vật, tiền