Quản lý thu ngân sách trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (LV thạc sĩ) - Pdf 47

a

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NGỌC TUẤN

QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

ĐẮK LẮK - NĂM 2017


b

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NGỌC TUẤN

d

LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Học viện Hành chính, khoa Sau đại học,
các khoa bộ môn và các thầy cô giáo trong Học viện đã tận tình giảng dạy và
giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt khóa đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành
Quản lý công.
Đặc biệt tôi vô cùng biết ơn TS. Phùng Văn Hiền, giáo viên hướng dẫn
khoa học đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành được Luận văn này.
Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm giúp đỡ về mọi mặt của Ban lãnh đạo
Phân viện khu vực Tây Nguyên, lãnh đạo cơ quan, gia đình, bạn bè và các
đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện, các ngành
chuyên môn của huyện Đồng Xuân đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư thời gian và công sức nghiên
cứu hoàn thành luận văn, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm
khuyết, kính mong các thầy giáo, cô giáo và bạn đọc thông cảm.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Tuấn


e

MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu

nhà nước cấp huyện

19

1.2.2. Nguyên tắc quản lý thu ngân sách Nhà nước cấp huyện

20

1.2.3. Vai trò của quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện

20

1.2.4. Nội dung của quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện

22

1.2.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện

30

1.3.

Kinh nghiệm quản lý thu ngân sách nhà nước ở một số địa bàn
cấp huyện

33

1.3.1. Huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

33

Phú Yên

46

2.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý thu ngân sách nhà nước ở huyện Đồng Xuân

46

2.2.2. Thực trạng thu ngân sách nhà nước huyện Đồng Xuângiai đoạn
2011- 2015

49

2.2.3. Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước tại huyện Đồng Xuân
giai đoạn 2011 - 2015

66

2.3. Đánh giá thực trạng quản lý thu ngân sách trên địa bàn huyện
Đồng Xuân giai đoạn 2011 - 2015

79

2.3.1. Kết quả đạt được

79

2.3.2. Hạn chế

81

nước tại huyện Đồng Xuân

92

3.2.1. Kiên trì thực hiện giải pháp cơ bản và lâu dài là đẩy mạnh phát triển
sản xuất, kinh doanh trên địa bàn để phát triển kinh tế bền vững nhằm tăng
nguồn thu ngân sách; bồi dưỡng và tăng cường các nguồn thu

93

3.2.2. Khai thác có hiệu quả và tích cực chống thất thu thuế đặc biệt đối với
những nội dung có tỷ lệ đóng góp lớn cho ngân sách

95

3.2.3. Hoàn thiện quy trình lập dự toán và quyết toán thu ngân sách; Tăng
cường phân cấp nguồn thu ngân sách của địa phương nâng cao tính chủ
động và hiệu quả quản lý nguồn thu ngân sách

99

3.2.4. Hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ và bộ máy thu ngân sách; Áp
dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thu ngân sách nhà nước

102


g

3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế và thu


Phụ lục 1

120


h

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CTN – NQD

Công thương nghiệp – ngoài quốc doanh

ĐVT

Đơn vị tính

GDP

Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội

GTGT

Giá trị gia tăng

HĐND

Hội đồng nhân dân

KBNN

SXKD

Quản lý nhà nước
Sản xuất kinh doanh

TNCN

Thu nhập cá nhân

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TTĐB

Tiêu thụ đặc biệt

Tr.đ

Triệu đồng

TW

Trung ương

UBND

đoạn 2011 - 2015

50
51

Tình hình thực hiện thu từ CTN – NQD trên địa bàn Huyện
Bảng 2.4

Đồng Xuân giai đoạn 2011 -2015

53

Cơ cấu và biến động nguồn thu CTN – NQD trên địa bàn
Bảng 2.5

Huyện Đồng Xuân giai đoạn 2011 - 2015

55

Tổng hợp bộ thuế CTN – NQD trên địa bàn Huyện Đồng
Bảng 2.6

Xuân giai đoạn 2011 -2015

56

Tình hình thực hiện các khoản thu lệ phí trước bạ,
Bảng 2.7

thuế nhà đất, thu tiền thuê đất và thuế thu nhập cá nhân trên


72


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Trong hệ thống tài chính quốc gia NSNN rất lớn nhưng chỉ là hữu hạn, là khâu
chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
nhà nước. Đồng thời NSNN là một công cụ quan trọng của nhà nước để điều chỉnh
vĩ mô đối với toàn bộ đời sống KTXH và bảo đảm an ninh quốc gia. NSNN được
quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm huy động cao nhất
nguồn nhân lực của nền KTXH để phục vụ chiến lược phát triển KTXH.
Quản lý Thu NSNN có vai trò quan trọng trong quá trình khai thác, động viên
và tập trung các nguồn tài chính cần thiết để tạo lập quỹ NSNN, đáp ứng nhu cầu
chi tiêu đã được dự tính cho từng giai đoạn phát triển. Việc tập trung đầy đủ các
nguồn tài chính cần thiết vào NSNN để hình thành quỹ NSNN có ý nghĩa quan
trọng, quyết định đến sự thành bại của các cuộc cải cách KTXH, khắc phục được
tình hình bội chi NSNN, kiềm chế lạm phát và ổn định tiền tệ.
Đồng Xuân là một huyện Miền núi của tỉnh Phú Yên, tăng truởng kinh tế
chưa cao, khả năng tích luỹ thấp, điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn; địa bàn
rộng, dân cư sống không tập chung, thời tiết diễn biến không thuận lợi, phải đối mặt
với nhiều khó khăn thách thức như thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt, đã ảnh hưởng lớn đến
sản xuất và đời sống của nhân dân, đặc biệt là ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách
hàng năm trên địa bàn; giá trị kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào 2 loại cây chủ lực
là: mía và sắn; nguồn thu NSNN hàng năm không cao nhưng phải đáp ứng yêu cầu
chi lớn (hằng năm thu ngân sách chỉ ứng đáp ứng gần 10% nhu cầu chi). Do đó,
việc quản lý chặt chẽ và khai thác tốt các nguồn thu, chủ động đưa ra các biện pháp
chống thất thu trên địa bàn huyện là một yêu cầu cần thiết. Tuy nhiên trong thời

pháp chống thất thu thuế trên địa bàn tỉnh Nghệ An [51].
"Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ", Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của Nguyễn
Minh Tú, Hà Nội, 2008;
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên
quan đến công tác quản lý thuế GTGT của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên


3

địa bàn tỉnh Phú Thọ. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thuế
GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do cục thuế tỉnh Phú Thọ trực
tiếp quản lý. Trong luận văn, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân
tích thực trạng để từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế
GTGT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ [41].
"Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại cục thuế thành phố Đà Nẵng", Luận
văn thạc sĩ quản lý kinh tế của Lý Vân Phi, Đà Nẵng, 2011;
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên
quan đến công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại cục thuế Đà Nẵng. Phạm
vi nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
các doanh nghiệp do cục thuế thành phố Đà Nẵng trực tiếp quản lý trong giai đoạn
từ năm 2007 - 2009. Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng kết hợp với các phương pháp cụ thể như: phương pháp tổng hợp, so
sánh, phương pháp phân tích thực chứng để đánh giá thực trạng công tác quản lý
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp do cục thuế thành phố Đà
Nẵng trực tiếp quản lý [24].
“Quản lý thu thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Gia Lai”, Luận
văn Thạc sỹ Kinh tế phát triển của Trần Phan Quốc Chương, Đà Nẵng, 2013;
Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế
TNDN. Nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế TNDN tại Cục Thuế tỉnh Gia Lai,

Một là, Hệ thống hóa những cơ sở khoa học về quản lý thu NSNN là cơ sở
khoa học cho đề tài luận văn.
Hai là, Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện
Đồng Xuân giai đoạn 2011-2015.
Ba là, Luận văn tập trung xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý thu NSNN tại huyện Đồng
Xuân, tỉnh Phú Yên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu


5

- Phạm vi về không gian: Trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Phạm vi về thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu ngân sách
giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp quản lý thu ngân sách đến năm 2020.
Trong phạm vi về thời gian có một số luật thay đổi cho phù hợp với thực tiễn tình
hình kinh tế xã hội của đất nước nên một số luật được sửa đổi bổ sung, do vậy cần
phải áp dụng luật NSNN, Luật thuế, Luật về phí - lệ phí cũ và mới.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú yên, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản
lý NSNN; là tài liệu nghiên cứu, tham khảo bổ ích có thể vận dụng hiệu quả vào
thực tiễn QLNN thu NSĐP.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văn được bố
cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện
Chương 2: Thực trạng quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Đồng Xuân,
tỉnh Phú Yên giai đoạn 2011 – 2015
Chương 3: Quan điểm và giải pháp quản lý thu ngân sách trên địa bàn
huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đến năm 2020


7

Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN

1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước
1.1.1. Ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm
- "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [25].
- "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực
hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [39].
1.1.1.2. Vai trò của ngân sách nhà nước
NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, quốc

Trước đây, nhiều nhà kinh tế học chủ trương xây dựng một ngân sách tối thiểu
và cân bằng, có qui mô thu chi vừa đủ để duy trì hệ thống cơ sở hạ tầng; bảo đảm
thực hiện các chức năng Nhà nước công quyền, bảo vệ quốc phòng - an ninh, an
toàn xã hội. Nghĩa là NSNN chỉ giới hạn trong tiêu dùng nằm ở khâu sau phân phối
lại kết quả sản xuất kinh doanh. Hiện nay, quan điểm được nhiều quốc gia áp dụng
là NSNN không chỉ phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh mà trước khi phân
phối lại, NSNN đã tham gia phân phối các yếu tố đầu vào của quá trình kinh tế (đầu
tư hạ tầng kinh tế xã hội, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển thị
trường, xúc tiến thương mại…). Với đặc điểm này, NSNN chủ động thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Cụ thể:
Thứ nhất, NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Là chủ đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc phát triển KTXH. Ở Việt Nam cũng như đa số các nước đang phát
triển trên thế giới, vốn đầu tư từ nguồn NSNN có một vị trí rất quan trọng, chiếm
khoảng từ 22%-32,2% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội. Vì vậy, về mặt lượng, quy
mô đầu tư vào nền kinh tế từ nguồn NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc tăng


9

quy mô đầu tư của toàn xã hội.
Thứ hai, quy mô thu và cơ cấu chi NSNN tác động mạnh mẽ đến quan hệ cung
cầu trên thị trường và thông qua đó tác động đến nền kinh tế.
Với tư cách là chủ thể kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước chi tiêu
nhiều hay ít sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu, đến sức mua của thị trường. Nếu các
bộ phận khác của tổng cầu không thay đổi, thì chi tiêu của Nhà nước tăng sẽ tác
động trực tiếp làm gia tăng tổng cầu của xã hội. Đến lượt nó, sự gia tăng của tổng
cầu nhanh hơn sự gia tăng của tổng cung thì một mặt, nó làm tăng sức mua của xã
hội, giảm thời gian lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển của vốn trong nền kinh tế,

trường, thực hiện công bằng xã hội.
1.1.1.3. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
- Khái niệm
+ "Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính
quyền Nhà nước về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành NSNN" [25].
+ "Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và
quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản
lý ngân sách nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội" [39].
Phân cấp quản lý NSNN được xem như là một trong những biện pháp quản lý
NSNN. Thực chất của việc phân cấp quản lý NSNN là việc phân chia trách nhiệm,
quyền hạn trong quản lý hoạt động của NSNN cho các cấp chính quyền nhằm làm
cho hoạt động của NSNN được lành mạnh và đạt hiệu quả cao. Phân cấp quản lý
thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ.
Tư tưởng chỉ đạo trong phân cấp quản lý NSNN theo Luật NSNN là phân định
cụ thể nhiệm vụ thu chi cho ngân sách mỗi cấp.
Trong đó nội dung chính về phân cấp quản lý thu NSNN: Tập trung đại bộ phận
nguồn thu lớn, ổn định cho NSTW, đồng thời tạo cho NSĐP có nguồn thu gắn với địa
bàn. Trên tinh thần đó, nguồn thu được chia thành 3 loại:
+ Các khoản thu NSTW hưởng 100%;
+ Các khoản thu NSĐP hưởng 100%;
+ Các khoản thu điều tiết theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSTW và NSĐP.
- Các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN


11

Để chế độ phân cấp quản lý mang lại kết quả tốt cần phải tuân thủ các nguyên
tắc sau đây:
Một là: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nước. Phân cấp
quản lý kinh tế, xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp quản lý NSNN.

xã hội. Đồng thời là điều kiện để xác định rõ trách nhiệm của địa phương và trung
ương trong quản lý NSNN, tránh co kéo trong xây dựng kế hoạch như trước đây.
Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách. Phân cấp ngân sách
phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nước, cố gắng hạn chế thấp nhất sự
chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa các vùng lãnh thổ. Yêu cầu của nguyên
tắc này xuất phát từ các vùng, các địa phương trong một quốc gia có những đặc
điểm tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển KTXH không đồng đều. Nếu một hệ
thống NSNN được phân cấp đơn giản, áp dụng như nhau cho tất cả các địa phương
rất có thể dẫn tới những bất công bằng, tạo ra những khoảng cách lớn về sự phát
triển giữa các địa phương. Những vùng đô thị hoặc những vùng có tiềm năng thế
mạnh lớn ngày càng được phát triển; ngược lại những vùng nông thôn, miền núi
không có các tiềm năng, thế mạnh sẽ bị tụt hậu.
1.1.2. Thu ngân sách nhà nước
1.1.2.1. Khái niệm thu ngân sách nhà nước
"Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt
động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các
khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật" bao gồm:
Toàn bộ các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí;
Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực
hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí
thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà
nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá
nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật"[25].
Tóm lại, “thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để
huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của của nhà nước”



nhà nước phải dùng quyền lực chính trị để tập trung một phần nguồn lực tài chính
xã hội. Những kênh cung cấp số thu cho NSNN thông qua quá trình tác động vào
các đối tượng thu để hình thành quỹ tiền tệ quốc gia chính là những nguồn thu của


14

NSNN.
NSNN có rất nhiều nguồn thu. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có thể phân
thu NSNN như sau:
Căn cứ vào biểu hiện của nguồn thu, ta có thể chia thành nguồn thu trực tiếp
và nguồn thu tiềm năng.
- Nguồn thu trực tiếp là nguồn thu đã thể hiện bằng tiền, chỉ cần một số tác động
nào đó sẽ thu được một phần về cho NSNN. Ở những biểu hiện cụ thể, thì đó là tiền
lương, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập doanh nghiệp (TNDN), vốn, thu nhập cá nhân
(TNCN)... Ở tầm vĩ mô thì nguồn thu thể hiện qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP).
- Nguồn thu tiềm năng là các nguồn thu chưa thể hiện bằng tiền, nhưng có khả
năng thành tiền trong một thời gian gần như: đất đai, khoáng sản,…
Nguồn thu trực tiếp cho phép xác định thu NSNN trong hiện tại, còn nguồn thu
tiềm năng cho phép xác định khả năng thu NSNN trong tương lai.
Căn cứ vào mục đích sử dụng các nguồn thu và tính toán mức bội chi ngân
sách, chúng ta có thể phân chia thành nguồn thu trong cân đối và nguồn thu ngoài
cân đối ngân sách.
- Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu được đưa vào công thức xác
định mức bội chi ngân sách. Đây chính là nội dung kinh tế của bội chi ngân sách.
- Thu ngoài cân đối ngân sách được hiểu bao gồm các khoản thu vào quỹ ngân
sách mà khoản thu đó không kèm theo, không phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp.
Ngoài ra, căn cứ vào nơi phát sinh nguồn thu người ta chia ra: Nguồn thu trong
nước và nguồn thu ngoài nước, nguồn thu theo lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp,

việc cung ứng hàng hóa dịch vụ công, và thuế chính là nguồn lực tạo ra các loại
hàng hóa, dịch vụ công đó.
Thuế có các đặc trưng sau:
+ Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân, doanh
nghiệp cho NSNN. Các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp là người được hưởng lợi từ
chi tiêu công của nhà nước và họ có trách nhiệm phải trích một phần thu nhập của
mình nộp vào NSNN theo hình thức trực tiếp (thuế thu nhập) hoặc hoặc gián tiếp
(thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…).
+ Là khoản đóng góp mang tính bắt buộc vì thuế là nguồn thu chủ yếu của
NSNN cho nhu cầu chi tiêu của đất nước nhưng do tính chất không hoàn trả trực
tiếp nên người nộp thuế không tự giác nộp.
+ Tiền thu từ thuế không hoàn trả trực tiếp mà hoàn trả gián tiếp và không
tương đương dưới hình thức người chịu thuế được hưởng các hàng hóa dịch vụ nhà


16

nước cung cấp không mất tiền hoặc với giá thấp và không phân biệt giữa người nộp
thuế nhiều hay ít.
- Phí và lệ phí:
"Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí
và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ
chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công" [38].
"Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ
quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước" [38].
Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính chất đối giá,
nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi
họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của phí
và lệ phí thấp hơn. Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu
tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình. Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status