MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác cải cách hành chính trong những năm qua đã được Nhà nước ta
quan tâm, nhận thức rõ thực trạng thủ tục hành chính và nguyên nhân của những
tồn tại, hạn chế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg,
ngày 10 tháng 01 năm 2007 phê duyệt Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên
các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010 và Quyết định số 07/QĐ-TTg
phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án này nhằm tạo bước chuyển căn bản trong cải
cách thủ tục hành chính, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai,
minh bạch của thủ tục hành chính; tạo môi trường thuận lợi cho cá nhân, tổ chức
và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủ tục hành chính; nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng,
chống tham nhũng và lãng phí.
Xã Tân Ninh, thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là một địa phương
điển hình trong công tác cải cách hành chính trong thời gian qua, xã đã được huyện
Triệu Sơn và tỉnh Thanh Hóa biểu dương và nhân rộng điển hình này ra khắp tỉnh.
Chính những hiệu quả mà công tác cải cách thủ tục hành chính mang lại nên
đây có thể coi là một bước đột phá trong công tác hành chính, làm cho công tác
này trở nên hiệu quả và thiết thực, bớt thời gian đi lại cũng như công sức của nhân
dân khi đến các cơ quan hành chính làm thủ tục.
Vì những lý do trên đây nên em chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng
cao chất lượng công tác cải cách thủ tục hành chính ở xã Tân Ninh, huyện
Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu kết
thúc môn Hành Chính Học.
2. Tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng của vấn đề công tác cải cách thủ tục hành chính nên đã
có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này:
Quyết định số 902/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 phê duyệt Chương trình
đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm
cán
bộ,
công
chức;
+ Quyết định số 08/2004/QĐ-TTG ngày 15/01/2004 phê duyệt Chương trình đổi
mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công;
+ Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 phê duyệt Đề án tin học hoá
quản
lý
hành
chính
nhà
nước
giai
đoạn
2001
- Làm rõ các khái niệm liên quan
- Phân tích thực trạng cải cách hành chính tại xã Tân Ninh, huyện Triệu
Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất giải pháp để từng bước nâng cao chất lượng công tác cải cách thủ
tục hành chính ở xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Vấn đề nâng cao chất lượng công tác cải cách thủ tục hành chính ở xã Tân
Ninh, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong tiểu luận này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề xoay
quanh vấn đề nâng cao chất lượng công tác cải cách thủ tục hành chính ở xã Tân
Ninh, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Tiểu luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, quan điểm nâng
cao chất lượng công tác cải cách thủ tục hành chính của Đảng bộ và ủy ban nhân
xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật về lịch sử, cùng với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ
thể như: phân tích, tổng hợp, trừ tượng và cụ thể, logic và lịch sử, thống kê…
nhằm đạt tới mục đích mà đề tài đề ra.
6. Những đóng góp về mặt khoa học của tiểu luận
Đề tài góp phần làm sáng tỏ các khái niệm về công tác cải cách thủ
tục hành chính.Tìm hiểu thực trạng nâng cao chất lượng công tác cải cách thủ tục
hành chính ở xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa. Từ đó, đề xuất một
hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng,
chống tham nhũng và lãng phí.
Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất
định,
được
xác
định
bởi
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền;
- Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà
chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so
với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc
cho công cuộc cải cách hành chính nhà nước. Đồng thời, Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -2010 của Chính phủ được ban hành
kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính
phủ cũng đã nêu 4 nội dung cơ bản của cải cách hành chính Việt Nam, đó là cải
cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, đổi mới, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công. Mục tiêu của cải cách hành
chính nhà nước đến 2010 theo Chương trình tổng thể là “Xây dựng một nền hành
chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới
sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng
lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Năm 2010, hệ
thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”
2.1 Quá trình thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính.
Công cuộc cải cách thủ tục hành chính được bắt đầu thực hiện từ năm 1994
kể từ sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994. Từ đó đến
nay, Chính phủ đã nổ lực thực hiện với nhiều nội dung cải cách đã được thể chế
hóa trong các văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định của Chính phủ như
đăng ký kinh doanh, hộ khẩu, hộ tịch, đầu tư nước ngoài, xuất nhập cảnh, xuất
nhập khẩu, thuế, hải quan,… và người dân cũng dễ nhận thấy những thay đổi căn
bản trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính của họ. Đảng và Nhà nước coi
trọng cải cách thủ tục hành chính là do thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến
việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể quản lí hành chính nhà nước, tới việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.
Thể chế hoá đường lối của Đảng, Nhà nước đă ban hành nhiều văn
bản pháp luật quy định về cải cách thủ tục hành chính, trong đó đặc biệt quan trọng
cao
chất
lượng
đội
ngũ
cán
bộ,
công
chức;
+ Quyết định số 08/2004/QĐ-TTG ngày 15/01/2004 phê duyệt Chương trình đổi
mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công;
+ Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 phê duyệt Đề án tin học hoá
quản
lý
hành
chính
+ Quyết định số 178/2003/QĐ-TTg ngày 03/9/2003 phê duyệt Đề án tuyên truyền
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -2010
+ Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -2010
được ban hành kèm theo Quyết định số 136 của Thủ tướng Chính phủ.
1.3
Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính
Cải cách thủ tục hành chính là một nội dung của cải cách hành chính, nhưng
là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời là
nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều
yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế. Trong điều kiện nguồn lực còn
nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách
như: cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ máy …
Thông qua cải cách thủ tục hành chính, chúng ta có thể xác định căn bản các công
việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng ta có thể
xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp
lý,
đáp
ứng
được
yêu
cầu
công
Thực tế triển khai Đề án 30 cho thấy, sau khi tất cả các giải pháp đơn giản hóa thủ
tục hành chính được thông qua sẽ cắt giảm tối đa chi phí tuân thủ thủ tục hành
chính mà xã hội phải gánh chịu, hàng chục nghìn tỷ đồng chi phí tiết kiệm được sẽ
được tái phân bổ vào các hoạt động phục vụ việc đầu tư, tạo việc làm, qua đó góp
phần
thúc
đẩy
tăng
trưởng
kinh
tế
-
xã
hội.
Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ góp phần nâng cao hình ảnh
của Việt Nam nói chung và các bộ, ngành, địa phương nói riêng trước cộng đồng
trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về tính minh bạch,
môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Đây là những giá trị vô hình nhưng
có tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cụ thể là có ảnh
hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, việc làm, an
lực
của
đất
nước.
Chương 2. Thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính ở xã Tân Ninh,
huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác cải cách thủ tục hành chính ở xã
Tân Ninh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội
Điều kiện tự nhiên
Tân Ninh là một xã của huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Xã
Tân Ninh là xã cực nam của huyện Triệu Sơn, giáp ranh với huyện Nông Cống ở
phía Đông Nam (các xã Tân Khang, Tân Thọ), giáp ranh với huyện Như Thanh ở
phía Tây Nam (xã Mậu Lâm). Mặt phía Bắc, Tân Ninh giáp các xã cùng huyện
là: Thái Hòa (phía Tây Bắc), Khuyến Nông (phía Bắc), Đồng Lợi (phía Đông Bắc).
Tân Ninh nằm dưới chân núi Nưa cao khoảng 500 m. Tân Ninh cách thành phố
Thanh Hóa khoảng 25km, cách Hà Nội 175km. Tân Ninh là một xã trung du của
tỉnh Thanh Hóa.
Hiện nay xã Tân Ninh được chia thành 13 thôn từ thôn 1 đến thôn 13.
Tân Ninh có điều kiện tự nhiên đặc biệt, dãy núi Nưa nằm phía tây nam của
xã, tạo điều kiện thuận lợi về nguồn tài nguyên thiên nhiên và là danh lam thắng
cảnh trong vùng. Ngoài hệ thống núi, xã Tân Ninh còn có vùng đất bằng phẳng, có
thể thâm canh cây lúa nước và các loại hoa màu khác.
Tân Ninh nằm gần một vùng mỏ Cromit vào loại lớn nhất Việt Nam.
với việc kiện toàn về tổ chức và nhân sự cho phòng kiểm soát TTHC, hệ thống cán
bộ đầu mối kiêm nhiệm làm công tác kiểm soát TTHC tại các cơ quan của xã cũng
được quan tâm, kiện toàn.
Toàn thể cán bộ công chức làm công tác kiểm soát TTHC tại địa phương đã
tham dự đầy đủ chương trình tập huấn nghiệp vụ do tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức.
Thông qua tập huấn, nhận thức của lãnh đạo và công chức về công tác này được
nâng cao, công tác đánh giá tác động các quy định về TTHC và lấy ý kiến về
TTHC được coi trọng, hoạt động kiểm soát TTHC bước đầu đã đi vào nề nếp. Các
đơn vị kiểm soát TTHC đã tham mưu cho lãnh đạo địa phương thực hiện việc sửa
đổi, bổ sung theo thẩm quyền quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan mình, theo đó phải thực hiện đánh giá tác động và lấy ý kiến
đơn vị kiểm soát TTHC đối với dự thảo quy định về TTHC; ban hành quy chế phối
hợp trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy
định hành chính; xây dựng kế hoạch kiểm soát TTHC năm 2011 và kế hoạch
truyền thông phục vụ kiểm soát TTHC của địa phương. Đây là nền tảng tốt để đưa
hoạt động kiểm soát TTHC đi vào nề nếp, duy trì và phát huy kết quả cải cách
TTHC trong thời gian tới.
Một trong những biện pháp cải cách thủ tục hành chính căn cơ là xoá bỏ tình
trạng độc quyền trong cung ứng dịch vụ công. Trong điều kiện công tác quản lý
được tin học hoá, các dữ kiện, thông tin liên quan đến hồ sơ hành chính có thể
được tiếp cận dễ dàng từ các địa điểm khác nhau. Bởi vậy, có thể cân nhắc việc
thừa nhận cho người dân quyền lựa chọn cơ quan mỗi khi cần giao tiếp với thiết
chế công, theo sự thuận tiện đối với bản thân, mà không bị ràng buộc về địa chỉ
giao tiếp theo địa bàn nơi cư trú hay nơi toạ lạc tài sản, nơi đặt trụ sở doanh
nghiệp. Chắc chắn, cơ quan công quyền khi đó sẽ trở nên tích cực, mẫn cán trong
việc cải tiến thủ tục hành chính, theo sự thôi thúc tự nhiên của nhu cầu tự hoàn
thiện, coi đó là một trong những biện pháp thu hút người dân đến giao tiếp với thiết
chế công.
hồ sơ. Với không gian rộng, thoáng mát, niêm yết đầy đủ các hướng dẫn quy trình,
thủ tục hành chính, có bàn ghế ngồi chờ, phục vụ nước uống… đã tạo điều kiện
thuận lợi cho công dân và tổ chức đến giao dịch, đồng thời thể hiện được sự tôn
trọng nhân dân, sự rõ ràng, minh bạch các hoạt động của cơ quan công quyền. Qua
gần 18 tháng đi vào hoạt động, bộ phận một cửa đã tiếp nhận và xử lý hơn 800 hồ
sơ thủ tục hành chính, trong đó lĩnh vực đất đai có lượng giao dịch nhiều nhất (531
hồ sơ), lĩnh vực chính sách đã giải quyết 230 hồ sơ; nhiều thủ tục hành chính được
rút ngắn thời gian giải quyết, giảm bớt các khâu phải đi lại nhiều lần làm mất thời
gian của nhân dân.
Nghị quyết Hội đồng nhân dân xã kỳ họp thứ 3 (khóa XVIII) đã quyết nghị
các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2013 với mức độ cao và các giải pháp mạnh, trong
đó, cải cách thủ tục hành chính được xác định là một trong những nhóm giải pháp
quan trọng, là khâu đột phá cần tập trung thực hiện với nội dung trọng tâm là:
Tiếp tục rà soát đầu tư đồng bộ cả về trang thiết bị, chất lượng đội ngũ công
chức và cơ chế hoạt động của bộ phận “một cửa” để đảm bảo hoạt động độc lập,
chuyên trách, tiến tới chuyên nghiệp và hiện đại. Xây dựng, bổ sung nội dung lĩnh
vực hoạt động “một cửa”; bổ sung hoàn thiện các quy chế hoạt động, quy chế phối
hợp trong giải quyết các thủ tục hành chính để xác định rõ việc, rõ người và rõ
trách nhiệm.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
làm việc tại bộ phận “một cửa”, nhất là các kiến thức về kỹ thuật, kỹ năng hành
chính và đạo đức công vụ. Ban hành các cơ chế để xây dựng đội ngũ công chức
làm việc ở bộ phận “một cửa” có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, có tính
chuyên nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, đào tạo họ trở thành nguồn cán bộ chủ
chốt của huyện và cơ sở.
Tổ chức công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính; thông qua hoạt
động của bộ phận “một cửa” tổ chức rà soát, loại bỏ hoặc đề nghị cấp có thẩm
quyền thay thế những thủ tục, mẫu đơn, tờ khai không còn phù hợp nhằm tạo điều
sách, đổi mới tổ chức bộ máy, điều chỉnh sự phân công phân cấp, đổi mới lề lối
làm việc, nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ, công chức…
Những tồn tại và nhược điểm trên do nhiều nguyên nhân nhưng chủ
yếu và trước hết là:
Về khách quan:
Trên nhiều lĩnh vực, những biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu
còn phổ biến (cả trong cơ chế, chính sách, trong quy định pháp luật) chưa được xóa
bỏ tận gốc. Trên không ít làm việc của đời sống kinh tế - xã hội, quan hệ "xin cho" thậm chí còn phổ biến.
Không ít vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung quản lý
nhà nước trong điều kiện cơ chế kinh tế mới chưa được làm rõ để trên cơ sở đó
định ra lộ trình và giải pháp cải cách phù hợp.
Những biểu hiện bất hợp lý trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước chậm
được xem xét khắc phục một cách triệt để; chế độ công chức, công vụ không rõ
ràng.
Về chủ quan:
Nhận thức về tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa của công tác cải
cách thủ tục hành chính chưa ngang tầm, nhất là của người đứng đầu cơ quan, đơn
vị. Cải cách thủ tục hành chính là công việc phức tạp, nhạy cảm nhưng do chưa
làm tốt công tác tư tưởng nên chưa tạo sự thông suốt và nhất trí cao trong các cơ
quan hành chính nhà nước.
Cải cách thủ tục hành chính đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của các
bộ, ngành và địa phương cũng như lợi ích của bản thân cán bộ, công chức nên
trong nhiều trường hợp còn biểu hiện làm cầm chừng, thiếu kiên quyết, thậm chí
tránh né.
Sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tỉnh ủy, huyện ủy
cũng như của các bộ, ngành và địa phương chưa tập trung ráo riết. Chủ tịch, kế
hoạch đề ra nhiều nhưng việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện chưa thường xuyên.
hình thức của các cơ chế, chính sách quản lý. Một khi cơ chế, chính sách được đổi
mới triệt để, tổ chức bộ máy quản lý được đổi mới về chức năng, thẩm quyền và
trách nhiệm thì tất yếu thủ tục hành chính sẽ có cơ sở, điều kiện để được cải cách
một cách cơ bản, triệt để. Ngược lại, khi cải cách hành chính chưa được tiến hành
đồng bộ, đều khắp thì chưa thể đòi hỏi cải cách cơ bản về thủ tục hành chính. Do
vậy, cải cách thủ tục hành chính phải tiến hành đồng thời với đổi mới cơ chế, chính
sách, hoàn thiện chức năng quản lý nhà nước ở cấp xã, tăng cường phân công,
phâp cấp quản lý, điều chỉnh trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan hành chính
cũng như chế độ công vụ.
Thiết lập cơ chế giám sát thường xuyên, có hiệu quả đảng viên cán
bộ, công chức trong tiếp nhận, xử lý công việc của dân và doanh nghiệp. Coi trọng
cơ chế giám sát trong nội bộ cơ quan, đơn vị, kiên quyết không để tình trạng khép
kín nội bộ trong xử lý công việc liên quan đến công việc của người dân; thiết lập
cơ chế giám sát từ bên ngoài, từ trên xuống. Một mặt tăng cường thực hiện công
khai đầy đủ, cụ thể về thủ tục hành chính, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan,
cán bộ, công chức để nhân dân giám sát. Cần nhanh chóng thiết lập đồng bộ khuôn
khổ thể chế và thực hiện thường xuyên công tác thanh tra, kiểm tra công vụ trong
hoạt động của bộ máy hành chính để phòng ngừa và kịp thời phát hiện, kiên quyết
xử lý những vi phạm.
Cải cách thủ tục hành chính có vị trí và vai trò quan trọng công cuộc
cải cách hành chính, có nội dung và yêu cầu cụ thể, do vậy cần phải có sự phân
công và xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cơ quan, chỉ đạo công tác
cải cách thủ tục hành chính một cách thường xuyên.
Thủ tục hành chính là hình thức pháp lý thể hiện cụ thể các nội dung
cơ chế, chính sách, thể chế quản lý trên các lĩnh vực, là công cụ thực hiện các chức
năng, thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của các cơ quan hành chính giữa các cơ
quan hành chính với nhau và với công dân, tổ chức. Nhưng bản thân thủ tục hành
chính có những nội dung và yêu cầu riêng, như phải bảo đảm tính công khai, minh
quy trình xử lý công việc trong cơ quan một cách khoa học, hợp lý, tạo điều kiện
để người đứng đầu cơ quan hành kiểm soát được quá trình giải quyết công việc
trong nội bộ của cơ quan, đơn vị, thông qua đó từng bước nâng cao chất lượng,
hiệu quả của công tác quản lý và cung cấp dịch vụ công. Quy trình này đang được
triển khai áp dụng tại xã Tân Ninh đã tích cực áp dụng trên lĩnh vực đất đai theo cơ
chế một cửa và một cửa liên thông tại địa bàn quận thông qua việc xây dựng các
quy trình công việc cụ thể như: Quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
quy trình chuyển quyền sử dụng đất; trình tự thủ tục đăng ký và xóa thế chấp, bảo
lãnh bằng quyền sử dụng đất...; Ban Quản lý khu Công nghiệp và Chế xuất quặng
Crôm mít đã xây dựng và áp dụng Quy trình cấp giấy chứng nhận đầu tư; chứng
chỉ quy hoạch; quy trình thỏa thuận thiết kế tổng mặt bằng và giải pháp kiến trúc;
cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện; cấp giấy hoàn thành công trình trong
khu công nghiệp; quy trình chứng nhận hợp đồng văn bản về bất động sản; cấp
giấy phép lao động cho người nước ngoài; quy trình thẩm định và phê duyệt báo
cáo; quy trình cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; quy trình xác nhận bản cam
kết bảo vệ môi trường; quy trình tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại Ban quản lý;
Trung tâm y tế, áp dụng các quy trình về khám chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ
y tế, quản lý thuốc …
Các quy định về quy trình nêu trên đã hệ thống hóa được trình tự các công
việc, các loại biểu mẫu, xác định rõ trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức và bộ
phận có liên quan khi tham gia giải quyết hồ sơ, công việc đối với tổ chức, công
dân.
Đồng thời với việc xác lập hệ thống quy trình chuẩn cho việc xử lý hồ sơ,
công việc nhiều cơ quan, đơn vị đã củng cố, đưa vào sử dụng mạng nội bộ, xây
dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm khai thác hiệu quả các giao dịch điện tử
trong xử lý công việc của mọi cán bộ, công chức, viên chức; từng bước kết nối hạ
tầng kỹ thuật của cơ quan, đơn vị với mạng Internet để cung cấp thông tin và dịch
vụ hành chính công theo chức năng, nhiệm vụ. Việc ứng dụng phần mềm một cửa,
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 là: “Xây dựng một nền hành
chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả.."
Kết Luận
Công tác cải cách hành chính của xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh
Hóa trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận. Tạo điều kiện
thuận lợi cho nhân dân, doanh nghiệp khi đến làm thủ tục hành chính. Tiểu luận đã
nghiên cứu hệ thống các khái niệm liên quan, thực trạng công tác cải cách thủ tục
hành chính ở xã hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp.
Tiểu luận được triển khai theo 3 chương:
-
Một số vấn đề lý luận về công tác cải cách thủ tục hành chính
-
Thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính ở xã Tân Ninh, huyện
Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
-
Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác cải cách thủ tục hành
chính ở xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
Để thực hiện tiểu luận này em đã có sự đầu tư, nghiên cứu về cả tri thức và
thời gian nhưng do vốn tri thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên chắc chắn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý từ Qúy
thầy cô và các bạn. Em xin cảm ơn