PHÒNG GD VÀ ĐT TỊNH BIÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TIỂU HỌC AN NÔNG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
An Nông, ngày 07 tháng 11 năm 2016
I/. Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Cao Dương Huyền Trung
Nam, nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh: 04 / 11 / 1972
- Nơi thường trú: Ấp Phú Cường, xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học An Nông.
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Lĩnh vực công tác: Giáo viên dạy lớp 5B
II/.Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân
môn tập làm văn lớp 5
III/. Lĩnh vực: Tập làm văn
IV/. Mục đích, yêu cầu của sáng kiến:
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế chỉ ra rằng Giáo dục Tiểu học là một bậc học nền tảng có vai trò quan
trọng, tạo những cơ sở ban đầu cơ bản, bền vững về trí thức, hình thành những đường nét
phát triển nhân cách, giúp trẻ có thể tiếp tục học lên bậc học cao hơn.
Thật vậy, chúng ta thấy, Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua bảy
loại bài học khác nhau: Học vần, tập đọc, tập viết, chính tả, luyện từ và câu, kể chuyện,
- Kiểu bài tả cảnh các em cũng đã được làm quen với lớp 2, 3. Lên lớp 4, 5 các em lại
tiếp tục rèn kỹ năng làm văn từ dễ đến khó ( Rèn kỹ năng viết đoạn, liên kết đoạn) rất
phù hợp nhận thức của học sinh tiểu học. Đặc biệt trình tự tả cảnh cũng giống như ở lớp
4, đối tượng miêu tả của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc gần gũi với các
em, một dòng sông, một đêm trăng, một cánh đồng ... vì vậy các em dễ quan sát hơn.
*Khó khăn:
Sau những thuận lợi thì trong thực tế giảng dạy giáo viên và học sinh còn gặp rất nhiều
khó khăn trong việc dạy cũng như học phân môn Tập làm văn kiểu bài tả cảnh:
- Giáo viên:
+ Bản thân giáo viên vừa bám sách giáo viên mà dạy do đó phần nghiên cứu bài dạy
chưa kỹ “Tập làm văn kiểu bài tả cảnh” dạy kiến thức không liền mạch nên bài dạy chưa
sâu.
+ Một số giáo viên dạy còn áp đặt chỉ hướng dẫn học sinh theo yêu cầu của sách mà
chưa chú ý đến việc thâm nhập và khám phá cái hay, cái đẹp của bài văn.
+ Đại đa số giáo viên chỉ chú ý đến học ở lớp mà chưa chú ý đến việc luyện tập ở nhà,
chưa hướng cho các em tìm hiểu thêm sách, báo...
+ Để đối phó với việc học của học sinh làm bài chưa hoàn thành, để đảm bảo chất
lượng ... nhiều giáo viên cho học sinh chép bài mẫu. Vì vậy dẫn đến tình trạng cả thầy và
trò nhiều khi bị lệ thuộc vào “mẫu” không thoát khỏi “mẫu”.
+ Giáo viên chưa phối hợp linh hoạt, nhịp nhàng khi sử dụng các phương pháp làm cho
học sinh thường bị động và chưa phát huy tính tích cực của học sinh.
- Học sinh:
+ Học sinh học rất nhiều kiến thức mới trong khi đó trình độ của các em thì hạn chế,
các em còn lười suy nghĩ, chép đáp án mẫu, vay mượn ý tình của người khác thường là
của bài mẫu nào đó. Với cách khác học sinh thường sẵn sàng học thuộc văn mẫu, khi
làm bài các em sao chép ra và biến thành bài làm của mình không kể đầu bài qui định
2
Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào nhau một cách
nhịp nhàng và linh động thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều.
Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải quyết trình
bày các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau:
3.1/. Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh
nói riêng.
Việc cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói
riêng giúp học sinh có con đường đi đến bài văn đúng hướng, không bị sai lệch về cả nội
dung và hình thức.
- Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả:
+ Cụ thể hóa sự vật (tả cái gì?)
3
Ví dụ: Tả dòng sông thì tập trung tả dòng sông, không miên man tả sâu cảnh cánh
đồng nằm bên cạnh dòng sông, hay cảnh trời mây vào thời điểm đó cho dù các sự vật đó
cũng có liên quan.
+ Cá thể hóa sự vật (tả như thế nào?) : Tả cảnh nào thì người đọc hình dung cảnh
đó chứ không bị lẫn lộn với cảnh khác.
Ví dụ: Tả cảnh dòng sông thì phải tả chủ yếu những yêu tố liên quan không thể
tách rời như: Nước, sóng, thuyền bè, bờ sông...
+ Mục đích hóa sự vật (tả với mục đích gì)
Ví dụ: Tả dòng sông với mục đích đó là tả lại một cảnh đẹp rất đáng tự hào của
người dân quê hương.
+ Cảm xúc hóa sự vật (tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao?)
Ví dụ: Tả dòng sông với niềm tự hào, với sự ngưỡng mộ về một vẻ đẹp nên thơ...
- Cung cấp cho học sinh các bước làm văn miêu tả.
+ Bước 1: Tìm hiểu đề
+ Bước 2: Quan sát tìm ý
Thể loại
Đối tượng
miêu tả
Miêu tả
Cảnh đẹp
Giới hạn miêu tả
Không gian
Nơi em ở
Thời gian
Một mùa trong năm
Đặc điểm
Một cảnh
Sau khi trả lời đúng các câu hỏi trên, học sinh thực hành gạch chân trực tiếp trên đề
bài.
Đề bài: Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm.
* Bước 2: Bước quan sát và tìm ý
- Tầm quan trọng: Là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh muốn viết
được bài văn hay, sống động phải có được sự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả và phải
có sự ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những đặc điểm mình miêu tả.
- Cách thực hiện: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng miêu
tả nhiều lần và bằng nhiều giác quan khác nhau như thị giác, thính giác, vị giác, khứu
giác, xúc giác... nhằm giúp các em nhận biết về cảnh đầy đủ và chính xác hơn.
( Xúc giác)
* Quan sát theo không gian ( Vị trí)
Xa
Gần
Trên
Dưới
Trong
Ngoài
Bên trái
Bên phải
Phía sau
Phía trước
* Quan sát theo thời gian ( Thời điểm )
Sáng
Trưa
Chiều
Tối
Xuân
Hạ
Thu
Đông
Mưa, nắng
Ví dụ: Khi tả dòng sông quê hương
Học sinh quan sát và hoàn thành bảng quan sát như sau:
- Sông rộng mênh mông, trải dài…
- Thuyền bè đi lại trên sông tấp nập…
- Sóng nhấp nhô…
- Bờ bên phải: bãi ngô xanh biêng biếc…
Mắt thấy
- Bờ bên trái: Bãi cát trải dài, trắng xoá…
…
Nước mát rượi…
…
Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em sẽ làm được những bài văn vô
cùng sinh động và hấp dẫn. Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan chưa đủ mà giáo viên
cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự không gian và thời gian.
Ví dụ : Dòng sông được quan sát theo trình tự thời gian.
- Sông hiền hoà chảy, uốn lượn như dảI lụa.
- Sóng rì rào ca hát
Sáng
- Trên mặt sông, thuyền chở người, chở hàng...đi lại
như mắc cửi.
- Bến sông nhộn nhịp tiếng cười nói.
- Mặt trời chiếu tia nắng chói chang làm sông đỏ ngầu
Trưa
giận dữ, cuồn cuộn chảy về xuôi.
- Mặt nước gợn sóng, những con sóng nhẹ nhàng xô
vào hai bên bờ.
- Lũ trẻ tắm sông tha hồ lặn ngụp.
Chiều
- Làn nước mát rượi ôm ấp lũ trẻ.
- Đoàn thuyền no bụng cá nối đuôi nhau cập bến.
- Trăng lên, ánh trăng toả xuống mặt sông.
- Mặt sông như trải rộng mênh mông, bàng bạc một
màu.
Tối
- Ánh đèn hai bên bờ tạo thành vệt sáng lung linh.
- Tiếng gõ lanh canh của thuyền đánh cá đêm, tiếng hát
của ngư dân làm dòng sông thêm đẹp, thêm sinh động.
+ Học sinh phải tìm được những từ ngữ chính xác, những câu văn ngắn ngọn để
ghi lại những gì quan sát được.
* Bước 3. Sắp xếp ý và lập dàn ý
• Sau khi quan sát và tìm ý, truớc khi lập dàn bài chi tiết, học sinh cần xác định trình
tự miêu tả để sắp xếp các ý một cách hợp lí. Trình tự miêu tả trong văn tả cảnh có thể là
trình tự không gian, có thể là trình tự thời gian tuỳ theo từng cảnh để lựa chọn cho phù
hợp.
Ví dụ: Với bài tả khu vườn vào buổi sáng, ta nên chọn trình tự không gian.
+ Trước cửa vườn:
+ Giữa vườn:
+ Góc vườn bên trái:
+ Góc vườn bên phải:
+ Cuối vườn:
…
Tuy nhiên, ta vẫn có thể chọn trình tự thời gian:
+ Khoảng trời phía đông ửng hồng
+ Mặt trời bắt đầu nhô lên sau rặng tre.
+ Khi ánh nắng ban mai bắt đầu toả xuống...
+ Mặt trời lên cao.
Ví dụ: Với bài tả dòng sông chọn trình tự miêu tả là thời gian.
+ Sáng:
+ Trưa:
+ Chiều :
+ Tối:
Ta cũng có thể chọn trình tự không gian như:
+ Nhìn từ xa:
+ Trên mặt sông:
+ Bờ bên trái:
+ Bờ bên phải:
+ Bến sông:
+ Nêu nhận xét, đánh giá:
+Tình cảm: …
+ Hành động :…
+ Dàn ý chung cho yêu cầu viết một đoạnvăn.
Mở đoạn
Giới thiệu cảnh sẽ tả
Thân đoạn
Tả chi tiết những đặc điểm nổi bật của cảnh
Kết đoạn
Nêu tình cảm, nhận xét đánh giá về cảnh.
Sau khi có trong tay dàn ý chung cho cho bài văn, học sinh sẽ áp dụng để lập dàn ý
chi tiết. Dàn ý này cũng chính là cái sườn sát nhất cho học sinh viết thành bài văn cụ thể.
Ví dụ:
Với bài văn tả dòng sông, ta có thể xây dựng 2 dàn ý chi tiết: Dàn ý lựa chọn miêu tả
theo trình tự không gian, dàn ý theo lựa chọn trình tự thời gian.
+ Dàn ý tả dòng sông theo trình tự thời gian:
Bố cục
Dàn bài chi tiết
- Giới thiệu cảnh định tả:
Quê hương em có rất nhiều cảnh đẹp, nhưng dòng sông quê
1. Mở bài
hương đỏ nặng phù sa là cảnh mà người dân quê em yêu thích
và tự hào nhất.
- Dòng sông như dãi lụa đào vắt qua cánh đồng lúa quê em.
- Mặt sông gợn lên những con sóng nhẹ.
- Bờ bên phải là bãi ngô xanh mướt ngả đầu vào nhau rì rầm trò
chuyện.
2.Thân bài
- Bờ bên trái là con đường rải nhựa thẳng tắp, xe cộ qua lại
- Dòng sông cứ cần mẫn chảy mãi, bồi đắp cho đất đai màu mỡ,
cây cối xanh tốt.
- Người dân quê em, ai đi đâu cũng nhớ về quê hương, về dòng
sông quê hương yêu dấu.
+ Dàn ý cho bài văn tả cảnh khu vườn vào một buổi sáng theo trình tự không gian
Bố cục
Dàn ý chi tiết
Mở bài
Khu vườn vào buổi sáng thật đẹp
2. Thân bài
Khi nắng ban mai vàng như mật ong chiếu xuống, khu vườn như
Bao quát:
bừng tỉnh sau một đêm tắm sương.
+ Trước vườn:
- Nàng Hồng mang trên mình hạt sương long lanh đang e lệ trong
10
+ Giữa vườn:
+ Góc bên trái:
+ Góc bên phải:
+ Cuối vườn:
3. Kết bài
lá.
- Cánh hoa đỏ thắm mịn màng, khum khum úp sát vào nhau.
- Nàng Cúc cũng thay cho mình bộ váy vàng rực rỡ để chờ đón anh
các yêu cầu sau:
a/. Dùng từ .
- Dùng từ phải đảm bảo độ chính xác, đồng thời biểu hiện được tư tưởng , tình cảm
một cách rõ rang;
- Phải tuân thủ các tiêu chuẩn chính tả;
- Dùng từ gợi cảm, gợi tả: Thường là các từ đơn, từ ghép, từ láy, động từ, tính từ, …
- Dùng từ giàu hình ảnh, âm thanh: Thường là các từ láy, từ tượng hình, từ tượng
thanh...
- Sử dụng từ gần nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, các biện pháp tu từ về từ;
Ví dụ:
+ Dùng từ chính xác : Mặt trăng tròn toả ánh sáng xuống vạn vật.
+ Dùng từ có hình ảnh: Mặt trăng tròn vành vạnh toả ánh sáng vằng vặc xuống vạn
vật.
+ Dùng từ trái nghĩa : Ánh trăng bàn bạc phản chiếu vạn vật lúc thì rõ nồm nộp, lúc
thì mờ mờ, ảo ảo.
+ Dùng cụm từ so sánh: Ánh trăng lồng qua kẽ lá như ngàn vạn con đom đóm đang
lập loè sáng.
b/. Đặt câu.
+ Trong khi làm văn, học sinh phải viết câu văn đúng ngữ pháp nghĩa là bản thân em
đó phải xác định được đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ, đâu là các vế trong câu ghép .
+ Các em phải biết sử dụng các phép liên kết câu như: Phép lặp, phép thế, phép nối,
phép liên tưởng,..., biết sử dụng các biện pháp tu từ về câu( câu hỏi tu từ, đảo ngữ, điệp
ngữ, so sánh, nhân hoá...).
Ví dụ:
- Phép liên kết câu: Mưa xuân lất phất bay. Cây cối thi nhau đâm chồi nảy lộc, đưa
tay đón những hạt mưa xuân. Với chúng, mưa xuân chính là liều thuốc tiên để sinh tồn
và phát triển.
- Phép lặp: Dòng sông như dải lụa đào mềm mại. Nó cứ chảy mãi, chảy mãi để mang
phù sa màu mỡ cho đất đai.
- Biện pháp tu từ:
pháp tu từ về câu, các từ gợi tả, gợi cảm ) để người đọc, người nghe có thể cảm thấy được
hình ảnh, màu sắc, âm thanh, cảm xúc ... của cảnh đó.
Ví dụ:
Câu văn kể
Câu văn tả
Mặt trời toả nắng xuống mặt đất.
Ông mặt trời vén màn mây trắng, toả
những tia nắng vàng óng như tơ xuống mặt
đất.
Lúc nào sông cũng chảy để mang phù
Hết năm này đến năm khác, sông cứ cần
sa cho đất.
mẫn chảy mang phù sa bồi đắp cho đất đai
màu mỡ, cây cối xanh tốt.
c/. Dựng đoạn
c1. Cách trình bày đoạn văn
- Đoạn văn là phần văn bản nằm giữa hai chỗ xuống dòng và thường biểu đạt một ý
tương đối hoàn chỉnh. Khi làm bài thông thường học sinh chỉ để ý đến từ, câu mà ít quan
tâm đến đoạn văn.
- Cách trình bày một đoạn văn thường là diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích,
tổng phân hợp. Song đó không phải là phần lý thuyết giáo viên dạy cho học sinh tiểu học
mà nhiện vụ của giáo viên là giúp các em biết cách viết các đoạn văn, biết trình bày các
đoạn văn theo các cấu trúc trên.
Ví dụ:
+ Câu mở đoạn nêu nhận xét đánh giá chung về đối tượng tả trong
đoạn; các câu còn lại tả chi tiết đối tượng đó.
+ Ví dụ: Ôi, bầu trời đêm mới đẹp làm sao! Mặt trăng tròn, to như quả
Diễn dịch
bóng vàng treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm. Những vì
sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc áo đêm
- Hợp
mông. mặt sông như được dát bạc. ánh đèn hai bên tạo thành những vệt
sáng lấp loáng làm sông trở nên lung linh hơn. Văng vẳng đâu đây
tiếng lanh canh của thuyền đánh cá đêm, tiếng hò của ngư dân. Lúc
này, dòng sông bồng bềnh, huyền ảo và đẹp như bức tranh thuỷ mặc.
- Trong các mô hình cấu trúc một đoạn văn trên thì cấu trúc tổng- phân -hợp là tiêu
biểu nhất đối với học sinh tiểu học. Cấu trúc này tương ứng với cấu trúc của cả bài văn (
Mở bài- thân bài- kết bài ) và cấu trúc của đoạn văn ( Câu mở đoạn - Thân bài - câu kết
bài ). Mặt khác trong chương trình sách giáo khoa lớp 5 có rất nhiều bài tập yêu cầu học
sinh viết một đoạn văn.
- Khi viết một đoạn văn đứng độc lập thì chọn cấu trúc Tổng - Phân- Hợp là hợp lí
hơn cả.
c2. Liên kết đoạn văn.
Khi trình bày bài văn thành nhiều đoạn khác nhau, các em cần phải biết cách liên kết
đoạn văn. Liên kết đoạn văn có thể dùng từ ngữ, dùng câu:
+ Dùng từ để liên kết đoạn:
Chỉ trình tự, bổ sung: Buổi sáng, buổi trưa, khi mùa xuân về, …trước hết, cuối
cùng, ngoài ra, thêm vào đó,...
Chỉ ý nghĩa tổng kết, khái quát: Tóm lại, nói tóm lại, nhìn chung,...
Chỉ ý đối lập, tương phản: Ngược lại, trái lại, nhưng, thế mà, tuy vậy,...
Từ ngữ thay thế: Do đó, do vậy, vì thế, cho nên,...
14
+ Dùng câu:
Dùng câu nối với phần trước của văn bản.
Dùng câu nối với phần sau của văn bảm.
Dùng câu nối phân trước và phần sau của văn bản.
c3. Quan hệ giữa đoạn văn với đoạn văn.
biệt là nhận biết được mình đã làm đúng yêu cầu đề bài chưa và bổ sung nội dung còn
thiếu.
Bước kiểm tra này có thể tự học sinh kiểm tra sau khi viết xong bài (Ở nháp, ở dàn
bài chi tiết hoặc bài hoàn chỉnh), khi nhận xét bài của bạn, trong tiết trả bài. Giáo viên
yêu cầu các em thực hiện nghiêm túc 3 bước:
+ Đọc đi đọc lại bài văn
+ Tìm lỗi sai hoặc chưa hay về dàn bài, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn .
15
+ Sửa lại cho đúng, cho hay.
Các em có thể tự làm một mình hoặc cùng bạn kiểm tra để hoàn thành bảng sau:
Dàn bài
Mở bài
Thân bài
Kết bài
Dài(ngắn)? Trực tiếp Trình tự hợp lí Chỗ lạc ý,....
Độ dài
Chưa hay:
Sửa:…….. (gián tiếp) chưa?..
Sửa: ............. ngắn, …
Sửa:.............
.................. Sửa:......... Sửa:................. ...................... Sửa: ............ ....................
.................. ................ ......................... ...................... .................... ....................
.................. ................ ......................... ...................... .................... ....................
.................. ................ ......................... ...................... .................... ....................
Từ gợi tả
Biện pháp tu từ về
từ
Sửa
..............................................................................
..............................................................................
..............................................................................
..............................................................................
3.2/. Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh.
a/. Chọn đối tượng tả.
+ Thực tế, chương trình sách giáo khoa, một số đề thi, đề tự luyện văn tả cảnh
thường ra một số đề dạng mở. Tức là, học sinh có thể tuỳ chọn đối tượng tả cụ thể trong
chủ đề yêu cầu của đề bài. Tuy thế, nhiều em còn lúng túng không biết lựa chọn tả cảnh
gì. Đôi khi các em còn chọn những đối tượng cụ thể mà không hề có cơ hội quan sát hoặc
chỉ quan sát theo kiểu đã biết sơ qua.
+ Tác dụng : Việc lựa chọn đúng đối tượng sẽ giúp học sinh có được ngay hứng thú
ban đầu để chuẩn bị cho việc quan sát cảnh, tạo cơ sở cho việc hoàn thành tốt bài văn,
đoạn văn yêu cầu.
16
+ Hướng giải quyết :
- Bước1: Giáo viên cho học sinh xác định chính xác đối tượng chung trong đề bài.
- Bước 2: Liệt kê ra một số đối tượng cụ thể thuộc yêu cầu của đề bài.
- Bước 3: Kiểm tra những hiểu biết của mình về các đối tượng cụ thể đó.
- Bước 4: Dự đoán những thuận lợi, khó khăn khi quan sát, sắp xếp ý, trình tự tả, sử
dụng ngôn từ khi miêu tả với các đối tượng được liệt kê.
- Bước 5: Dựa vào bước 3, bước 4, đối tượng nào nhiều ưu điểm hơn thì quyết định
chọn đối tượng đó.
Ví dụ: Với đề bài trang 74- SGK Tiếng Việt 5
Hãy viết một đoạn văn miêu tả cảnh sông nước (một vùng biển, một dòng sông, một
con suối hay một hồ nước).
17
+ Tác dụng: Mở bài là phần đầu tiên, vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở phần đầu
bài, là phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác, ấn tượng về bài
viết, tạo ra âm hửơng chung cho toàn bài.
Phần này có vai trò và tầm quan trọng khá đặc biệt vì một mở bài gọn gàng, hấp
dẫn sẽ tạo được hứng thú cho người đọc và báo hiệu một nội dung tốt.
+ Hướng giải quyết : Để học sinh làm tốt phần mở bài giáo viên cần cho học sinh
hiểu thế nào là mở bài trực tiếp, gián tiếp, ưu nhược điểm của từng loại.
* Mở bài trực tiếp là giới thiệu ngay với người đọc cảnh mà mình sẽ miêu tả.
Ưu điểm: Cách trình bày nhanh gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và thích hợp
với bài viết ngắn.
Nhược điểm: Nếu mở bài không khéo sẽ gây cảm giác khô khan, ít hấp dẫn.
Với kiểu mở bài này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách vào bài trực tiếp
như sau:
+ Mở bài bằng một câu cảm nhận xét , đánh giá về cảnh.
Ví dụ: Ôi, dòng sông quê hương mới đẹp làm sao !
+ Mở bài bằng cách nêu cảnh miêu tả và vị trí hoặc thời gian quan sát cảnh.
Ví dụ: Chiều qua, em cùng các bạn ra bờ sông quê hương chơi. Cảnh ở đó rất
đẹp.
* Mở bài gián tiếp là nói chuyện khác có liên quan rồi dẫn vào giới thiệu đối tượng
mình định tả. Có một số cách mở bài gián tiếp như:
+ Mở bài bằng một âm thanh
+ Một câu nói
+ Một cách so sánh
+ Một lời đối thoại.
+ Trích dẫn câu văn, câu thơ câu hát… về đối tượng.
Giáo viên cần khuyến khích học sinh mở bài theo cách gián tiếp. Vì mở bài gián tiếp
sẽ làm cho bài văn thêm sinh động, gợi cảm hấp dẫn gây hứng thú cho người đọc. Tuy
- Vì mình thấy đó là một cảnh sông nước rất đẹp và nên
thơ.
“ Ôi ! Sao trời tối thế nhỉ !” Ngước mắt lên trời, em
bỗng thấy mây đen ở đâu ùn ùn kéo đến. Gió thổi mạnh
làm bụi bay mù mịt . Trời chuẩn bị mưa rồi đấy.
“Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi bóng những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng...”
Mỗi khi đọc những câu thơ trên, em không khỏi bồi hồi
khi nghĩ về dòng sông quê hương yêu dấu của mình, nơi
giữ biết bao kỉ niện đẹp đẽ thời thơ ấu.
Mỗi một đề văn giáo viên cần khéo léo đặt các câu hỏi để học sinh suy nghĩ và tìm ra
cách mở bài hay nhất độc đáo nhất.
Tuy nhiên để học sinh có cảm xúc, có “ cảm tình” với đối tượng miêu tả, có hứng thú
khi làm bài, giáo viên chỉnh sửa lại đề bài theo hướng gợi mở cho học sinh để nếu các em
có lúng túng trong việc vào bài thì có thể dựa vào đó mà viết.
Ví dụ: Với đề bài Tả một cơn mưa ( Trang 44- SGK Tiếng Việt 5 ), giáo viên có thể
diễn đạt bằng cách như sau:
Đề bài: Bầu trời bỗng tối sầm lại, mây đen từ đâu ùn ùn kéo đến. Gió rít từng cơn ,
bụi bay mù mịt, cây cối nghiêng ngả…báo hiệu một cơn mưa sắp đến. Em hãy tả lại cơn
mưa ấy.
Như vậy với cách ra đề trên tôi đã đưa ra được gợi ý cho một cách mở bài.
c/. Xây dựng phần thân bài khi tả cảnh.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
+ Bám sát dàn bài chi tiết.
+ Dùng từ gợi tả, gợi cảm và các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa.
+ Dùng từ đặt câu có liên kết và các biện pháp tu từ về câu.
+ Đoạn văn trình bày đúng cách có liên kết đoạn.
cab, cba.
abc : Khu vườn thật đẹp. Được ngắm nhìn nó em thấy rất thích thú và thoải mái.
Em sẽ chăm sóc cho cây cối ở đây luôn tươi tốt.
bac : Được ngắm nhìn khu vườn em rất thích thú trước vẻ đẹp của nó. Em sẽ
chăm sóc cho cây cối ở đây luôn tươi tốt.
cab : Chăm sóc và bảo vệ cây cối ở đây để khu vườn ngày thêm đẹp là niền vui
của em.
+ Kiểu bài mở rộng : Khi viết kết bài mở rộng học sinh vẫn đưa 3 ý suy nghĩ, tình
cảm, hành động như mở bài không mở rộng nhưng diễn đạt mở rộng bằng cách:
- Nêu ra câu hỏi
- Nêu một ý mới lạ.
- Đưa ra một lời bình.
Từ việc phân tích một số mẫu kết bài trên học sinh sẽ luyện tập viết kết bài theo một
trong các cách kể trên.
Ví dụ:. Đề bài: Tả khu vườn vào buổi sáng
Học sinh có thể viết kết bài mở rộng như sau:
Bạn thấy khu vườn nhà mình thế nào ? Rất tuyệt vời phải
không ? Sáng nào cũng vậy, cứ ra ngắm khu vườn mình lại tìm
Nêu một câu hỏi
thấy một cảm giác thật dễ chịu, sảng khoái. Mình sẽ chăm sóc
cho khu vườn ngày thêm đẹp, cho cây cối quanh năm tươi tốt,
tràn trề sức sống.
Bản hoà tấu có tiếng chim ca hát, có tiếng lá xào xạc, tiếng
cựa mình của cây cùng với cảnh vui chơi nhảy nhót của nắng
Nêu một ý tưởng
của gió, của ong bướm đã làm khu vườn thật đẹp, thật lộng lẫy,
không gian thật khoáng đạt, trong lành. Yêu biết mấy khu vườn
nhà em.
Khu vườn không rộng, không lộng lẫy những sắc màu của các
loài hoa nhưng khi đứng mgắm nhìn nó, em luôn có một cảm
+ Độ cao
+ Độ sáng
+ Màu sắc của cây cối.
Đáp án:
a. Độ rộng : Thênh thang, mênh mông, rộng rãi, bao la , bát ngát...
b. Độ cao : Vời vợi, chót vót, vun vút...
c..Độ sáng: lung linh, lấp lánh, long lanh, loang loáng, rực rỡ, lập loè…
d.Màu sắc của cây cối: Xanh rờn, xanh mơn mởn, vàng rực, đỏ thắm…
Bài 2. Điền từ láy thích hợp vào chỗ chấm:
a. Cánh đồng lúa như tấm thảm vàng khổng lồ… trong gió.
b. Những giọt sương… đọng trên cánh hồng đỏ thắm,….
c. Mặt trăng tròn đang … trên bầu trời…
d. Những tàu lá chuối …. trong gió.
+ Đáp án:
a. Cánh đồng lúa như tấm thảm vàng khổng lồ dập dìu trong gió.
b. Những giọt sương long lanh ( lấp lánh) đọng trên cánh hồng đỏ thắm,mịn màng
c. Mặt trăng tròn đang lơ lửng trên bầu trời thăm thẳm.
d. Những tàu lá chuối phần phật trong gió.
21
Bài 3. Thay các từ được gạch chân bằng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
a. Mặt trời chiếu những tia nắng vàng xuống mặt đất.
b. Mưa rơi xuống mái tôn, chảy xuống sân gạch, rơi vào bụi cây.
c. Tiếng sấm sét vang lên kèm theo ánh chớp sáng ngang bầu trời.
+ Đáp án:
a. Mặt trời ném những tia nắng chói chang xuống mặt đất.
b. Mưa nhảy nhót xuống mái tôn, ngã soài xuống sân gạch, lao vào bụi cây.
c. Tiếng sấm sét ì ùng kèm theo ánh chớp loang loáng, rạch ngang bầu trời.
b/. Bài tập rèn kĩ năng viết câu có hình ảnh.
- Vào đêm trăng, dòng sông đẹp như một bức tranh thuỷ mặc.
- Mẹ con nhà bác chuối lục dục rủ nhau dang những cánh tay to bản tập thể dục.
22
c/. Dạng bài tập cảm thụ cái hay, cái đẹp trong việc dùng từ và biện pháp tu từ
trong một số đoạn văn, đoạn thơ hay.
c.1 Tác dụng : Đây là dạng bài tập cảm thụ văn học, dạng bài tập này giúp học sinh
cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong các văn bản từ đó có kĩ năng dùng từ, viết câu và
khả năng thể hiện những tình cảm, những xúc cảm của mình khi viết văn.
c.2 Ví dụ bài tập.
Bài 1
“ Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa , vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày ”
( Vàm Cỏ Đông – Hoàng Vũ )
Đọc đoạn thơ trên, em cảm nhận được vẻ đẹp đáng quý của dòng sông quê hương
như thế nào ?
Gợi ý: Bằng biện pháp so sánh, tác giả Hoàng Vũ đã bộc lộ được vẻ đẹp đáng quý
của con sông quê hương. Điều đó được thể hiện : Con sông ngày đêm hiền hoà, cần mẫn
đưa nước vào đồng ruộng để tưới tắm cho ruộng lúa, vườn cây thêm tốt tươi như người
mẹ hiền mang dòng sữa nóng đến cho con thơ:
“Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa , vườn cây”
Và con sông cũng như lòng người mẹ, luôn chan chứa tình yêu thương, luôn sẵn
sàng chia sẻ, lo lắng cho con, cho tất cả mọi người:
“Và ăm ắp như lòng người mẹ
chúng rất sáng tạo nên khi dạy tập đọc giáo viên cần chỉ ra các từ ngữ miêu tả, cách sử
24
dụng biện pháp tu từ , các đặt câu…trong một vài trường hợp đặc sắc để phân tích cái
hay, sự sáng tạo của nhà văn khi dùng chúng. Việc phân tích này giúp các em tiếp cận
đựơc với các văn bản nghệ thuật, tiếp cận với kĩ năng viết văn một cách thường xuyên và
có chất lượng mà lại nhẹ nhàng không áp đặt.
- Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng
thông qua các tiết dạy: Luyện từ và câu và các tiết họat động ngoại khóa.
Những tiết luyện từ và câu giáo viên có thể cho học sinh được mở rộng vốn từ bằng
các tiết đồng nghĩa, trái nghĩa, các từ gợi tả, gợi cảm sau đó lựa chọn chép vào sổ tay từ
ngữ của mình
b/. Bồi dưỡng cho học sinh vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh
b1/. Thực trạng:
Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy vốn hiểu biết về cảnh, về sự thay đổi của cảnh
của học sinh còn quá ít, thậm chí có sự sai lệnh. Điều này do nhiều nguyên nhân: có thể
các em chưa có cơ hội tiếp cận cảnh để quan sát để khám phá về cảnh, chưa có thời gian
để quan sát cảnh trong một thời gian dài và vốn hiểu biết về tự nhiên còn hạn chế.
Ví dụ:
- Học sinh không rõ sông ít nước vào mùa nào, nhiều nước vào mùa nào, nước sông
luôn ngầu đục hay có lúc đục, lúc trong, bờ có bên lở bên bồi…
- Học sinh không nắm rõ được sự thay đổi của cảnh vật theo thời gian nên khi tả có
thể tả cây phượng vào mùa xuân có tán lá xum xuê, xanh mướt, cánh đồng lúa chín vàng
vào tháng năm tháng sáu…
Chính vì kiến thức về cảnh không có hoặc có ít đã làm các em thiếu tự tin trong khi
viết văn miêu tả cảnh vật đó.
b2/. Hướng giải quyết
Do các em chưa hiểu rõ về cảnh nên chưa thể tự tin viết được một bài văn hay.
Muốn khắc phục tình trạng trên giáo viên cần làm những việc sau: