CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––
Tam Đường, ngày 22 tháng 3 năm 2016
ĐƠN ĐỀ NGHỊ
CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
Kính gửi: Thường trực Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp cơ sở
Chúng tôi:
Số
TT
Họ và tên
Tỷ lệ (%)
Nơi công tác
Trình độ đóng góp
Ngày tháng
Chức
(hoặc nơi
chuyên vào việc Ghi chú
năm sinh
danh
thường trú)
môn
tạo ra
sáng kiến
1 Nguyễn Thị Thanh Hoa 06/11/1984 Trường TH Giáo
Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Văn hóa.
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 24/8/2015
- Mô tả bản chất của sáng kiến: Sáng kiến giúp cho giáo viên, học sinh và
phụ huynh học sinh hiểu rõ hơn về phương pháp, cách thức dạy - học Tiếng Việt
1 – công nghệ giáo dục lớp 1. Rèn cho học sinh nắm chắc nguyên tắc viết chính
tả, luật chính tả bằng cách phân loại chữ viết theo nhóm chữ để học sinh so sánh
nhận biết dễ dàng. Tư vấn cho phụ huynh nắm phương pháp dạy học của Công
nghệ giáo dục bằng nhiều hình thức như họp phụ huynh; trao đổi cách hướng
dẫn con học ở nhà; mời phụ huynh đến lớp dự, ... để từ đó phụ huynh có phương
pháp hướng dẫn con học ở nhà.
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thực hiện theo chương
trình Công nghệ giáo dục; tài liệu dạy học Công nghệ giáo dục và Bộ đồ dùng
dạy học Tiếng Việt 1 – công nghệ giáo dục lớp 1.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả: học sinh học tập tốt hơn, khả năng đọc, viết của các
em đạt ở mức độ cao; tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình của lớp 100%.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã áp dụng sáng kiến và theo ý kiến của
tác giả sáng kiến: 100% học sinh đọc thông viết thạo.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
NGƯỜI ĐĂNG KÝ
BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Đồng tác giả
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Hoa
học tập và rèn luyện, kết quả đạt được như sau:
+ Do các em rất thích thú với phương pháp dạy học mới nên tỉ lệ chuyên
cần của lớp rất cao.
- Đối với giáo viên: Qua quá trình dạy học, kiến thức ngữ âm tiếng Việt và
năng lực của giáo viên được nâng lên rõ rệt. Giáo viên nắm vững phương pháp
và dạy học theo hướng tích cực. Tiến trình giờ dạy nhẹ nhàng, dễ thực hiện.
Giáo viên không phải soạn bài nên có nhiều thời gian nghiên cứu thiết kế bài
dạy và quy trình dạy các mẫu bài. Qua một thời gian nghiên cứu, giảng dạy cùng
với sự ham học hỏi của mình thì các giáo viên dạy Tiếng Việt 1 - Công nghệ
giáo dục đã hiểu hết được bản chất và sự lôgic khoa học của chương trình Công
nghệ giáo dục là “Thầy thiết kế, trò thi công”, vận dụng vào dạy học linh hoạt và
sáng tạo hơn, điều cốt lõi là chương trình đã dạy cho học sinh biết cách học.
- Đối với phụ huynh học sinh: Nắm được phương pháp dạy học của Công
nghệ giáo dục để từ đó hướng dẫn, động viên, giúp đỡ con học ở nhà.
- Kết quả học kỳ I năm học 2015- 2016:
Nộ
i
du
ng
Kết quả
Tổn
g số
học
sinh
Đọc đúng
8
1
0
Nguyên âm
đôi
Chưa
Đạt
đạt
81
0
Các phụ âm
đầu
Đạt
1
Chưa
đạt
0
Chưa
e, ê, i
Đạt
0 80
Chưa
đạt
1
Chưa
Đạt
đạt
8
0
1
Âm đệm
Đạt
81
Chưa
đạt
0
Tam Đường, ngày 22 tháng 3 năm 2016
I. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tiếng
Việt 1 - Công nghệ giáo dục lớp 1A2, 1A4, 1A5 trường Tiểu học Thị Trấn Tam
Đường.
2. Đồng tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Hoa
Năm sinh: 06/11/1984
Nơi thường trú: Thị trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu.
Trình độ chuyên môn: ĐHSP
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Tiểu học Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai
Châu.
Điện thoại: 01626973958
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 35%
Họ và tên: Dương Thị Hằng
Năm sinh: 14/5/1976
Nơi thường trú: Thị trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu.
Trình độ chuyên môn: CĐSP
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Tiểu học Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai
Châu.
Điện thoại: 0964086547
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 35%
Họ và tên: Nguyễn Thị Thủy
Năm sinh: 13/6/1981
sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần
rèn luyện các thao tác tư duy. Dạy học Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những
kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và
con người, về văn hoá, văn học của người Việt Nam và nước ngoài.
Qua việc dạy học môn Tiếng Việt không những các em hiểu biết về môn
Tiếng Việt mà còn giúp các em học tốt các môn học khác.
b) Mục đích
Chương trình dạy học theo tài liệu Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục giúp
nâng cao chất lượng phát âm chuẩn cho học sinh, từ đó học sinh sẽ phân tích
đúng tiếng, từ; viết đúng theo yêu cầu giáo viên đề ra. Góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục của lớp, của toàn trường. Giáo dục công nghệ còn giúp các em
học sinh hình thành và phát triển năng lực học tập, làm việc, sử dụng tiếng Việt
đúng cách và hiện đại; hình thành và phát triển ở các em lòng nhân ái và những
phẩm chất mới như: cẩn thận, tự tin, thân thiện, đoàn kết, biết hợp tác và có tính
tự lập,… Từ đó, các em tự mình nắm bắt được cách học để biết đọc, biết viết.
Hơn nữa, các em còn nắm chắc được cấu trúc ngữ âm và luật chính tả của Tiếng
Việt mà chương trình hiện hành không đề cập tới từ đó học sinh có thể tự tin sử
dụng tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Để giúp phụ huynh học
sinh phối hợp cùng nhà trường trong công tác giảng dạy và giúp giáo viên nâng
cao chất lượng giáo dục. Vì vậy chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên
cứu: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt 1 - Công nghệ
giáo dục lớp 1A2, 1A4, 1A5 trường Tiểu học Thị Trấn Tam Đường”.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
- Phạm vi nghiên cứu: Lớp 1A2, 1A4, 1A5 trường Tiểu học Thị Trấn Tam
Đường - huyện Tam Đường - tỉnh Lai Châu.
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục.
3. Mô tả sáng kiến
Do trình độ nhận thức của các em không đồng đều nên một số em không
theo kịp với các bạn trong lớp.
Học sinh không nắm chắc luật chính tả vì các em còn lẫn với cách học theo
như ở trường Mầm non (phân tích, đánh vần theo phương pháp cũ).
Đối với phụ huynh:
Không biết dạy con như thế nào vì khác với chương trình hiện hành. Phụ
huynh học sinh về nhà vẫn dạy con theo chương trình cải cách giáo dục như đọc
đánh vần.
Chưa thực sự tin tưởng vào phương pháp dạy học mới.
Kết quả khảo sát khi thực hiện sáng kiến
Tổng
Nội
số học
dung
sinh
Kết quả
Đọc đúng
Âm (c,q,k)
Đọc
Viết
81
81
25
Luật chính tả
Nguyên
e, ê, i
âm đôi
Các phụ
âm đầu
Tốc độ
Đạt
Chưa
đạt
Đạt
Chưa
đạt
62
19
45
36
Âm đệm
36
72
9
51
30
58
23
47
34
b. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
* Tính mới:
Nâng cao nhận thức của giáo viên về việc dạy học tiếng việt theo chương
trình công nghệ giáo dục.
Giáo viên có kĩ năng tốt hơn khi dạy tiếng việt 1 công nghệ giáo dục. Giáo
viên đã đưa ra một số phện pháp phù hợp đối với từng đối tượng học sinh nhằm
thu hút việc đọc cho học sinh, tạo say mê hứng thú trong học tập của các em
Xây dựng nề nếp học tập ngay từ tuần đầu giúp học sinh làm quen với
phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục.
Rèn cho học sinh nắm chắc nguyên tắc viết chính tả, luật chính tả bằng
cách phân loại chữ viết theo nhóm chữ để học sinh so sánh nhận biết dễ dàng.
Tư vấn cho phụ huynh nắm phương pháp dạy học của Công nghệ giáo dục
quá trình giảng dạy. Nếu thấy có vấn đề bất thường hoặc chưa hiểu thì đưa ý
kiến ra đề xuất với tổ chuyên môn cùng tháo gỡ và xin ý kiến chỉ đạo của Ban
giám hiệu nhà trường để giải quyết.
Đặc biệt cần tìm hiểu và nghiên cứu kĩ bộ tài liệu tập huấn cũng như Sách
Thiết kế Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục mới của Bộ giáo dục và Đào tạo.
Trung thành với quy trình bốn việc của Sách thiết kế, hiểu và nắm chắc các công
đoạn, các mẫu bài cụ thể, khéo léo vận dụng linh hoạt để dạy đúng theo đối
tượng học sinh của mình:
1.1. Hiểu và nắm được ngữ âm, luật chính tả và một số thành tố của
Tiếng Việt:
* Về Ngữ âm Tiếng Việt:
a) Tiếng:
Tiếng gồm 3 phần: Phần thanh, phần đầu, phần vần.
Tiếng thanh ngang gồm 2 phần: phần đầu và phần vần.
Phần đầu của tiếng là phụ âm. Trong tiếng có thể khuyết âm đầu, âm đệm,
âm cuối nhưng không thể thiếu âm chính.
b) Âm cuối và thanh điệu:
Có 6 thanh: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Trong 6 thanh thì có 5 thanh
có dấu thanh (huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng), còn thanh ngang không có dấu.
Các tiếng có âm cuối là m, n, ng, nh, o, u, i, y có thể kết hợp với 6 thanh.
Các tiếng có âm cuối là p, t. c, ch chỉ kết hợp với 2 thanh: sắc, nặng.
c) Phụ âm:
Gồm 23 phụ âm: b, c (k, q) ch, d, đ, g, gi, h, kh, l, m, n, ng, nh, p, ph, r, s, t,
th, tr, v, x.
Khi phát âm phụ âm, luồng hơi đi ra bị cản, không kéo dài được.
d) Nguyên âm:
Các nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, ơ, u, ư, iê, uô, ươ. Trong đó:
+ Nguyên âm tròn môi: o, ô, u
ươ, ưa.
* Một số Luật chính tả và quy luật về đọc, viết Tiếng Việt
a) Cách ghi nguyên âm đôi: 3 nguyên âm đôi Tiếng Việt có quy luật viết như sau:
Cách viết
Nguyên
Âm đôi
/uô/
/ươ/
/iê/
Không có
Âm cuối
Có âm đệm,
Có âm cuối
ua
Uô
(cua, mua,…)
(muốn,…)
ưa
- Không có âm cuối: đặt ở con chữ thứ nhất. Ví dụ: cửa, của, kìa,...
c) Luật chính tả e, ê, i:
- Âm /cờ/ đứng trước e, ê, i phải viết bằng con chữ k (/ca/).
Ví dụ: ke, kén; kê, kênh; ki, kiến,…
- Âm / gờ / đứng trước e, ê, i phải viết bằng con chữ gh (gờ kép).
Ví dụ: ghe, ghen; ghê, ghềnh; ghi,…
- Âm / ngờ / đứng trước e, ê, i phải viết bằng con chữ ngh (ngờ kép).
Ví dụ: nghe, nghen; nghê, nghênh; nghĩ, nghìn,…
d) Luật chính tả âm đệm:
- Âm đệm được ghi bằng 2 con chữ là u hoặc o:
+ Ghi bằng con chữ “u”: khi đứng trước nguyên âm hẹp hoặc hơi hẹp.
Ví dụ: huy, huế,…
+ Ghi bằng con chữ “o” khi trước nguyên âm rộng hoặc hơi rộng.
Ví dụ: hoa, hoe…
- Âm /cờ/ đứng trước âm đệm viết bằng con chữ q (cu), âm đệm viết bằng
con chữ u.
* Luật ghi một số thành tố:
+ Luật chính tả khi viết âm /i/
- Tiếng chỉ có một âm i thì có tiếng viết bằng i, có tiếng viết bằng y:
Viết i nếu đó là từ Thuần Việt. Ví dụ: ầm ĩ, ì ạch,...
Viết y nếu đó là từ Hán Việt. Ví dụ: y tá, chú ý,...
- Tiếng có âm đầu và âm i thì một số tiếng có thể viết y, hoặc viết i. Ví dụ:
kỹ thuật/ kĩ thuật; lí lẽ/lý lẽ...
- Khi có âm đệm đứng trước, âm i phải viết là y. Ví dụ: huy, quý, lũy,...
- Không thể lẫn i/y (âm chính hay âm cuối). Ví dụ: thúi/thuý; quý/quí …
+ Luật chính tả ghi dấu thanh:
- Viết dấu thanh ở âm chính của vần. Ví dụ: bà, què, bạn, quỳnh,…
- Tiếng có nguyên âm đôi, không có âm cuối thì dấu thanh được viết ở vị
Muốn học sinh đọc tốt, trước hết cần rèn cho học sinh phát âm đúng, rõ
ràng. Tôi thấy học sinh phát âm sai rất nhiều, chủ yếu là phát âm sai phụ âm đầu
l/n, l/đ, v/b, s/x... nguyên nhân là do học sinh chưa phân biệt được cách phát âm
và phát âm sai do theo thói quen địa phương. Để khắc phục tình trạng trên, tôi
đã tiến hành như sau:
- Điều tra phân loại lỗi ngay từ đầu năm cho từng em, từng nhóm để có kế
hoạch uốn nắn.
- Có bảng theo dõi sự tiến bộ và tồn tại của học sinh qua từng tháng.
- Khi hướng dẫn phát âm, tôi phân tích cho các em thấy sự khác biệt của
phát âm đúng với phát âm sai mà các em mắc phải. Đi sâu vào phân tích, có khi
dùng hình vẽ để minh hoạ cho các em thấy được cấu tạo hệ thống môi, răng,
lưỡi khi phát âm. Giáo viên dùng trực giác hay nghe nhìn để hướng dẫn cho các
em nghe, nhìn khuôn miệng của thầy giáo đánh vần để học sinh đọc theo mẫu.
Ví dụ:
+ Âm N: Đầu lưỡi và mặt sau của răng cửa hàm trên tạo nên điểm cấu âm
cho âm N, luồng hơi thoát ra dưới mũi tạo nên phụ âm mũi N.
Phát âm phụ âm N: Đầu lưỡi thẳng, luồng hơi đi ra nhẹ.
+ Âm L: Đẫu lưỡi và lợi của hàm trên là điểm cấu âm của L. Luồng hơi bị
chặn ngay ở giữa miệng do đầu lưỡi hạ xuống, luồng hơi lách qua một hay hai
bên lưỡi tạo nên âm L.
Kết hợp với việc rèn phát âm đúng, rõ ràng, cần rèn luyện cho học sinh đọc
đúng và trôi chảy. Khi tập đọc lưu ý những dấu thanh mà các em hay bỏ quên
hoặc đọc sai. Đọc rõ từng tiếng, không được kéo dài liền tiếng này sang tiếng
khác (đọc ê a). Rèn học sinh biết ngừng, nghỉ đúng chỗ, biết phận biệt câu thơ,
dòng thơ. Đối với câu văn dài, hướng dẫn học sinh biết đọc thành từng cụm từ,
biết giữ hơi để khỏi phải bị ngắt quãng giữa các tiếng. Như vậy với từng đối
tượng học sinh tôi đưa ra các giải pháp rèn luyện cho phù hợp
* Cách thức thực hiện
Vị trí của dấu phụ, dấu thanh đặt ở đâu? Cách nối các nét như thế nào? khoảng
cách giữa các con chữ, khoảng cách giữa các tiếng, ...Từ đó hình thành cho học
sinh những biểu tượng về hình dáng, độ cao, sự cân đối, tính thẩm mỹ của chữ
viết.
Ví dụ: Học sinh viết chữ b, giáo viên cho học sinh quan sát chữ b mẫu rồi hỏi:
Chữ b cao mấy ly, gồm mấy nét? Học sinh trả lời: Chữ b cao 5 ly, gồm 2 nét: nét
khuyết trên cao 5 ly, nét thắt cao 2 ly..... Từ đó, giáo viên cho học sinh nắm chắc
được quy trình cũng như kỹ thuật viết và hướng dẫn học sinh viết đúng, đẹp.
g. Các giải pháp cụ thể đối với từng nhóm đối tượng học sinh:
* Phân loại chữ cái theo nhóm:
Để thuận tiện cho công việc giảng dạy và cho học sinh dễ dàng hơn trong
khi viết, tôi đã phân loại chữ cái theo các nhóm. Gồm các nhóm sau:
+ Nhóm 1: Các chữ có nét cong, tròn o, «, ¬, a, ¨, ©, c, d, ®, q, g.
+ Nhóm 2: Các chữ có nét khuyết, nét thắt: l, b, h, k, r, s, v.
+ Nhóm 3: Các chữ bắt đầu bằng nét móc, nét xiên: e, ê, m, n, x, p, i, t, u, ư, y
+ Nhóm 4 - Các chữ kép: tr, th, ph, kh, nh, ch, gi, gh, ng, ngh
Việc chia nhóm như vậy sẽ giúp học sinh so sánh được cách viết các chữ,
tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau. Từ đó, học sinh nắm chắc được
cách viết và các em sẽ viết được chuẩn hơn, đẹp hơn. Vì vậy, tôi cũng cho các
em luyện thêm cách viết theo nhóm trong các tiết học ôn của buổi chiều. Giúp
các em nắm vững quy trình viết từng con chữ, mẫu chữ, cách nối liền các con
chữ để tạo thành tiếng. Các em sẽ thấy rõ mình thường gặp khó khăn khi viết nét
nào, từ đó các em điều chỉnh và sửa sai.
* Đánh giá, nhận xét:
Sau khi học sinh viết xong bài, giáo viên chấm điểm ngay một số vở, sửa
lỗi sai cho học sinh, tuyên dương những bài viết tốt, khuyến khích những em
viết chưa đẹp cần cố gắng hơn, tránh phê bình học sinh một cách gay gắt, đồng
thời kèm thêm cho các em ngoài giờ học. Với việc làm này cùng với sự chỉ bảo
Nội
số học
dung
sinh
Kết quả
Đọc đúng
Âm (c,q,k)
Đọc
Viết
81
81
Âm (e, ê,
i)
Đạt
Chưa
đạt
Đạt
50
31
Chưa
đạt
Đạt
Chưa
đạt
62
19
45
36
Âm đệm
Tốc độ
Đạt
Chưa
đạt
Đạt
Chưa
đạt
47
34
- Kết quả học kỳ I năm học 2015- 2016:
Tổng
Nội
số học
dung
sinh
Kết quả
Đọc đúng
Âm (c,q,k)
Đọc
Viết
81
81
Âm (e, ê,
i)
Đạt
Chưa
Các phụ
âm đầu
Tốc độ
Đạt
Chưa
đạt
Đạt
Chưa
đạt
81
0
81
0
Âm đệm
Tốc độ
Đạt
Chưa
80
1
81
0
80
1
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
Là đề tài của chúng tôi được áp dụng tại các lớp do chúng tôi chủ nhiệm đã
mang lại hiệu quả cao, có thể áp dụng tại các lớp trong toàn huyện chương trình
dạy theo tài liệu Tiếng Việt Công nghệ giáo dục 1.
6. Kiến nghị, đề xuất
* Đối với Phòng GD&ĐT:
- Đầu tư tài liệu tham khảo cũng như các vở rèn chữ viết chữ sáng tạo cho
giáo viên và học sinh.
- Mở lớp tập huấn về kỹ thuật viết chữ cho giáo viên.
- Vở ô li và vở tập viết cần thống nhất về các đường kẻ, dòng kẻ để cho
các em học sinh thuận tiện khi viết.
* Đối với nhà trường: Cần quan tâm tới các học sinh có hoàn cảnh khó
khăn để các em có được môi trường học tập thuận lợi, tự tin trong học tập.
* Đối với gia đình: Cần quan tâm, đầu tư cho các em để các em không bị
mặc cảm, tự ti trong học tập, động viên kịp thời đúng lúc để phát huy hết khả
năng của con em mình.
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Tam Đường, ngày 22 tháng 3 năm 2016
Kính gửi: Hội đồng khoa học cấp huyện
Đơn vị trường tiểu học Thị Trấn xác nhận bà:
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Dương Thị Hằng
Nguyễn Thị Thủy
Là đồng tác giả của sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy
học Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục lớp 1A2, 1A4, 1A5 trường Tiểu học Thị
Trấn Tam Đường”.
đã được áp dụng tại trường thời gian từ 24 tháng 8 năm 2015.
Qua thời gian áp dụng sáng kiến tại đơn vị, kết quả đem lại như
sau:
Nội
dung (*)
Khi chưa áp dụng SKKN tại
đơn vị
Sau khi Áp dụng SKKN tại
đơn vị
Số
lượng
Đầu năm học số học sinh yêu
Đến giữa học kì II hầu hết học