Bảo đảm quyền của người nộp thuế trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

HONG TH MNG TRINH

BảO ĐảM QUYềN CủA NGƯờI NộP THUế
TRONG KHấU TRừ, HOàN THUế GIá TRị GIA TĂNG

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

HONG TH MNG TRINH

BảO ĐảM QUYềN CủA NGƯờI NộP THUế
TRONG KHấU TRừ, HOàN THUế GIá TRị GIA TĂNG
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH LAN HNG

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN

1.1.2. Khái niệm bảo đảm quyền của ngƣời nộp thuế .................................... 7
1.2.

Khái niệm khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng............................... 9

1.2.1. Khái niệm khấu trừ thuế giá trị gia tăng .............................................. 9
1.2.2. Khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng .................................................. 12
1.3.

Một số quyền của ngƣời nộp thuế trong khấu trừ, hoàn thuế giá
trị gia tăng........................................................................................... 16

1.3.1. Quyền đƣợc tiếp cận thông tin trong thực hiện thủ tục khấu trừ,
hoàn thuế giá trị gia tăng .................................................................... 16
1.3.2. Quyền của ngƣời nộp thuế trong các cuộc kiểm tra, thanh tra
khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng .................................................... 18
1.3.3. Quyền khiếu nại trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng ............... 19
1.3.4. Quyền khởi kiện trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng ............... 20
1.3.5. Quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại do cơ quan quản lý thuế,
công chức quản lý thuế gây ra trong quá trình thực hiện khấu trừ,
hoàn thuế giá trị gia tăng .................................................................... 21
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 24


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ TRONG KHẤU TRỪ, HOÀN
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ........................................................... 25
2.1.

Bảo đảm quyền đƣợc khấu trừ thuế giá trị gia tăng..................... 25

trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng ......................................................... 62

2.7.

Bảo đảm quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại do cơ quan
quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra trong quá trình
thực hiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng .............................. 65

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 69
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM BẢO
ĐẢM QUYỀN CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
NGƢỜI NỘP THUẾ TRONG KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ
TRỊ GIA TĂNG ........................................................................................................70


3.1.

Định hƣớng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền của
ngƣời nộp thuế trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng .......... 70

3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng phải
đảm bảo tính hiệu quả và khả thi ....................................................... 70
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng phải
bảo đảm tính thống nhất phù hợp ....................................................... 71
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng phải
bảo đảm quyền của ngƣời nộp thuế ................................................... 71
3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam phải phù hợp với với yêu cầu của hội nhập, hợp tác
quốc tế ................................................................................................ 72


NNT:

Ngƣời nộp thuế

NSNN:

Ngân sách nhà nƣớc

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 47 Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 quy định: "Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định". Bảo đảm
quyền lợi của ngƣời nộp thuế (NNT) là cần thiết nhằm tác động vào thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế của chủ thể nộp thuế. Luật Quản lý thuế năm 2006 đã liệt
kê quyền của ngƣời nộp thuế đƣợc hƣởng khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
Tuy nhiên, ngoài các quyền lợi phát sinh liên quan đến miễn giảm thuế theo
chính sách khuyến khích thành lập doanh nghiệp, miễn giảm thuế cho đối
tƣợng yếu thế và hoàn thuế theo quy định thì việc bảo đảm quyền và lợi ích
của NNT hầu nhƣ rất hạn chế.
Đối với Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) thì khấu trừ, hoàn thuế là
một chế định hết sức tiến bộ. Nhà nƣớc đã có những chủ trƣơng, chính sách
khuyến khích để có thể bảo đảm tính công bằng, bình đẳng cho NNT; kích
thích hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh
tế nói chung. Tuy nhiên, pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT vẫn còn

chỉ dừng lại ở nghiên cứu bảo vệ quyền của ngƣời nộp thuế trong Luật Quản
lý thuế, Luật thuế GTGT mà chƣa có những bài viết nghiên cứu về bảo đảm
quyền của NNT trong từng Luật thuế cụ thể và cũng chƣa có một công trình
nghiên cứu nào đề cập một cách chuyên sâu về bảo đảm quyền của NNT
trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành
tựu nghiên cứu khoa học đã công bố, luận văn tiếp tục tìm hiểu, bổ sung và
hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của NNT, đặc biệt là
đảm bảo quyền của NNT trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT. Những giải pháp
nâng cao hiệu quả của luận văn hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực
cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của

2


NNT trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT nói riêng và bảo đảm quyền của NNT
nói chung. Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tƣ thích đáng, kết quả nghiên cứu
sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị.
3. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu tổng quát
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý và thực tiễn hiện nay
về vấn đề đảm bảo quyền của NNT trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
* Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quyền đƣợc khấu trừ, hoàn thuế GTGT
và bảo đảm quyền của NNT trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT hiện nay.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thuế GTGT nhằm bảo

đảm quyền đƣợc khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
- Đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị góp phần đảm bảo quyền của NNT

trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT.


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ
VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ TRONG KHẤU
TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. Khái niệm quyền của ngƣời nộp thuế và bảo đảm quyền của
ngƣời nộp thuế
NNT GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ
chịu thuế GTGT ở Việt Nam và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu
thuế GTGT. NNT GTGT đa dạng với dấu hiệu là tham gia hoạt động mua,
bán hàng hóa và dịch vụ. NNT là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế.
Cũng nhƣ các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật khác, để trở thành NNT
trong quan hệ pháp luật thuế đòi hỏi phải thỏa mãn đƣợc những điều kiện mà
pháp luật thuế quy định. Theo quan niệm truyền thống, quan hệ pháp luật thuế
là quan hệ pháp luật hành chính đƣợc thiết lập giữa CQNN có thẩm quyền với
cá nhân, tổ chức khác trong xã hội đƣợc điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp
luật thuế và đƣợc điều chỉnh bởi phƣơng pháp mệnh lệnh quyền uy. NNT ở
vào một vị thế yếu trong quan hệ pháp luật thuế, dù rằng trên thực tế thì công
sức và đóng góp của họ cho Nhà nƣớc là không hề nhỏ chút nào. Mặc dù
không có khái niệm chính xác về NNT, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu NNT là
cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển giao một phần thu nhập từ hoạt động sản
xuất kinh doanh để đóng vào NSNN nhằm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo
quy định của pháp luật.
1.1.1. Khái niệm quyền của người nộp thuế
Theo quan điểm của Mác, quyền của con ngƣời là sự thống nhất giữa
quyền và nghĩa vụ. Điều 15 Hiến pháp Việt Nam 2013 cũng khẳng định
quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Do vậy, trong quan hệ

5



; khả năng yêu cầu các


CQNN có thẩm quyền bảo vệ l ợi ích của mình khi các lợi ích đó bị ngƣời
khác xâm hại . Bên cạnh đó, quyền của NNT trong quan hệ pháp luật thuế
cũng có những đặc trƣng riêng của mình, thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhấ t, quyề n của NNT chỉ phát sinh khi tham gia quan hê ̣ pháp luâ ̣t
thuế , tƣ́c là khi tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t thuế

, NNT mới có nhƣ̃ng

quyề n mà pháp luâ ̣t thuế trao cho . Tổ chƣ́c , cá nhân là NNT nhƣng khi họ
không tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t thuế thì ho ̣ không có nhƣ̃ng quyề n mà
pháp luật thuế quy định;
Thứ hai, quyề n của NNT thƣờng gắ n với nghiã vu ̣ thƣ̣c thi của cơ quan
nhà nƣớc có thẩm quyền mà ở đây là cơ quan thu và quản lý thuế
quan hê ̣ pháp luâ ̣t thuế có hai chủ thể cơ bản là

. Do trong

ngƣời nô ̣p thuế và cơ quan

thu, quản lý thuế nên quyền của chủ thể này sẽ tƣơng ứng với nghĩa vụ của
chủ thể kia và ngƣợc lại;
Thứ ba, quyề n của NNT phát sinh trên cơ sở triế t lý quyề n sở hƣ̃u tài
sản. Nói cách khác, khi nhà nƣớc đòi hỏi tổ chƣ́c, cá nhân – với tƣ cách là chủ
tài sản phải nộp thuế cho mình thì chính Nhà nƣớc phải tôn trọng các quyền
năng cơ bản chủ sở hƣ̃u tài sản , đó là quyề n đƣơ ̣c đinh
̣ đoa ̣t đố i với số tiề n

các giai cấp, tầng lớp xã hội, bầu không khí xã hội, vai trò của xã hội dân
sự...), các bảo đảm tƣ tƣởng (quan điểm, quan niệm chính trị, pháp lý... xung
quanh vấn đề quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ công dân). Các bảo đảm
này tạo ra nền tảng chung cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.
Các bảo đảm này về bản chất không có tính chất pháp lý, không trực tiếp gắn
với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, nó thể hiện mối liên quan
có tính trừu tƣợng đến khả năng thực hiện tổng thể các quyền và nghĩa vụ của
công dân. Hai là, các bảo đảm riêng còn đƣợc gọi là các bảo đảm pháp lý nhƣ
các quy định về thủ tục pháp lý, chế tài pháp lý, quy định giải quyết tranh
chấp pháp luật về quyền....
Chính nhờ có các bảo đảm pháp lý trên đây mà việc thực hiện thực tế
quyền của NNT ở nƣớc ta khá tốt. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những thiếu
sót, bất cập. Quy định quyền trong pháp luật nhƣng chúng ta không biết
chúng đƣợc thực hiện nhƣ thế nào trên thực tế. Không có cơ quan nào xem

8


xét, điều chỉnh, đề xuất việc xây dựng và hoàn chỉnh các bảo đảm pháp lý
thực hiện các quyền. Do đó, cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện các bảo
đảm pháp lý, tùy theo thực trạng hiện nay của mỗi dạng thức bảo đảm.
Trong pháp luật thuế GTGT và trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT; bảo
đảm quyền của NNT đƣợc hiểu là xây dựng các quy định pháp lý về khấu trừ,
hoàn thuế một cách hoàn thiện, hợp lý và các cơ chế để bảo đảm quyền cho
NNT nhƣ thanh tra, kiểm tra; khiếu nại; khởi kiện...để giải quyết khi các chủ
thể (mà chủ yếu là CQNN) vi phạm quyền của NNT.
1.2. Khái niệm khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng
1.2.1. Khái niệm khấu trừ thuế giá trị gia tăng
Khấu trừ thuế là trả lại thuế đầu vào của doanh nghiệp đã nộp khi đáp
ứng đủ điều kiện. Trong khấu trừ thuế GTGT, Nhà nƣớc cùng một lúc nhận

NNT có quyền khấu trừ số thuế thể hiện trên hóa đơn do ngƣời cung cấp viết với
điều kiện những nhà cung cấp này về mặt pháp lý có quyền thể hiện số thuế trên
hóa đơn. Các nghiệp vụ thể hiện trên hóa đơn phải rõ ràng, nếu nhƣ hóa đơn
phản ánh các nghiệp vụ không rõ ràng hoặc phản ánh sai thuế GTGT nhƣ áp
dụng thuế suất sai hoặc cơ sở tính thuế sai thì đƣợc coi là vi phạm pháp luật nên
không có quyền khấu trừ mặc dù họ phải trả thuế theo hóa đơn và hóa đơn phải
tƣơng xứng với thời điểm mà NNT thực hiện quyền khấu trừ.
Tƣ̀ phƣơng pháp t ính thuế bằng khấu trừ thuế GTGT đầu vào

, NNT

đƣơ ̣c phép lấ y phầ n thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào đƣợc khấu trừ .
Nếu kết quả là số dƣơng thì đó chính là số thuế GTGT phải nộp cho NSNN
trong tháng hoặc quý. Nếu kết quả là một số âm thì đƣợc chuyển bù trừ vào số
thuế GTGT phải nộp của tháng hoặc quý tiếp theo hay đề nghị cơ quan thuế
hoàn lại theo quy định của pháp luật. Xác định nghĩa vụ thuế theo phƣơng
pháp khấu trừ hoàn toàn loại trừ khả năng tính thuế chồng lên thuế. Bởi vì,
cách tính thuế dựa vào hóa đơn đảm bảo xác định thuế có cơ sở và căn cứ để
kiểm tra thuế do giá tính thuế , thuế suất cũng nhƣ số thuế phải nộp đƣợc thể

10


hiện rõ ràng trên hóa đơn . Nhƣ vâ ̣y, có thể hiểu khấu trừ thuế GTGT là việc
xác định số thuế GTGT phải nộp trong kỳ tính thuế trên cơ sở thuế GTGT đầ u
ra và đầ u vào của doanh nghiê ̣p, cơ sở kinh doanh.
Đặc điểm khấu trừ thuế GTGT đƣợc thể hiện:
Thứ nhất, phần thuế GTGT đƣợc khấu trừ là số thuế đƣợc xác định
một cách trực tiếp, là hiệu số thuế của các khâu trong quá trình sản xuất lƣu
thông mà không phải phần GTGT đƣợc xác định trực tiếp qua các khâu.

tiế n bô ̣ của Luâ ̣t thuế GTGT so với luâṭ thuế doanh thu trƣớc đây:
- Chố ng thấ t thu thuế cho Nhà nƣớc, do xác đinh
̣ đúng số thuế phải nô ̣p

ở từng khâu
- Đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế, do số thuế phát sinh ở các

khâu đƣơ ̣c thể hiê ̣n rõ ràng qua hóa đơn, chƣ́ng tƣ̀.
- Thúc đẩ y các tổ chƣ́c kinh tế ha ̣ch toán theo chuẩ n mƣ̣c pháp luâ ̣t.

1.2.2. Khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng
Trong quan hệ giữa hoàn thuế và khấu trừ thuế, hoàn thuế là hệ quả tiếp
theo của khấu trừ thuế, NNT khi chƣa đƣợc khấu trừ hết thì sẽ đƣợc hoàn
thuế. Quyền đƣợc khấu trừ là cơ sở để thực hiện quyền yêu cầu hoàn thuế.
Quyền đƣợc khấu trừ là cơ sở để thực hiện quyền yêu cầu hoàn thuế, thông
thƣờng đối với NNT kê khai nộp thuế GTGT theo phƣơng pháp khấu trừ thì
sẽ đƣợc hoàn thuế khi có số thuế đầu vào (không thuộc diện phải nộp) lớn
hơn số thuế đầu ra (số thuế phát sinh trong ký phải nộp) sẽ đƣợc hoàn thuế.
NNT khi thực hiện đầy đủ hồ sơ, thủ tục theo quy định và nộp hồ sơ tại
cơ quan thuế thì cơ quan thuế có nghĩa vụ, trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ cho
NNT để giải quyết. Sau khi cơ quan thuế tiến hành thẩm định hồ sơ, nếu đủ
điều kiện thì cơ quan thuế ra quyết định cho NNT đƣợc quyền khấu trừ và
quyết định hoàn thuế GTGT.
Luật thuế GTGT năm 2008, sƣ̉a đổ i bổ sung năm 2016 không đƣa ra
định nghĩa khái niệm hoàn thuế GTGT. Tuy nhiên có thể hiểu hoàn thuế là
việc Nhà nƣớc trả lại số thuế GTGT mà NNT đã nộp khi thỏa mãn một số
điều kiện nhất định. NNT GTGT có quyền đƣợc hoàn thuế GTGT. Hoàn thuế
đƣợc thực hiện nhằm đảm bảo tính liên hoàn và trung lập của thuế GTGT .
Thông thƣờng hàng hóa luân chuyển qua các khâu không bị đánh thuế mà chỉ
bị đánh thuế khi hàng hóa chuyển cho ngƣời tiêu dùng. Quyền đƣợc hoàn thuế

hóa đã xuất dùng hay còn để tồn kho . Lúc này, số thuế GTGT đầu vào mà cơ
sở kinh doanh đã ứng ra khi mua hàng hóa , dịch vụ nhƣng chƣa thu lại đƣợc
qua việc bán hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, việc NNT đƣợc quyền hoàn thuế
GTGT là việc trả lại phần thuế đã ứng trƣớc, giúp cơ sở kinh doanh không bị
ứ đọng vốn. Do giá bán hàng hóa của NNT thấp hơn giá mua vào của hàng
hóa vì một lí do nào đó. Khi bán hàng hóa, dịch vụ, NNT chỉ thu lại đƣợc một

13


phần tiền thuế đã ứng ra khi mua hàng hóa, dịch vụ. Còn một phần tiền thuế
giá trị gia 10 tăng tƣơng ứng với phần bán lỗ không thu lại đƣợc. Khi đó, Nhà
nƣớc hoàn thuế lại cho NNT thể hiện thuế GTGT chỉ tính trên phần GTGT
của hàng hóa, dịch vụ; phần thuế đã trả quá GTGT ở khâu mua hàng đƣợc trả
lại cho cơ sở kinh doanh.
Hai là, NNT đƣợc Nhà nƣớc trả lại cho số thuế GTGT đã nộp thừa vì
những lí do nhất định , chẳng hạn nhƣ tính toán nhầm lẫn , kê khai sai hay kết
thúc hoạt động kinh doanh (giải thể , phá sản , chia tách , sáp nhập...). Trong
trƣờng hợp này , cơ sở kinh doanh đã nộp thuế nhiều hơn số thuế phải nộp
theo luật định nên họ có quyền yêu cầu hoàn lại số thuế nộp thừa.
Ba là, NNT đƣợc Nhà nƣớc trả lại với số thuế GTGT đã trả khi mua
hàng hóa, dịch vụ trong trƣờng hợp việc tiêu dùng của cá nhân, tổ chức không
thuộc diện chịu thuế hoặc hƣởng ƣu đãi (nhƣ ngƣời nƣớc ngoài mang hộ
chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nƣớc ngoài cấp đƣợc
hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam mang theo ngƣời khi xuất
cảnh). Trƣờng hợp này thể hiện việc Nhà nƣớc không thu thuế GTGT một đối
tƣợng tiêu dùng nào đó. Nếu việc không thu thuế vào những đối tƣợng này
thực hiện thông qua việc không thu vào ngƣời bán hàng để ngƣời bán hàng bán
cho ngƣời mua hàng với giá không thuế GTGT thì rất khó quản lý. Để đảm bảo
đúng đối tƣợng không thu thuế GTGT, Nhà nƣớc thực hiện hoàn thuế theo số

đề nghị hoàn thì cơ quan thuế phải thông báo cho ngƣời nộp thuế về việc hồ
sơ chƣa đủ điều kiện hoàn thuế. Cơ quan thuế thực hiện giải quyết hoàn thuế
khi có kết quả hoặc ý kiến của cơ quan công an hoặc của cơ quan có thẩm
quyền hoặc khi có đủ hồ sơ theo quy định.
Hoàn thuế GTGT có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo quyền cho
NNT và trong sự phát triển chung của nền kinh tế. Có thể thấy vai trò của việc
hoàn thuế GTGT đƣợc thể hiện nhƣ sau:
Thứ nhất, Hoàn thuế GTGT giúp phát huy tính tự giác của các chủ thể

15


nộp thuế. Bởi điều kiện để đƣợc hoàn thuế GTGT là chủ thể nộp thuế bắt
buộc phải thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ, ghi rõ thuế đầu vào, đầu
ra để CQNN có thẩm quyền làm căn cứ xét hoàn thuế. Do đó, hoàn thuế
GTGT đã góp phần hoàn thiện đội ngũ kế toán cho doanh nghiệp, thúc đẩy
các doanh nghiệp tự giác thực hiện đầy đủ các yêu cầu, thủ tục về thuế với cơ
quan có thẩm quyền.
Thứ hai, Hoàn thuế GTGT còn có thể tạm thời giúp đỡ các chủ thể nộp
thuế về mặt tài chính khi họ gặp khó khăn, nhất là đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, thƣờng xuyên gặp khó khăn về tài chính.
Thứ ba, Hoàn thuế GTGT góp phần khuyến khích hoạt động xuất khẩu
phát triển. Việc hoàn thuế đầu vào tức là hàng hóa xuất khẩu đƣợc hƣởng thuế
0%, việc này giúp tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nƣớc có thể cạnh
tranh với hàng hóa trên thị trƣờng quốc tế.
Thứ tư, Hoàn thuế GTGT còn có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh
nghiệp sử dụng vốn ODA , góp phần thúc đẩy thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài , giải
quyế t khó khăn cho các doanh nghiê ̣p . Viê ̣c đẩ y ma ̣nh thu hút vố n đã thể hiê ̣n
vai trò của hoàn thuế GTGT nói riêng , thuế GTGT nói chung trong tiế n triǹ h
hô ̣i nhâ ̣p thế giới.

cƣ nhằm nâng cao nhận thức chung của xã hội về pháp luật thuế và nâng cao
ý thức tự giác tuân thủ pháp luật thuế cũng nhƣ hiệu quả hoạt động quản lý
thu thuế của nhà nƣớc. Bên cạnh công tác tuyên truyền về thuế, cơ quan quản
lý thuế còn phải cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ NNT. Hỗ trợ NNT là sự
giúp thêm cho NNT hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu kịp thời các quy định của pháp
luật về thuế, đồng thời giúp cho NNT thành thục các kỹ năng tính thuế, khai
thuế và làm các thủ tục liên quan đến việc nộp thuế, quyết toán thuế. Nói một
cách khác, hỗ trợ NNT là công tác hƣớng dẫn cụ thể các Luật Thuế, cung cấp
và giải đáp vƣớng mắc về thủ tục và nội dung các sắc thuế cho NNT để họ
tuân thủ và thực hiện các chính sách thuế của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ.
Đối với Luật thuế GTGT, đặc biệt là khấu trừ và hoàn thuế các cơ quan

17


thuế cần phải tuyên truyền, giải thích chính sách, tập huấn, hƣớng dẫn phƣơng
pháp khấu trừ và quy trình hoàn thuế cho NNT; niêm yết các thủ tục, quy
trình hoàn thuế tại trụ sở và trang thông tin điện tử, thƣờng xuyên cập nhật
các quy định mới về khấu trừ, hoàn thuế để NNT có thể thực hiện đúng, nắm
bắt đƣợc thủ tục khấu trừ, hoàn thuế GTGT. Từ việc tiếp cận thông tin một
cách chuẩn xác, NNT có thể bảo đảm quyền của mình một cách tốt nhất, tránh
những sai sót và mất quyền lợi không đáng có.
1.3.2. Quyền của người nộp thuế trong các cuộc kiểm tra, thanh tra
khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng
Không phải mọi trƣờng hợp, kiểm tra thuế, thanh tra thuế có các căn cứ
chính xác về vi phạm của NNT. Nếu tiến hành kiểm tra, thanh tra không dựa
trên cơ sở pháp luật sẽ dẫn đến hạn chế quyền của NNT. Luật Quản lý thuế
quy định về nguyên tắc, hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế không đƣợc cản
trở hoạt động bình thƣờng của cơ quan, tổ chức, cá nhân NNT [18].
Trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT; cơ quan thuế tiến hành kiểm tra hồ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status