Bảo vệ môi trường trong khai thác than ở quảng ninh - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
________________________________________

NGUYỄN THỊ HUỆ

BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TRONG KHAI THÁC THAN Ở QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
________________________________________

NGUYỄN THỊ HUỆ

BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TRONG KHAI THÁC THAN Ở QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. CHU VĂN CẤP

HÀ NỘI - 2017


1.2. Phương pháp nghiên cứu đề tài

18
19

1.2.1. Phương pháp tiếp cận

19

1.2.2. Phương pháp nghiên cứu

21

Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƢỜNG TRONG KHAI THÁC THAN

2.1. Lý luận về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản - than

28
28

2.1.1. Khai thác than trong điều kiện kinh tế thị trường

28

2.1.2. Những nội dung bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản - than

40

2.1.3. Các tiêu chí đánh giá về bảo vệ môi trường trong khai thác than


65

3.1.2. Tác động của khai thác than đến môi trường ở Quảng Ninh

72

3.2. Thực trạng bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh

92

3.2.1. Thực trạng và đánh giá thực trạng bảo vệ môi trường trong khai

92


thác than theo một số nội dung cụ thể
3.2.2. Đánh giá khái quát thực trạng bảo vệ môi trường trong khai thác
than ở Quảng Ninh

107

Chƣơng 4: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM
BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG KHAI THÁC THAN Ở
QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN ĐẾN NĂM 2020, TẦM
NHÌN ĐẾN NĂM 2025

116

4.1. Bối cảnh, mục tiêu và quan điểm định hướng bảo vệ môi trường trong

136
139

4.2.5. Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền và đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp ngành than trong
bảo vệ môi trường
KẾT LUẬN

142
148

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN

151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

152

PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH

:

Biến đổi khí hậu


HĐKS

:

Hoạt động khoáng sản

HĐKT

:

Hoạt động khai thác

IUCN

:

Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Thế giới

KH-CN

:

Khoa học - Công nghệ

KTKS

:

Khai thác khoáng sản


PTKT

:

Phát triển kinh tế

PTKTX

:

Phát triển kinh tế xanh

PTKT-XH

:

Phát triển kinh tế - xã hội

QLNN

:

Quản lý nhà nước

QMT TKV

:

Quỹ môi trường ngành than


UNEP

:

Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc

USD

:

Đồng Đô la Mỹ

XDCB

:

Xây dựng cơ bản

WWF

:

Quỹ bảo tồn thiên nhiên Thế giới


DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Trang
Bảng 3.1: Tổng khối lượng đất đá đổ thải của các mỏ than lộ thiên theo
từng khu vực và giai đoạn



1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống là những vấn đề quan trọng nằm trong chiến
lược phát triển bền vững của toàn nhân loại, cũng như của tất cả các quốc gia, dân
tộc. Vấn đề này trở nên cấp thiết khi mà các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên toàn
thế giới đang dần bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nặng nề, dẫn đến nguy cơ
khủng hoảng sinh thái và biến đổi khí hậu toàn cầu. Do đó, vấn đề khai thác và sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế là
mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới cho đến nay, kinh tế xã hội
phát triển nhanh góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển để bước
vào hàng ngũ các nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Song, mặt
trái của sự phát triển là tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô
nhiễm nặng nề… để lại những hậu quả xấu đối với con người và là rào cản sự phát
triển kinh tế xã hội. Vì thế Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định bảo vệ môi
trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối
với hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân. Và phải "nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế
xã hội… đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án" [29, tr.136]. Vậy là, bảo vệ
tài nguyên môi trường trong quá trình phát triển kinh tế xã hội là tất yếu và là một
nội dung cốt lõi của chiến lược phát triển bền vững.
Quảng Ninh là tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc Tổ quốc, là tỉnh miền núi - duyên
hải, hơn 80% diện tích đất đai là đồi, núi, giàu tiềm năng phát triển du lịch; tài
nguyên thiên nhiên (khoáng sản) đa dạng, trong đó, than đá - Tài nguyên khoáng
sản không tái tạo lớn nhất nước, chiếm 90% sản lượng than của cả nước. Theo tính

lịch, dịch vụ trên cùng một địa bàn…Vậy, có những giải pháp nào để gắn khai thác
than với bảo vệ môi trường (BVMT)?
Để góp phần trả lời những câu hỏi này, vấn đề "Bảo vệ môi trường trong
khai thác than ở Quảng Ninh" được chọn làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên
ngành kinh tế chính trị, của tác giả.


3
Nghiên cứu đề tài này nhằm trả lời các câu hỏi:
 Mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa BVMT và khai thác than là như
thế nào?
 Bảo vệ môi trường khai thác than là như thế nào?
 Thực trạng của môi trường và BVMT trong khai thác than ở Quảng Ninh
ra sao?
 Giải pháp nào để BVMT trong khai thác than nhằm đảm bảo phát triển bền
vững ở Quảng Ninh trong thời gian đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích của luận án
Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về BVMT trong khai thác than ở
Quảng Ninh; đánh giá tình hình BVMT trong khai thác than trong quá trình phát
triển kinh tế ở tỉnh Quảng Ninh thời gian qua và đề xuất quan điểm, các giải pháp
gắn kết BVMT với khai thác than nhằm phát triển bền vững ở tỉnh Quảng Ninh.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
1) Tổng quan và làm rõ những vấn đề lý luận về BVMT trong khai thác than.
2) Đánh giá thực trạng BVMT trong khai thác than ở Quảng Ninh thời gian
từ 2001-2015.
3) Đề xuất quan điểm và các giải pháp gắn kết BVMT trong khai thác than
để góp phần phát triển bền vững ở Quảng Ninh thời gian tới năm 2025.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

trường và BVMT trong KTKS than…
5. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài;
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ môi trường trong
khai thác than;
Chương 3: Thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường trong khai thác than
ở Quảng Ninh thời gian 2001-2015;
Chương 4: Những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm bảo vệ môi trường
trong khai thác than ở Quảng Ninh, giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến 2025.
Kết luận.
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục.


5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1.1. Các nghiên cứu về vấn đề môi trƣờng và khai thác than
Vấn đề môi trường và BVMT nói chung, BVMT trong hoạt động khoáng sản
than nói riêng được nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học và cán bộ hoạt động thực
tiễn quan tâm nghiên cứu.
Tác giả luận án tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
theo ba nhóm vấn đề dưới đây:
(1) Các nghiên cứu về môi trường và BVMT nói chung.
(2) Những nghiên cứu về KTKS (có khai thác than) và vấn đề môi trường.
(3) Khai thác than và vấn đề BVMT.

- Là không gian sống của con người và sinh vật.
- Là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người. Tất cả các loại
tài nguyên đều do môi trường cung cấp và giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ khan
hiếm và giá trị của nó trong xã hội.
- Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong
quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường. Tuy nhiên, chức năng là nơi
chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn.
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con
người và sinh vật trên trái đất.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
* Vai trò của môi trường:
Thứ nhất, môi trường không chỉ cung cấp "đầu vào" mà còn chứa đựng "đầu
ra" cho các quá trình sản xuất và đời sống.
Các yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm: đất, nước, không khí... sinh
vật và các yếu tố vật chất khác là đầu vào của sản xuất và đời sống. Môi trường tự
nhiên lại là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của các quá trình sản xuất và đời
sống. Quá trình sản xuất thải ra môi trường nhiều chất thải (khí thải, nước thải, chất
thải rắn). Trong các chất thải này có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái
hoặc gây ra sự cố môi trường. Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người


7
cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải. Những chất thải này nếu không được xử
lý tốt đúng quy trình kỹ thuật thì cũng sẽ gây ONMT nghiêm trọng.
Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự PTKT-XH.
Phát triển KT-XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh
thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội,
nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như
của toàn nhân loại trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối
quan hệ chặt chẽ. Môi trường là địa bàn và là đối tượng của sự phát triển, còn phát

triển bền vững trong chiến lược phát triển KT-XH của Việt Nam, giai đoạn 2011 2020'', Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 4 (14), tháng 5, 6 (2012); Chu Văn Cấp Nguyễn Thị Minh Tân (2012), ''Phát triển xanh xu hướng tất yếu của thế giới trong
bối cảnh khủng hoảng kinh tế và môi trường sinh thái toàn cầu'', Tạp chí Khoa học
chính trị, (5)/2012; Nguyễn Thế Chinh (25-10-2014), ''Sự chuyển đổi tích cực
phương thức phát triển từ "nâu" sang "xanh"'', Hồ sơ sự kiện, chuyên san của Tạp
chí Cộng sản, (289), tr.12-14; Trương Quang Học (2011), ''Phát triển bền vững Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ 21'', Bài phát biểu ở Hội nghị khoa học về
phát triển bền vững; Vũ Thành Hưởng (2011), ''Thực trạng và giải pháp cơ bản cho
phát triển bền vững ở Việt Nam đến năm 2020'', Tạp chí Kinh tế và Phát triển,
(172)/II, tháng 10; Trương Mạnh Tiến (2002), ''Tăng cường hoạt động QLNN về
BVMT'', Tạp chí Quản lý nhà nước, (11)…
Các công trình nghiên cứu nêu trên, đều cho rằng:
Bảo vệ môi trường là những hành động có ý thức nhằm giữ gìn và ổn định môi
trường trong sự PTBV và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo khoản 3 điều 3 luật
BVMT (2014) của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ''Hoạt động bảo vệ môi trường
là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó
sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai
thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành".
Để BVMT, theo điều 7 Luật BVMT ở Việt Nam nghiêm cấm các hành vi: …
KTKS một cách bừa bãi, gây hủy hoại môi trường làm mất cân bằng sinh thái. Thải
khói, bụi, khí độc vào không khí, phát phóng xạ, bức xạ quá mức cho phép vào môi
trường xung quanh; thải dầu, mỡ, chất độc hại… chôn vùi, thải vào đất các chất độc
hại quá giới hạn cho phép…; nhập khẩu thiết bị, công nghệ không đáp ứng tiêu
chuẩn môi trường, nhập khẩu, xuất khẩu chất thải…


9
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm BVMT, thi hành pháp luật về BVMT, đồng thời có quyền và có trách nhiệm
phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật BVMT.
Việc nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp để hạn chế sự suy giảm ONMT ngày
càng trở lên cấp bách hơn đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng


11
kinh tế và môi trường và những nội dung cơ bản của quản lý môi trường phù hợp
với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và xu hướng biến đổi môi trường toàn cầu.
Tác giả luận án sẽ kế thừa và nghiên cứu có sự chọn lọc các kết quả nghiên
cứu này trong quá trình thực thi luận án của mình.
Vấn đề TNKS được đề cập trong một số công trình nghiên cứu sau đây:
(1)- Lê Huy Bá (2002), "Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững", đã
trình bày các nguồn tài nguyên thiên nhiên; mối quan hệ giữa khai thác và sử dụng
tài nguyên thiên nhiên với BVMT nhằm đảm bảo sự PTBV.
(2)- Trần Văn Chử (2004), "Tài nguyên thiên nhiên môi trường với sự tăng
trưởng và PTBV ở Việt Nam". Tác giả cuốn sách đã trình bày làm rõ tài nguyên
thiên nhiên (có khoáng sản) là yếu tố không thể thiếu trong quá trình TTKT, là yếu
tố đầu vào quan trọng của TTKT; nhưng phải khai thác và sử dụng hợp lý tài
nguyên đáp ứng nhu cầu của TTKT; các nguyên tắc và điều kiện kết hợp khai thác,
sử dụng tài nguyên, môi trường và PTBV.
(3)- Nguyễn Quốc Hùng (2010), "Sự tụt dốc của mô hình tăng trưởng kinh tế
dựa vào khai thác tài nguyên gây tác hại cho môi trường". Tác giả đã nói rõ những
bất cập do khai thác tài nguyên bất hợp lý và cho rằng mô hình TTKT dựa vào khai
thác tài nguyên không còn phù hợp cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới - tăng
trưởng gắn với PTBV.

 Khai thác khoáng sản (than) và vấn đề môi trường
Các công trình nghiên cứu về KTKS - than đã chỉ rõ:
Hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động thăm dò và hoạt động khai thác
(HĐKT) khoáng sản (XDCB mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các HĐKT có
liên quan).
Khai thác khoáng sản (trong đó có than) là quá trình con người bằng phương pháp
KTLT hay hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ quá trình phát triển KT-XH.
Quá trình khai thác thường qua 3 bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa

mô rộng lớn, với số lượng khai thác nhiều, thời gian hoạt động dài và thường phải
sử dụng nhiều phương tiện và hóa chất trợ giúp.
 Khai thác khoáng sản (có than) và vấn đề môi trường.
Hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động thăm dò và HĐKT khoáng sản
(XDCB mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các HĐKT có liên quan).
Khai thác khoáng sản (có than) là quá trình con người bằng phương pháp
KTLT hay hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ quá trình phát triển KT-XH.
Quá trình khai thác thường qua 3 bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa
mỏ. Tất cả các công đoạn khai thác đều tác động đến tài nguyên và môi trường.


13
Phương thức khai thác than chủ yếu là KTLT và khai thác hầm lò:
- Mô hình công nghệ KTLT: khoan, bốc xúc, vận chuyển - sàng tuyển, chế
biến - vận chuyển đến nơi tiêu thụ.
Công nghệ khai thác than lộ thiên bao gồm các khâu: phá vỡ đất đá, xúc bốc
- vận tải - đổ thải đất đá. Ngoài ra, trong quá trình KTLT còn có các khâu phụ trợ
khác như: Thoát nước, làm đường, sửa chữa thiết bị...
Tất cả các khâu công nghệ trong khai thác than lộ thiên đều chứa đựng
những yếu tố ảnh hưởng xấu đến môi trường, trong đó phải kể đến thay đổi bề mặt
địa hình, gậy bụi, ồn, làm ô nhiễm nguồn nước, không khí, vv...
- Mô hình khai thác hầm lò bao gồm: Đào lò chuẩn bị: khoan nổ mìn - bốc
xúc đất đá - chống đỡ lò bằng vật liệu thép, bê tông, gỗ... Khai thác than: khoan nổ chống đỡ bằng vì sắt, gỗ, giá thủy lực - khai thác, vận chuyển than nguyên khai
(bằng tàu điện, băng tải) - Vận chuyển, tiêu thụ than - Sàng tuyển, chế biến.
Trong khai thác than hầm lò cũng có các khâu khác phụ trợ như: thoát nước,
làm đường, sửa chữa thiết bị...
Phần lớn các khâu công nghệ trong khai thác hầm lò thực hiện trong các
đường dưới lòng đất nên mức độ, phạm vi ảnh hưởng tới môi trường thấp hơn so
với KTLT. Những yếu tố có khả năng tác động xấu đến môi trường chủ yếu làm
thay đổi mực nước ngầm, giảm nguồn tài nguyên nước, ảnh hưởng đến môi trường,

Những hoạt động của khai thác than là một trong những tác nhân chủ yếu
trong việc làm suy giảm môi trường như: ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể đến sự thu
hẹp diện tích đất đai canh tác và thảm thực vật, làm biến đổi các dòng chảy đầu
nguồn cũng như chất lượng của nguồn nước ngầm và nước mặt, gây ồn và bụi, gây
chấn động nền móng công trình, phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, tác động xấu vào
tính đa dạng sinh học của môi trường tự nhiên… Quá trình khai thác mỏ phục vụ
cho lợi ích của mình, con người làm thay đổi môi trường xung quanh. Hoạt động
của các mỏ khai thác than đã phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái tự nhiên đã hình
thành từ hàng tỷ năm, gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường và ngày càng
trở nên vấn đề cấp bách, mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng.
Sự đào bới bề mặt đất đai của các mỏ KTLT và khai thác than trong lòng của
các mỏ khai thác hầm lò đã phá vỡ các cảnh quan và địa mạo nguyên thủy của khu
vực Quảng Ninh, gây ra những xáo trộn về dòng chảy và chế độ thủy văn đầu
nguồn, tổn hại đến rừng phòng hộ, thay đổi địa hình khu vực... Khai trường, bãi


15
thải, các công trình phụ trợ (mặt bằng công nghiệp, kho tàng, nhà xưởng, đường
giao thông,...) của các mỏ đã chiếm dụng một diện tích khá lớn làm thu hẹp thảm
thực vật, diện tích cây trồng. Điều này không chỉ gây ảnh hưởng làm thay đổi khí
hậu toàn vùng mà còn làm ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học của môi trường.
Đặc điểm của khai thác than đặc biệt là KTLT phải di rời khối đất đá thải rất lớn,
gấp hàng chục lần khối lượng khoáng sản thu hồi. Khối lượng đất đá này đã gây hậu
quả làm bồi lấp sông suối, sa mạc hóa đất đai canh tác vùng hạ lưu, phá hủy công
trình đường sá, cầu cống lân cận (điển hình là các bãi thải Đông Nam Đèo Nai, Tây
Nam Cọc Sáu - Quảng Ninh).
Nước ngầm từ mỏ thoát ra kết hợp với nước mặt hòa tan hoặc kéo theo các
chất độc hại, các kim loại nặng... trong đất đá mỏ, xả xuống hạ nguồn gây tác động
tiêu cực đến môi trường nước. Hoạt động của các khâu sản xuất như khoan nổ mìn,
xúc bốc, vận tải đổ thải... đều gây bụi và phát thải các khí độc hay khí nhà kính vào

nguyên môi trường trong khai thác than còn hạn chế; khai thác than, đổ thải gây ô
nhiễm ở một số địa bàn trong tỉnh Quảng Ninh.
1.1.1.3. Khai thác than và vấn đề bảo vệ môi trường
Khai thác than gắn với BVMT là một chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta. Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này là:
(1)- Nguyễn Cảnh Nam (2013), Khai thác, chế biến than gắn với bảo vệ môi
trường, Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam, đã tập trung nghiên
cứu, phân tích và xây dựng mô hình bố trí các khu công nghiệp khai thác than, đặc
biệt là các tuyến đường vận chuyển than từ nơi khai thác đến các nơi tập kết sao cho
ô nhiễm bụi, không khí, tiếng ồn không ảnh hưởng đến đời sống người dân.
(2)- Võ Kim Chi, trong bài viết "Phát triển bền vững và BVMT khai thác
than - khoáng sản" đã làm rõ HĐKT khoáng sản cần phải dựa trên nền tảng của sự
PTBV như kinh tế phát triển đồng hành cùng với đời sống xã hội và môi trường tự
nhiên cùng phát triển, không được đánh đổi một trong những điều nói trên.
(3)- Nguyễn Cảnh Nam (2006), Bàn về giải pháp khai thác than và bảo vệ
môi trường tại Quảng Ninh, Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam, đã
đi sâu vào việc xây dựng một cơ chế quản lý, cơ chế chính sách cho HĐKT than để
cho những HĐKT luôn nằm trong tầm kiểm soát của các nhà quản lý. Không cho
các HĐKT trộm phát triển và môi trường không bị hủy hoại một cách nhanh chóng
do các hoạt động này gây ra.


17
(4)- Nguyễn Cảnh Nam (2013), Sản xuất than hướng đến ngành công nghiệp
xanh, Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam, đã nghiên cứu việc áp
dụng công nghệ tiên tiến của thế giới vào ngành khai thác than tại Việt Nam sao cho
phù hợp. Bên cạnh đó, cũng hướng ngành công nghiệp này phải phát triển theo
hướng thân thiện với môi trường.
(5)- Trần Minh Huân (02-07-2012), "Khai thác khoáng sản bền vững ở một
số nước", Trang thông tin điện tử của Trung tâm môi trường công nghiệp. Bài viết

vùng Hòn Gai - Cẩm Phả'', Luận án tiến sĩ kỹ thuật, trường Đại học Mỏ - Địa chất,
Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Ngân(2012), Nghiên cứu áp dụng công cụ kinh tế cho
quản lý môi trường trong khai thác than vùng Quảng Ninh, Luận án tiến sĩ kinh tế,
trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội.
(9)- Nguyễn Sơn Hải (2014), ''Đổi mới khai thác hầm lò - xu hướng tất yếu
của ngành than'', Đại biểu nhân dân, 01-04-2014; ''Quảng Ninh và hành trình từ
"nâu" sang "xanh"'', Chuyên san của Tạp chí Cộng sản, (289), 25-10-2017, tr.7-11;
''Khai thác hầm lò, hướng PTBV của ngành than'', Năng lượng mới, (350).
Các công trình nghiên cứu trên rút ra các kết quả nghiên cứu về các biện
pháp BVMT trong khai thác than, có thể khái quát như sau:
- Quy hoạch vùng khai thác và ĐTM của các dự án, kế hoạch khai thác.
- Sử dụng các công cụ kinh tế, tài chính... thực hiện có hiệu quả Luật Khoáng
sản, 2010.
- Quy hoạch, thống nhất sử dụng các nguồn TNKS và BVMT.
- Tăng đầu tư cho phục hồi, cải tạo, tái tạo mỏ và BVMT sinh thái ở các địa
bàn khai thác.
- Đổi mới công nghệ khai thác, sàng tuyển, chế biến để tận thu TNKS và BVMT.
Hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường trong KTKS ở Việt Nam đòi hỏi
phải quan tâm đến các khía cạnh: hạn chế tổn thất tài nguyên và tác động tiêu cực
đến môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác chế biến, điều tra quy hoạch và
chế biến khoáng sản...; đầu tư kinh phí xử lý chất ô nhiễm phát sinh trong quá trình
khai thác và sử dụng khoáng sản...
1.1.2. Rút ra những kết quả nghiên cứu và những "khoảng trống" cần
tiếp tục nghiên cứu
1.1.2.1. Những kết quả về phương diện lý luận
Các công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ:
- Khái niệm môi trường và chức năng của môi trường, vai trò của môi trường
trong đời sống xã hội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status