I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
BI TH THU
Pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm
trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản
ở Việt Nam
Chuyờn ngnh : Lut kinh t
Mó s
: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Quang Tuyn
H NI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích
dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để cho tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
NGƯỜI CAM ĐOAN
1.2.2. Phân loại vi phạm hành chính trong kinh doanh bất động sản ........ 22
1.2.3. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong kinh doanh bất động sản
......................................................................................................................... 23
1.2.4. Tính cấp thiết trong việc xử lý vi phạm hành chính trong kinh doanh
bất động sản .................................................................................................... 26
1.3. Khái niệm, đặc điểm, vai trò pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm
trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản ..................................................... 28
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm
trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản ....................................................... 28
1.3.2. Vai trò của pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh
doanh bất động sản ở Việt Nam .................................................................... 30
1.3.3. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm trong
lĩnh vực kinh doanh bất động sản ................................................................. 32
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 34
Chương 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA,
XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN
TẠI VIỆT NAM ............................................................................................ 35
2.1. Nội dung pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh
doanh bất động sản ....................................................................................... 35
2.1.1. Nội dung pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực kinh doanh bất động
sản ................................................................................................................... 35
2.1.2. Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản 52
2.1.3.Thực trạng pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh
doanh bất động sản ở Việt Nam .................................................................... 62
2.2. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm
trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản ..................................................... 65
2.2.1. Những kết quả đạt được ...................................................................... 65
2.2.2. Những tồn tại, khiếm khuyết trong thực thi pháp luật về xử lý vi
KDBĐS : Kinh doanh bất động sản
VPHC
: Vi phạm hành chính
UBND
: Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh tra, xử lý vi phạm trong kinh doanh bất động sản (KDBĐS) là
một chế định cơ bản của pháp luật KDBĐS. Chế định này ra đời góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực KDBĐS. Bởi lẽ, KDBĐS
là loại hình kinh doanh phổ biến và không thể thiếu được trong nền kinh tế thị
trường. Loại hình kinh doanh này thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư trong
và ngoài nước bởi tính hấp dẫn của tỷ suất lợi nhuận/đồng vốn đầu tư. Mặt
khác, do những yếu kém trong quản lý nhà nước về KDBĐS nên lĩnh vực này
còn nhiều dư địa để đầu tư kinh doanh. Trên thực tế, không phải bất cứ tổ
chức, cá nhân nào khi đầu tư KDBĐS cũng đều tự giác tuân thủ pháp luật.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, dưới tác động của các quy luật
khách quan của thị trường thì bất động sản (BĐS) ngày càng trở lên có giá trị;
nên một bộ phận không nhỏ chủ đầu tư KDBĐS sẵn sàng vi phạm pháp luật
miễn sao thu được càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Các quy định về thanh tra,
xử lý vi phạm trong lĩnh vực KDBĐS đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu, tìm
hiểu của giới khoa học pháp lý nước ta. Thời gian qua đã có nhiều công trình
khoa học về vấn đề này được công bố với một số giải pháp góp phần hoàn
thiện chế định pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực KDBĐS.
Những giải pháp này đã được tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung các
đề này nên đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như:
i) Hoàng Xuân Hoan - Nguyễn Trí Hòa (1993), Pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; ii) Đặng Thanh Sơn - Hà Thị Nga
(1996), Hỏi đáp về Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; iii) Phạm Dũng - Hoàng Sao (1998), Tìm hiểu về xử phạt vi
phạm hành chính, Nxb Pháp lý, Hà Nội; iv) Vũ Thư (2000), Chế tài hành
chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; v) Bùi Minh
Thanh (2003), Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính
2
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; vi) Lê Nguyễn Nam Ninh (2004), Vi phạm
pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải quan và giải pháp xử lý, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội; vii) Đỗ Thị Phương
(2005), Vi phạm hành chính về đất đai ở Thái Bình - Thực trạng và giải pháp
khắc phục, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội v.v... Hoặc có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài luận văn như: viii) Lê Đình Thắng (2004), Quản lý nhà nước về thị
trường bất động sản, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 4; ix) Nguyễn Quang
Tuyến - Nguyễn Thị Nga (2011), Pháp luật môi giới bất động sản ở Việt Nam
và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 6; x) Phạm Thị Trang (2012),
Pháp luật về môi giới bất động sản, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội; xi) Nguyễn Lan Anh (2016), Pháp luật về xử lý Luận văn
thạc sĩ luật học trong lĩnh vực đất đai, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội; xii) Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật
Hành chính, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; xiii) Trần Quang Huy và
Nguyễn Quang Tuyến (chủ biên) (2009), Pháp luật về kinh doanh bất động
sản, Nxb Tư pháp, Hà Nội v.v...
iii) Tìm hiểu hậu quả của VPHC trong lĩnh vực KDBĐS.
iv) Phân tích ý nghĩa, vai trò của thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS.
v) Phân tích khái niệm và đặc điểm của xử lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS.
vi) Mục đích, ý nghĩa, nguyên tắc và các hình thức xử lý VPHC trong
lĩnh vực KDBĐS.
v) Phân tích khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thanh tra, xử lý
VPHC trong lĩnh vực KDBĐS.
vi) Cơ sở ra đời pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS.
vii) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thanh tra, xử lý
VPHC trong lĩnh vực KDBĐS v.v...
- Đánh giá thực trạng pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh
vực KDBĐS và thực tiễn thi hành ở Việt Nam.
- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả thi hành pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS ở
Việt Nam.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật
về thanh tra, xử lý VPHC nói chung và pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC trong
lĩnh vực KDBĐS nói riêng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
- Các quy định của Luật xử phạt VPHC năm 2012 và các văn bản
hướng dẫn thi hành.
- Các quy định của Luật KDBĐS năm 2014 và các văn bản hướng dẫn
thi hành về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai.
- Các quy định của Luật thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn
thi hành về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai.
cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu...
được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu lý luận pháp luật về thanh tra, xử
lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS.
ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, phương pháp tổng hợp... được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực
trạng pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS và thực tiễn
thi hành tại Việt Nam.
iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn
giải… được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu định hướng và giải pháp
góp phần hoàn thiện pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh vực
KDBĐS và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Việt Nam.
6. Những kết quả nghiên cứu đạt được
Luận văn hoàn thành với những kết quả nghiên cứu đạt được cụ thể
như sau:
6
- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp
luật về thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS ở Việt Nam.
- Giải mã nội hàm khái niệm về thanh tra, xử lý VPHC nói chung và
thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS nói riêng; đồng thời chỉ ra
những đặc điểm của thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh vực KDBĐS.
- Tìm hiểu lịch sử phát triển của pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC
trong lĩnh vực KDBĐS qua các thời kỳ nhằm nhận diện sự phát triển tư duy
pháp lý của Nhà nước ta trong xây dựng và hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về thanh tra, xử lý VPHC trong lĩnh
Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) giải thích:
"Thanh tra nhà nước: Xem xét để làm rõ việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của cơ quan, tổ chức, cá nhân và việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền" [38, tr. 696].
Luật Thanh tra năm 2010 giải thích:
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự,
thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc
thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá
nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên
ngành [20, Khoản 1 Điều 3].
Từ các khái niệm trên đây, tác giả nhận thấy hoạt động thanh tra (hoạt
động thanh tra được đề cập trong luận văn được hiểu là thanh tra trong lĩnh
vực quản lý nhà nước và do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện) mang
một số đặc điểm chủ yếu sau đây: Một là, hoạt động thanh tra do cơ quan, tổ
8
chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước; hai là, hoạt động thanh tra được thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà
nước (quyền lực công); ba là, hoạt động thanh tra nhằm mục đích kiểm tra,
giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước
của đối tượng bị thanh tra và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ
quan, người có thẩm quyền; bốn là, hoạt động thanh tra phải tuân thủ các quy
định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung, quyền và nghĩa
vụ thanh tra v.v...
ii) Định nghĩa thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS
Thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS là một loại hình thanh tra chuyên
ngành của hoạt động thanh tra nói chung. Mặc dù, thanh tra trong lĩnh vực
KDBĐS được đề cập trong các quy định của Luật KDBĐS và trong các văn
KDBĐS; quy định về nguyên tắc, thời hiệu, thẩm quyền xử phạt VPHC trong
hoạt động KDBĐS; nội dung, phạm vi thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS v.v...
Thứ ba, phạm vi của hoạt động thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS được
khu trú vào việc thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về KDBĐS
(bao gồm hoạt động KDBĐS và hoạt động kinh doanh dịch vụ BĐS) và giám
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền trong
lĩnh vực KDBĐS.
Thứ tư, điểm khác biệt cơ bản giữa thanh tra chuyên ngành trong lĩnh
vực KDBĐS với thanh tra nhà nước là khi kết thúc việc thanh tra, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền không chỉ viết kết luận thanh tra và đề xuất giải pháp xử
lý với cơ quan quản lý nhà nước về KDBĐS khi mà trong quá trình thanh tra
khi phát hiện vi phạm họ còn có thẩm quyền xử lý như lập biên bản, xử phạt
hành chính, thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ BĐS, chứng chỉ môi giới
BĐS v.v... theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, người có thẩm quyền thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS không
chỉ am hiểu nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước nói chung mà còn phải hiểu biết và có kỹ năng vận dụng các
10
quy định của những đạo luật chuyên ngành như Luật thanh tra, Luật xây
dựng, Luật nhà ở, Luật đầu tư, Luật về xử phạt VPHC, Luật đất đai và Luật
KDBĐS v.v...
1.1.2. Mục đích của thanh tra trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản
Như phần trên đã đề cập, thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS là một loại
hình cụ thể của hoạt động thanh tra nói chung. Do vậy, mục đích của thanh tra
trong lĩnh vực KDBĐS cũng không nằm ngoài mục đích của hoạt động thanh
tra. Thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS hướng tới các mục đích cụ thể sau đây:
Một là, mục đích hoạt động thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS nhằm
phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về KDBĐS để
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong KDBĐS. Hoạt động thanh tra
phát hiện những bất cập, những "lỗ hổng" trong cơ chế, chính sách, pháp luật
về KDBĐS để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có các giải pháp
khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về KDBĐS. Mặt
khác, qua hoạt động này phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về
KDBĐS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá
nhân KDBĐS.
1.1.3. Nguyên tắc của hoạt động thanh tra trong lĩnh vực kinh doanh
bất động sản
Nguyên tắc của hoạt động thanh tra trong lĩnh vực kinh doanh BĐS là
nền tảng, kim chỉ nam định hướng, chi phối hoạt động của tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền trong thực hiện thanh tra về KDBĐS. Điều này có nghĩa là khi tiến
hành thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải
tuân theo các nguyên tắc do pháp luật quy định. Các nguyên tắc này bao gồm:
Thứ nhất, tuân theo pháp luật về KDBĐS và các quy định khác có liên
quan; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời.
Thanh tra là một hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật nhằm xem
xét tính hợp lý, sự phù hợp, tính khả thi và hiệu quả của pháp luật trên thực tế.
Để đạt được điều này, hoạt động thanh tra phải dựa trên quy định của pháp
12
luật; đối chiếu với các quy định của pháp luật để phát hiện hành vi vi phạm
pháp luật về KDBĐS. Vì vậy, thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS phải tuân theo
pháp luật về lĩnh vực này.
Tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời là
các yêu cầu cơ bản và không thể thiếu được của hoạt động thanh tra. Chỉ có
tuân thủ và thực hiện tốt các yêu cầu này thì mục đích của thanh tra trong lĩnh
vực KDBĐS mới đạt được.
Tính chính xác, khách quan, trung thực được hiểu là khi tiến hành thanh
tra không được gây cản trở đối với hoạt động bình thường của đối tượng
thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS; nghiêm cấm mọi hành vi gây phiền hà,
nhũng nhiễu, tiêu cực, tham nhũng trong quá trình thanh tra.
1.1.4. Hình thức thanh tra trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản
Trên thực tế, thanh tra nói chung và thanh tra trong lĩnh vực KDBĐS
được tiến hành theo các hình thức cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hoạt động thanh tra được thực hiện theo kế hoạch. Thanh tra
theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt. Theo hình
thức này, trước khi tiến hành thanh tra, cơ quan thanh tra phải xây dựng kế
hoạch thanh tra. Kế hoạch thanh tra phải thể hiện rõ mục đích, nội dung, thời
gian, địa điểm, đối tượng thanh tra, phạm vi thanh tra, thành viên đoàn thanh
tra và các điều kiện về vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc thanh tra. Sau
đó, kế hoạch thanh tra phải trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Căn cứ vào
bản kế hoạch này, hoạt động thanh tra sẽ được thực hiện theo đúng kế hoạch
đã được phê duyệt.
Thứ hai, thanh tra thường xuyên. Thanh tra thường xuyên được tiến
hành dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao
thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Hình thức thanh tra này là một
hoạt động của quản lý nhà nước về KDBĐS; giúp cơ quan quản lý nhà nước
về BĐS nắm được tình hình thực thi pháp luật về KDBĐS, số lượng các vụ
việc vi phạm cũng như những yếu kém, hạn chế trong quản lý nhà nước về
14
BĐS… Hình thức thanh tra này được tiến hành thường xuyên, liên tục do
thanh tra chuyên ngành của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng thực hiện.
Thứ ba, thanh tra đột xuất. Thanh tra đột xuất trong lĩnh vực KDBĐS
được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm
pháp luật về KDBĐS, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng,
chống tham nhũng trong lĩnh vực KDBĐS hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản
đủ sức giáo dục, răn đe. Hơn nữa, những vi phạm này không được Bộ luật
Hình sự năm 2015 quy định có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Thứ tư, hành vi vi phạm pháp luật bị áp dụng chế tài xử lý VPHC đối
với hoạt động KDBĐS. VPHC trong KDBĐS vừa có tính quy kết, tính xâm
hại và tính trái pháp luật. Tính quy kết thể hiện ở chỗ có VPHC thì phải bị xử
phạt hành chính theo quy định của pháp luật KDBĐS. Tính bị xử phạt hành
chính trong KDBĐS được biểu hiện thành nguy cơ của chủ thể vi phạm phải
gánh chịu hình thức xử phạt hành chính tương ứng. Nếu không có các hình thức
xử phạt hành chính tương ứng được quy định cụ thể thì không có biểu hiện
của tính xử phạt hành chính; do đó dẫn đến không có VPHC trong KDBĐS.
iii) Các yếu tố cấu thành VPHC trong KDBĐS
Để xác định một hành vi vi phạm có phải là VPHC trong KDBĐS hay
không, chúng ta cần dựa trên các yếu tố cấu thành VPHC trong KDBĐS. Điều
này có ý nghĩa trong nhận diện hành vi vi phạm và áp dụng pháp luật để xử lý
VPHC trong KDBĐS. Cấu thành VPHC trong KDBĐS bao gồm 04 yếu tố cơ
bản sau đây:
Một là, về mặt khách quan.
Vi phạm hành chính trong KDBĐS trước hết là hành vi vi phạm pháp
luật về KDBĐS.
Khoa học pháp lý nước ta quan niệm, mặt khách quan của vi phạm
pháp luật là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, bao gồm hành
vi trái pháp luật, hậu quả của hành vi đó, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
trái pháp luật và hậu quả, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm.
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của VPHC trong KDBĐS là
hành vi VPHC về KDBĐS. Nói cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực
18
hiện là hành vi xâm phạm các quy định của pháp luật về KDBĐS và bị pháp
luật về KDBĐS ngăn cấm. Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ ràng trong các