SKKN Sử dụng thơ – văn để tạo sự hứng thú cho học sinh trong giờ học Lịch sử Việt Nam lớp 11 - Pdf 47

1

MỤC LỤC
Trang
Mục lục

1

Phần 1 : MỞ ĐẦU

2

1. Lý do chọn đề tài

2

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3

4. Phương pháp nghiên cứu

3

5. Điểm mới của đề tài

3


13

Tài liệu tham khảo

14

Phụ lục

15

Giáo án tham khảo

15

Danh sách học sinh và điểm số chứng minh

22


2

Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, dạy và học lịch sử đang thu hút sự quan tâm chú ý
của toàn xã hội. Trước sự quan tâm ấy , chúng tôi – những giáo viên dạy môn lịch
luôn trăn trở về việc dạy của mình. Làm sao để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử,
làm sao để các em yêu thích môn lịch sử và học môn lịch sử ngày càng có hiệu quả
hơn.
Là môn học có nhiều ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng tình cảm đối với thế


3

Qua việc nghiên cứu đề tài bản tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ về
phương pháp dạy học lịch sử nhằm tăng cường sự hứng thú của học sinh trong giờ
học lịch sử. Đồng thời qua đề tài sẽ giúp chúng ta xác định được những nội dung văn
thơ nào có thể và cần sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu việc “Sử dụng thơ – văn để tạo sự hứng thú cho học
sinh trong giờ học Lịch sử Việt Nam lớp 11”. Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng
cho đề tài này là lớp 11a4 và 11a10 của trường THPT Trần Văn Bảy.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng học môn lịch sử của học sinh.
- Khảo sát kiến thức Lịch sử của học sinh thông qua bài kiểm tra.
- Sưu tầm tư liệu về thơ – văn có liên quan đến những nội dung, sự kiện, nhân
vật lịch sử.
- Áp dụng các nội dung sưu tầm tương ứng, phù hợp với từng tiết dạy Lịch sử.
- Đánh giá kết quả thực hiện qua các bài kiểm tra.
5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Trong những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa ra ý tưởng dạy học liên
môn và việc dạy này đã được áp dụng ở một số nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, dạy học
liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng. Tuy nhiên việc áp dụng cụ thể
trong từng môn học, trong từng bài học thì vẫn còn lẻ tẻ, rời rạc. Đề tài sáng kiến kinh
nghiệm: “Sử dụng thơ – văn để tạo sự hứng thú cho học sinh trong giờ học Lịch
sử Việt Nam lớp 11” sẽ góp một phần nhỏ vào việc hệ thống lại những mảnh rời rạc
ấy, tìm tòi nội dung giao thoa giữa các môn học, bổ sung cho nhau, làm sáng tỏ hơn
những kiến thức mà học sinh được học trong mỗi môn. Áp dụng việc dạy học liên
môn sẽ nâng cao chất lượng học tập và làm tăng thêm hiệu quả dạy học lịch sử.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã có nhiều thuận lợi và cũng gặp không ít
khó khăn do sự chi phối của công việc, đặc biệt là ở một số nội dung, nguồn tư liệu

được điều đó chúng ta phải dạy cho học sinh hiểu biết những sự kiện lịch sử, những
qui luật lịch sử qua các thời đại. Dạy lịch sử tốt sẽ cho các em học sinh say mê với
dân tộc, say mê và tự hào về những giá trị truyền thống của dân tộc.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Trường THPT Trần Văn Bảy tọa lạc cạnh quốc lộ 1A, trường được trang bị cơ
sở vật chất khá đầy đủ và khang trang, tuy nhiên một số phương tiện dạy học còn hạn
chế, nhất là đối với các môn xã hội. Bên cạnh đó, nhiều học sinh nhà xa hoặc có hoàn
cảnh gia đình khó khăn nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc học tập. Mặc dù vậy
nhưng thầy và trò trường THPT Trần Văn Bảy đã không ngừng phấn đấu vươn lên và
đã đạt được nhiều thành tích trong thời gian qua.
Ở trường, trong việc dạy học nói chung, mỗi người giáo viên đều rất quan tâm
đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh về chính bộ môn mình phụ trách.Đại đa số
giáo viên đều cố gắng tìm hiểu đưa ra những phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp dạy học: Nêu vấn đề, giải


5

quyết vấn đề, thảo luận nhóm, trực quan, lập niên biểu, vấn đáp,… Thông qua trình
bày sinh động giàu hình ảnh của giáo viên trong tường thuật, miêu tả, kể chuyện hoặc
nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử; giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh trao đổi,
thảo luận nhóm, so sánh, giải thích một cách tích cực. Giúp học sinh dễ dàng nắm bắt
kiến thức, hiểu sâu hơn về bản chất, vai trò và ý nghĩa của sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Trong quá trình giảng dạy giáo viên đã kết hợp các đồ dùng dạy học, khai thác một
cách triệt để các đồ dùng và phương tiện dạy học như: tranh ảnh, bản đồ, lược đồ
SGK, hiện vật, phim đèn chiếu,…từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học lịch sử.
Riêng đối với môn Lịch sử, mặt dù có vai trò, chức năng, nhiệm vụ quan trọng
trong giáo dục thế hệ trẻ nhưng hiện nay việc dạy học lịch sử chưa hoàn thành đầy đủ
hết vai trò của mình và một thực tế đáng buồn là nhiều học sinh không thích học môn

01(3.4%)

13(43.3%)

Điểm TB

Điểm dưới TB

9(29%)

06(19.4%)

13(43.3%)

03(10%)

Theo bảng thống kê trên thì tỉ lệ học sinh có điểm dưới trung bình còn cao, nhất
là ở lớp 11a4 có đến 19,4% học sinh đạt điểm dưới trung bình.
Những bộ môn lân cận sẽ làm phong phú tri thức học sinh về bộ môn Lịch sử
và chính bộ môn Lịch sử sẽ hỗ trợ cho các bộ môn láng giềng khác. Người giáo viên
Lịch sử cần quan tâm tới sự tác động lẫn nhau của các môn học.


6

Qua thực tế trên, tôi nhận thấy rằng sự mâu thuẫn giữa nhận thức là môn học
Lịch sử bổ ích cho kiến thức người học nhưng các em lại không thích học.
Từ đó, để việc dạy học môn lịch sử đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã mạnh dạn cải
tiến nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học bằng việc áp
dụng các phương pháp dạy học, trong đó việc “Sử dụng thơ – văn để tạo sự hứng

kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ví dụ như truyện Thánh Gióng, qua câu
chuyện ta xác định được những yếu tố hiện thực của lịch sử là thời Hùng Vương thứ 6
(tương ứng với thời nhà Ân ở Trung Quốc), đồ sắt phát triển với vũ khí công cụ dùng
đều bằng sắt (nón sắt, giáp sắt, gậy sắt, ngựa sắt), đồng thời nêu cao truyền thống


7

đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ (cả làng góp gạo thổi cơm cho Gióng
ăn) hay Sơn Tinh – Thủy Tinh là biểu tượng đoàn kết, đồng lòng của dân tộc ta đắp đê
chống bão, lũ lụt đặc trưng rất rõ của cư dân trồng lúa nước của nhân dân ta trong
buổi đầu lịch sử vừa dựng nước và giữ nước.
TK XVI – XVIII, thể loại văn học dân gian phát triển, các tác phẩm đã kích chế
sự thối nát và lạc hậu của chế độ phong kiến đồng thời nói lên mơ ước của người dân
có cuộc sống tốt đẹp hơn. Chẳng hạn như truyện “Trê Cóc”, một câu chuyện ngụ
ngôn chủ ý bày tỏ cái thói "tranh hơi tức khí" gây nên những cuộc kiện tụng và chỉ
trích cái tệ nhũng lạm của bọn sai nha cùng cái bọn thầy cò. Ở truyện Trê Cóc còn có
ý nghĩa về luân lý, bởi tác giả đã phô bày lắm nét hủ bại và nực cười ở xã hội xưa,
chung quanh những vụ kiện tụng trước cửa quan, người ta thấy trở đi trở lại những
chữ “lo lót, lễ vật, lễ mọn, phí tổn”. Chung quy thì chỉ người dân là phải chịu thiệt
hại, thua cũng thiệt mà được cũng thiệt. Cóc sù sì, thô kệch giống như là những người
dân chất phác hiền lành. Trê nhẵn nhụi, trơn tru hay chui luồn, có thể tiêu biểu cho
những người có nết láu lĩnh, hay làm việc mờ ám...
Sử dụng tài liệu văn học dân gian, không chỉ góp phần làm cho bài giảng sinh
động, tạo được không khí gần gủi với bối cảnh lịch sử, sự kiện đang học mà giáo viên
tiến hành có thể đạt được kết quả giáo dục tư tưởng đạo đức nói chung giáo dục
truyền thống dân tộc nói riêng
Các tác phẩm văn học vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử có ý nghĩa đối với
việc khôi phục hình ảnh quá khứ. Khi nói cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân
Việt Nam đầu thế kỉ XX dưới chế độ thực dân nửa phong kiến thì phải kể đến tác

Vơ vất đi ăn mày.
Trong khi phong trào chống Pháp diễn ra khắp nơi thì triều đình nhà Nguyễn lại
lần lược kí với Pháp từ hiệp ước Nhâm Tuất đến các hiệp ước Giáp Tuất, Hác măng,
Pa-tơ-nốt làm cho nhân dân vô cùng phẫn nộ, giáo viên có thể minh họa:
Tan nhà cám nổi câu ly hận
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ
Ngậm cười hết nói nổi quan ta
( Cảm khái – Phan Văn Trị)
Ngày 17/2/1859, Pháp nổ súng đánh thành Gia Định, quân triều đình nhanh
chóng tan rã, Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại sự kiện bi thảm này qua bài thơ “Chạy
giặc”
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ tẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dát bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này.
Khi Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì rồi chiếm luôn 3 tỉnh miền
Tây Nam Kì, Nguyễn Trung Trực đã đấu tranh anh dũng qua hai trận đánh: đánh chìm
tàu Ét-pê-răng của địch trên sông Vàm Cỏ Đông (10/12/1861), tiêu diệt đồn kiên
Giang (16/6/1868), ông đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi qua 2 câu thơ sau:


9

Lửa bừng Nhựt Tảo rêm trời đất
Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần

Về Tàu còn nguyện giết Tây dương.
Sau hiệp ước Giáp Tuất 1874, nhân dân phản đối mạnh mẽ, nhân dân không chỉ
đánh Tây mà chống cả triều đình
Dập dìu trống đánh cờ xiêu


10

Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây
Trong bài 22 “Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân
Pháp”, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân
Pháp đã làm cho kinh tế cũng như xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến, khi phân
tích cuộc sống của người công nhân giáo viên có thể nhấn mạnh bằng các nội dung
sau:
Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng khi về bủn beo
Hay:
Cao su xanh tốt lạ đời
Mỗi cây bón một xác người công nhân
Hoặc để mô phỏng cảnh nông dân ta phải nộp sưu thuế nặng nề, giáo viên có
thể sử dụng các câu ca dao như:
Ôi nhớ những năm nào thuở trước
Xóm làng ta xơ xác héo hon
Nửa đêm thuế thúc trống dồn
Sân đình máu chảy đường thôn lính đầy
Vào đầu thế kỉ XX, các sĩ phu yêu nước đã tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản,
thực hiện phong trào cách mạng theo khuynh hướng mới mà tiêu biểu là Phan Bội
Châu và Phan Châu Trinh
Phan Bội Châu với xu hướng bạo động, thành lập hội Duy Tân với chủ trương
đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập, ngày 24/12/1913, Phan Bội Châu bị giới quân

Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi
Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai
Thế đi đứng của toàn dân tộc
Một cách vinh hoa cho hai mươi lăm triệu con người
Ngoài ra các tài liệu thơ - văn được sử dụng để tổ chức những buổi hoạt động
ngoại khóa cho môn lịch sử và cách dễ thực hiện, đạt hiệu quả cao là đọc sách, nhằm
cung cấp thêm kiến thức và phát triển tư duy cho học sinh. Muốn đưa các tài liệu thơ văn vào dạy lịch sử trong hoạt động ngoại khóa có hiệu quả thì giáo viên phải giúp
học sinh lập danh mục sách cần đọc, nêu một số tác phẩm truyện hoặc thơ có liên
quan để học sinh tìm dễ dàng. Giáo viên có thể khơi dậy tính hiếu kì và lòng ham hiểu
biết của học sinh bằng cách tóm tắt sơ lược nội dung trong sách, kể một vài chi tiết,
những đoạn nhỏ trong sách để kích thích học sinh tiếp tục đọc để tìm hiểu
4. Kết quả đạt được
Mặc dù còn một số hạn chế nhưng tôi đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này
vào các tiết dạy và đã đạt được kết quả khả quan. Trước hết bản thân đã nhận thấy
rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới và với
những tiết dạy theo hướng đổi mới. Khi sử dụng một số câu thơ, câu văn, câu trích
dẫn… minh họa cho một sự kiện lịch sử, bài học lịch sử làm giờ học sinh động hơn,
hấp dẫn học sinh hơn, những sự kiện trong bài học lịch sử sẽ lưu lại trong kí ức các
em sâu hơn, lâu hơn, giờ học đạt hiệu quả cao. Trong dạy học dùng thơ - văn cho học
sinh có vai trò tích cực, chủ động trong việc học tập, qua đó các em chủ động tìm
những kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện một sự kiện lịch sử, đồng thời học sinh
còn ôn tập, củng cố, tổng hợp kiến thức ở mức độ cao hơn. Tôi cũng hi vọng với việc
áp dụng đề tài này học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học
sinh sẽ yêu thích môn học này nhiều hơn nữa.


12

Kết quả cụ thể của đề tài được thể hiện qua số điểm kiểm tra của học sinh lớp
11a4 và 11a10 ở cuối năm học như sau :

06(19.4%)

16(51.6%)

08(25.8%)

01(3.2%)

HK I

30

01(3.4%)

13(43.3%)

13(43.3%)

03(10%)

HK II

30

05(16.7%)

15(50%)

08(26.6%)



Phần 3. KẾT LUẬN
Thơ văn nói chung với ưu thế của nó: dễ thuộc, dễ đi vào lòng người… sẽ là
một thế mạnh, hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức lịch sư. Thông qua đó góp
phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn của học sinh đối với các lãnh tụ cũng như những
anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, đã đóng góp xương máu của mình để làm rạng rỡ thêm lịch
sử nước nhà.
Việc vận dụng kiến thức thơ văn vào giảng dạy lịch sử, theo kinh nghiệm của
bản thân tôi cùng nhiều đồng nghiệp khác đã được tham khảo ý kiến là một việc làm
rất có hiệu quả nhằm gây hứng thú cho học sinh, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi
việc học lịch sử, tìm hiểu lịch sử, nhận thức lịch sử đang có nhiều hướng giảm sút,
xuống cấp, thái độ dạy học đối phó, qua loa, đại khái của không ít giáo viên đã và
đang là những trở ngại không nhỏ đối với việc giảng dạy nói chung và dạy bộ môn
lịch sử nói riêng.
Trong khoản thời gian có hạn, cùng với kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều nên
tôi chỉ mạnh dạn trình bày quan điểm của mình trong việc “Sử dụng thơ – văn để tạo
sự hứng thú cho học sinh trong giờ học Lịch sử Việt Nam lớp 11” trong chương
trình Lịch sử Việt Nam lớp 11 trong dạy học lịch sử THPT góp phần vào việc đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay. Với sáng kiến kinh nghiệm này , tôi hy vọng sẽ góp
một phần nhỏ vào việc giúp giáo viên và học sinh trường THPT Trần Văn Bảy nói
riêng, các đồng nghiệp và học sinh các trường nói chung có thêm một phương pháp
tham khảo nhằm đật hiệu quả cao hơn trong dạy và học Lịch sử. Về phía bản thân, tôi
xin hứa sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đạt được của việc thực hiện sáng kiến kinh
nghiệm trên, đồng thời không ngừng rút kinh nghiệm, khắc phục khó khăn để nâng
cao hơn nữa chất lượng dạy và học.
Qua kết quả điểm số học kì I và học Kì II như trên cho thấy rằng, việc áp dụng
đã mang lại hiệu quả ở hai lớp 11a4 và 11a10.
Hạn chế của đề tài là chỉ áp dụng ở hai lớp khối 11 phần lịch sử Việt Nam năm
học 2014 - 2015 chứ chưa phải là toàn bộ học sinh của trường THPT Trần văn Bảy.
Vì vậy, trong thời gian tới tôi sẽ mở rộng sáng kiến kinh nghiệm ra các khối THPT

KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC
(Từ năm 1858 đến trước năm 1873)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1. Về kiến thức:
- Ý đồ xâm lược Việt Nam của tư bản phương Tây.
- Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dn Pháp 1858 - 1873.
- Cuộc kháng chiến của nhân dân 1858 - 1873.
2. Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích, so sánh, nhận xét, đánh giá sự kiện,
vấn đề Lịch sử. Biết liên hệ, rút ra bài học kinh nghiệm.
3. Về thái độ: Hiểu được bản chất xâm lược của chủ nghĩa thực dn v sự tàn bạo của
chúng. Tự hào về truyền thống chống xâm lược của cha ông. Có thái độ đúng mức khi
tìm hiểu nguyên nhân & trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước cuối TK
XIX. Có nhận thức đúng đối với các sự kiện, nhân vật Lịch sử cụ thể.
II. THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY-HỌC:
Lược đồ Việt Nam, tranh ảnh về cuộc kháng chiến chống xâm lược 1858-1873.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY-HỌC:
1. On định lớp (1')
2. Kiểm tra bài cũ (5') Giới thiệu chương trình lịch sử Việt Nam lớp 11
3. Vào bài mới (1')
4. Dạy & học bài mới (35')
Hoạt động của thầy
Nội dung chính
I. LIÊN QUÂN PHÁP-TÂY BAN
NHA XÂM LƯỢC VIỆT NAM.
CHIẾN SỰ Ở ĐÀ NẴNG 1858:
 Sơ lược về chế độ phong kiến Việt Nam
1. Tình hình Việt Nam đến giữa
- Giữa thế kỉ XIX, trước khi thực dân Pháp xâm TK XIX trước khi thực dân Pháp
lược, Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền và xâm lược:
đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế, Giữa thế kỉ XIX, phong kiến VN

- Ngoại giao sai lầm……

- Kinh tế:
+ Nông nghiệp sa sút dẫn đến mất
mùa, đói kém

+ Công-thương nghiệp: lạc hậu, đình
đốn
- Quân sự: lạc hậu, yếu kém

 Giải thích “bế quan toả cảng” và lí do “cấm
đạo” . Nêu sự khác nhau giữa Nho giáo và đạo - Đối ngoại: thực hiện “bế quan toả
Gia tô
cảng”, “cấm đạo” gây nên sự bất hòa
trong nhân dân, tạo kẻ hở cho kẻ thù
 Kể tên một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu?
lợi dụng
 Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Lê văn Khôi, - Xã hội: mâu thuẫn phát triển nên
Nông Văn Vân,…
khởi nghĩa diễn ra
2. Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị
 Liên hệ việc Pháp chuyển sang CNĐQ vào xâm lược Việt Nam:
giữa TK XIX
(Học sinh về nhà đọc thêm SGK)
 Lược đồ Việt Nam
3. Chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858:
 Vì sao Pháp chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công
đầu tiên?
 Vì có nhiều giáo dân, cảng biển sâu, gần kinh - Ngày 01/9/1858, liên quân Phápthành Huế, có thể ra Bắc vào Nam, có đường sang Tây Ban Nha tấn công rồi đổ bộ lên
Lào và Campuchia

Gia Định vào ngày 16/02/1959.
 Pháp tấn công thành Gia Định
 Lúc này, quân và dân ta đồi phó thế nào?
 SGK

+ Đến ngày 17/02/1959, Pháp tấn
công thành Gia Định
- Phía ta:
+ Các đội dân binh chiến đấu
ngoan cường gây cho địch nhiều khó
 Gv đọc bài thơ “Chạy giặc” của Nguyễn Đình khăn và buộc chúng phải chuyển
Chiểu:
sang đánh lâu dài, chiếm VN từng
bước
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
+ Quân triều đình ở Gia Định tan rã
Một bàn cờ thế phút sa tay.
nhanh chóng. Lúc này, quân Pháp ở
Bỏ nhà lũ tẻ lơ xơ chạy,
VN bị điều động sang chiến trường
Mất ổ đàn chim dáo dát bay.
TQ, chỉ để lại một lực lượng nhỏ giữ
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
các vị trì quanh Gia Định
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này.
 Pháp khó khăn do sa lầy ở TQ và Italia nên
phải phân tán lực lượng.
 Tường thuật cuộc kháng chiến của Nguyễn Tri

Biên Hoà và Vĩnh Long
- Ta chống Pháp mạnh mẽ: Trương
Định, Trần Thiện Chính, Lê
Huy,...Đặc biệt, 10/12/1961, Nguyễn
Trung Trực đánh chìm tàu Pháp
-> Từ đó, gây cho Pháp nhiều khó
khăn

 Tường thuật trận Nguyễn Trung Trực đánh tàu
Etpêrăng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông
 Danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi qua 2 câu
thơ sau:
Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạc Kiên Giang khắp quỷ thần
 Phân tích thái độ của nhà Nguyễn
 Hiệp ước Nhâm Tuất 5.6.1862 có nội dung thế - Trong bối cảnh đó, triều đình Huế
nào?
kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất
 SGK (phía nhà Nguyễn, phía Pháp )
ngày 05/6/1862 với nội dung:
+ Nguyễn nhượng cho Pháp 3 tỉnh
Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn, bồi
thường chiến phí 20 triệu quan, mở 3
 Em có nhận xét gì về việc nhà Nguyễn kí Hiệp cửa biển (Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng
ước?
Yên)
 Chủ quyền lãnh thổ dân tộc bị xâm hại nghiêm + Pháp trả lại cho nhà Nguyễn
trọng, đi ngược lại với ý chí và truyền thống của thành Vĩnh Long
dân tộc; nhà Nguyễn vì bảo vệ lợi ích của dòng họ
đã ngã về phía Pháp, đàn áp phong trào kháng

 Suy nghĩ, trả lời
dựng căn cứ chống Pháp cùng nhân
dân
 Phân tích ý nghĩa
 1863, Pháp đặt nền bảo hộ lên đất Campuchia

 Quá trình chiếm Tây Nam Kì của Pháp
 Nghe và ghi nội dung
 Việc đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam kì nằm
trong kế hoạch chinh phục từng gói nhỏ của thực
dân Pháp, kế hoạch được tiến hành như sau:
chiếm Campuchia cô lập miền Tây, ép triều đình
nhà Nguyễn nhượng quyền cai quản và cuối cùng
là dùng vũ lực

+ Ngày 28/02/1863, Pháp tấn công
căn cứ của Trương Định, sau đó ông
trúng đạn nên đã tự sát.
- Ý nghĩa:
+ Tiêu biểu cho tinh thần quật khởi
của nhân dân Nam Kì
+ Là dấu mốc hình thành trận tuyến
nhân dân
+ Kết hợp phong trào chống xâm
lược và chống phong kiến đầu hàng
+ Cổ vũ phong trào đấu tranh phát
triển
2. Thực dân Pháp chiếm ba tỉnh
miền Tây Nam Kì:
- Sau khi chiếm Đông Nam Kì, Pháp

Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên)
mà không tốn một viên đạn nào
3. Nhân dân ba tỉnh miền Tây Nam
Kì chống Pháp:
- Sau khi Pháp chiếm xong 3 tỉnh
miền Tây Nam Kì, phong trào kháng
chiến vẫn tiếp tục phát triển mạnh
với nhiều hình thức: tị địa, bất hợp
tác với giặc, khởi nghĩa vũ trang, liên
minh chiến đấu với nhân dân
Campuchia
- Nhiều cuộc khỡi nghĩa nổ ra ở 3
tỉnh miền Tây:
+ Khởi nghĩa Trương Quyền ở Tây
Ninh
+ Khởi nghĩa Phan Tôn, Phan Liêm
(con Phan Thanh Giản) - Bến Tre
+ Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực ở
Rạch Giá
+ Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân ở
Mỹ Tho
- Nguyên nhân thất bại: do Pháp còn
mạnh và vũ khí ta còn thô sơ
- Ý nghĩa: thể hiện lòng yêu nước, ý
chí bất khuất chống ngoại xâm của
nhân dân ta

5. Sơ kết bài học (3')
Củng cố: HS cần nắm:
- Quá trình xâm lược VN của TD Pháp 1858-1873.

20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31

ĐIỂM SỐ LỚP 11a4
Họ và tên
Điểm học kì I
Võ Gia Bảo
6.7
Nguyễn Minh Khang
8.1
Tăng Thị Ngọc Lan
4.4
Trương Nhựt Linh
7.2
Phan Thái Linh
5.5
Ngô Cẩm Loan
8.7
Lý Thanh Long
6.0

Trần Thị Tím
8.2
Đoàn Thị Huế Trân
8.6
Hà Thị Diễm Trinh
3.6
Dương Thanh Trúc
7.5
Tô Quang Trường
4.3
Lê Hồng Tú
4.1
Lý Bảo Tuyền
9.3
Trương Thị Minh Xuân
8.6
Phạm Thị Kim Xuyến
6.6
Tỉ lệ trên trung bình
80,64%

ĐIỂM SỐ LỚP 11a10

Điểm học kì II
7.9
8.2
7.9
5.8
5.3
8.1

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29

Cao Thị Kim Tuyền
Trần Minh Tứ
Huỳnh Gia Vĩ
Tỉ lệ trên trung bình

Điểm học kì I
6.4
7.3
6.4
6.9
6.4
7.1
5.5
6.1
6.0
4.4
6.3
7.7
4.8
7.6
5.5
6.7
7.2
6.6
7.0
4.6
9.1
6.0
7.6
7.8

7.2
7.2
8.7
5.8
7.0
4.3
7.4
6.8
7.1
93,33%




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status