Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ ANH
SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ GÂY HỨNG THÚ CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2014

i
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu,
Phòng sau đại học, các thầy (cô) giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học K8 bộ
môn Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử trường Đại học Giáo dục – Đại
học Quốc gia Hà Nội đã trang bị cho tôi tri thức, những kinh nghiệm quý báu
và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt sâu sắc tới PGS.TS Trịnh Đình Tùng
người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, tới những người thân,
bạn bè đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá
trình học tập và hoàn thành luận văn./.
Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2014
Tác giả Vũ Thị Anh

ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1.
CNXH Chủ nghĩa xã hội


iii

MỤC LỤC
Trang

Lời cảm ơn

i
Danh mục viết tắt

ii
Mục lục

iii
Danh mục các bảng

vi
Danh mục đồ thị

vii
MỞ ĐẦU

1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ
DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG


32
1.2.3. Vấn đề thực tiễn hứng thú học tập Lịch sử của học sinh ở THPT

35
1.2.4. Những vấn đề cần phải giải quyết từ thực tiễn dạy Lịch sử ở
trường phổ thông 38
Kết luận Chương 1

39
iv
Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ
GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11-TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

40
2.1. Mục tiêu, nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam lớp 11 – THPT

40
2.1.1. Mục tiêu bộ môn Lịch sử Việt Nam lớp 11 từ 1858 đến 1918 ở
trường Trung học phổ thông
2.3.2. Sử dụng tài liệu văn học phải phát triển năng lực học tập của học sinh

54
2.3.3. Sử dụng tài liệu văn học phải phản ánh nội dung cơ bản của kiến
thức Lịch sử 56
2.4. Các biện pháp và hình thức sử dụng tài liệu văn học để gây hứng
thú cho học sinh 57
2.4.1. Trong dạy học nội khóa

57
2.4.2. Trong dạy học ngoại khóa

74
2.5. Thực nghiệm sư phạm

83
2.5.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm

83
2.5.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm

84
v
2.5.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm


Bảng 1.1. Số liệu khảo sát thực trạng sử dụng tài liệu văn học trong
dạy học Lịch sử của GV ở trường THPT 33
Bảng 1.2. Nhận định và mức độ về sử dụng tài liệu văn học trong dạy
học LS của GV ở trường THPT 33
Bảng 1.3. Số liệu khảo sát thực tiễn hứng thú học tập LS của học sinh
ở trường THPT 36
Bảng 1.4. Mức độ hứng thú học tập LS của học sinh ở trường THPT

36
Bảng 2.1. Bảng thống kê điểm số kết quả thực nghiệm

87
vii

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Trang

Đồ thị 2.1: Tần số điểm của lớp TN và lớp ĐC


nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, môn LS, trước hết là môn quốc
2
sử, càng giữ vai trò quan trọng trong trang bị kiến thức cơ sở, giáo dục các giá
trị truyền thống, góp phần xác lập bản lĩnh con người để thế hệ trẻ cùng với
nền tảng giáo dục phổ thông có thể bước vào đời, thực hiện trách nhiệm công
dân đối với xã hội.
Nhưng thực tế hiện nay, giáo viên LS ở các trường phổ thông mới chỉ
chú ý đến truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa cho HS sao cho đầy đủ
nhất mà chưa quan tâm đến nhu cầu tìm hiểu, học tập LS của HS, nên chưa
tạo được hứng thú học tập cho HS, dẫn đến việc HS không quan tâm học LS,
tâm lý nhàm chán, đối phó trong học LS. Nếu không sớm cải cách môn LS ở
cấp học phổ thông, khắc phục tình trạng sa sút đến mức báo động như hiện
nay thì sẽ tạo ra những hẫng hụt trong kiến thức về LS Việt Nam và thế giới,
để lại những hệ quả rất đáng lo ngại trong kế thừa các giá trị di sản LS và văn
hóa dân tộc, trong gìn giữ bản sắc dân tộc, trong định hướng phát triển nhân
cách, bản lĩnh con người Việt Nam, nhất là khi giao lưu và đối thoại với các
nền văn minh, văn hóa trên thế giới.
Yêu cầu và thực tế trên đòi hỏi chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy
học LS nhằm giúp HS hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của HS, giúp
HS tư duy và nắm được nội dung kiến thức trọng tâm đã học. Và một trong
những cách thức hữu hiệu giúp người GV có thể đổi mới phương pháp dạy
học LS trong nhà trường chính là sử dụng đến kiến thức các môn học khác
như Địa lí, Giáo dục Công dân, Văn học… hỗ trợ cho hoạt động dạy học bộ
môn trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn.
Vậy nên, để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói
chung, dạy học LS nói riêng, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử
dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử
Việt Nam lớp 11 – Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)” làm đề tài
luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục.


yếu tố kích thích, động viên tính ham hiểu biết và tính tích cực tư duy của học
sinh” [18, tr. 88].
* Tài liệu giáo dục lịch sử
A.A. Vaghin – nhà nghiên cứu phương pháp dạy học của Liên Xô trước
đây – trong giáo trình “Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông”
đã chỉ rõ vai trò, ý nghĩa, phương pháp sử dụng các nguồn tài liệu LS trong
giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông. Tác giả viết: “Tài liệu kiến thức lịch sử
chiếm một vị trí quan trọng trong khóa trình lịch sử ở trường phổ thông. Việc
lĩnh hội tài liệu ấy là điều kiện cần thiết…Dựa vào tài liệu đó, trước hết
chúng ta phải nêu rõ cho học sinh thấy những quy luật khách quan cơ bản
của việc phát triển lịch sử” [46, tr.19].
I.Ia.Lecne, nhà giáo dục Liên Xô trong cuốn “Phát triển tư duy của học
sinh trong dạy học lịch sử” đã đi sâu vào biện pháp phát triển tư duy học sinh
trong quá trình học tập LS. Theo tác giả, thông qua đó việc phát triển tư duy,
kích thích năng lực sáng tạo, tính tích cực nhận thức của học sinh là biện pháp
quan trọng để tổ chức dạy học LS. Do đó sẽ nâng cao được chất lượng của
một giờ học lịch sử nói riêng và quá trình dạy học LS nói chung.
Trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” của nhóm tác giả
Robert J.Marano, Debra J.Pickering, Janne E.Pollock đã đưa ra các biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng cho quá trình tổ chức dạy học như: việc khích lệ
học tập, học tập theo nhóm, lập mục tiêu, gợi ý câu hỏi… Các tác giả khẳng
định: dù biện pháp nào đi chăng nữa thì việc quan trọng nhất là GV phải nuôi
dưỡng hoạt động học tập đích thực cho người học, kích thích HS tích cực, chủ
động tham gia vào quá trình lĩnh hội tri thức.
Đặc biệt, N.G. Đairi – Tiến sĩ giáo dục Liên Xô trước đây – trong cuốn
“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã nói: “thầy giáo bắt buộc phải biết
rõ những thành tựu của khoa học lịch sử và của các khoa học giáo dục… phải
biết tất cả những hiện tượng quan trọng nhất của đời sống chính trị xã hội và
5
văn hóa” [11, tr.10]. Ông cho rằng để có một giờ học đạt hiệu quả GV bắt

cấp III, một số vấn đề về tâm lý học và năng lực của giáo viên. Trong đó tác
giả cũng đề cập tới sự hình thành và phát triển năng lực tư duy lí luận độc lập,
sáng tạo ở học sinh cấp III thể hiện ở: vốn tri thức, năng lực tư duy, lựa chọn
phương pháp giải quyết vấn đề một cách logic, nhanh gọn, sáng tạo, ý thức tự
học, khả năng tự kiểm tra… Những điều này đều có ảnh hưởng tích cực đến
việc nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông.
Thái Duy Tuyên trong cuốn: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện
đại” cho rằng việc sử dụng các tư liệu dạy học là vô cùng cần thiết. Nó có tác
dụng nâng cao hiệu quả bài học, làm phong phú vốn kiến thức cho HS.
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” - tập 1 đã
phân tích và nêu lên cách sử dụng, yêu cầu sử dụng nguồn tài liệu đó như sau:
Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong
mối liên hệ giữa các môn học. Các mối liên hệ giữa các môn học phản ánh
bản chất biện chứng của khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện
tượng từ nhiều quan điểm khác nhau. Các ông đã phân tích rõ ý nghĩa của các
nguồn tài liệu ngoài SGK và nêu lên cách sử dụng, yêu cầu sử dụng những tài
liệu đó trong dạy học và các bộ môn ở trường phổ thông.
* Tài liệu giáo dục lịch sử
Trước hết phải kể đến giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do
Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên, xuất bản trong các năm 1992, 2001,
2002). Giáo trình cho rằng: “Hiệu quả dạy học lịch sử được xác định không
chỉ bằng việc hình thành kiến thức, kết quả giáo dục mà còn bằng việc phát
triển tư duy, kĩ năng của học sinh”. Ngoài ra, tác giả cũng đã khẳng định vị
trí, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu tham khảo cũng như cách phân loại và
một vài gợi ý về phương pháp sử dụng cho GV khi tiến hành bài học.
7
Trong cuốn “Sơ thảo các phương pháp dạy học lịch sử phổ thông cấp
II, III” của tác giả Lê Khắc Nhãn, Hoàng Triều, Hoàng Trọng Hanh đề cập
đến hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử, trong đó các ông đặc biệt chú
ý đến việc lĩnh hội kiến thức: lĩnh hội tri thức lịch sử của học sinh phải đảm

pháp nâng cao hiệu quả trong dạy học lịch sử như:
PGS. TS Trịnh Đình Tùng “Mấy biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục
qua một bài học lịch sử”. Tạp chí nghiên cứu giáo dục, tháng 5/1998.
Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi “Những vấn đề trong dạy học lịch sử
ở trường phổ thông hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, tháng 4/1991.
PGS. TS Trịnh Đình Tùng “Để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn
lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí giáo dục, số 155/2007, tr 23-24.
Hoàng Đình Chiến “Về việc sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học
lịch sử ở PTTH hiện nay”, Nghiên cứu lịch sử số 3, 1998.
Qua các bài viết trên, mỗi tác giả đi sâu vào những vấn đề khác nhau
của phương pháp dạy học lịch sử, song đều có liên quan đến phương pháp
nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung và việc gây hứng thú trong dạy
học lịch sử nói riêng.
Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận và tham khảo các luận án, luận văn ít
nhiều đề cập đến phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học LS ở
trường phổ thông như: “Sử dụng kiến thức liên môn để gây hứng thú học tập
lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 ở trường THPT (chương trình
chuẩn)” của Nguyễn Thị Nhung – Luận văn Thạc sĩ, ĐH Giáo Dục. “Tạo
hứng thú học tập cho học sinh qua các hình thức tổ chức tự học môn Lịch sử
lớp 10 trường THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa” của Phan Thị Hà – Luận
văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội.
Những công trình nghiên cứu trên, đặc biệt là những công trình của các
nhà giáo dục lịch sử là những gợi mở quý giá về mặt lí luận giúp chúng tôi
tìm hướng giải quyết các nhiệm vụ của luận văn.
9
Tuy nhiên, những công trình này mới trình bày khái quát về các phương
pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông, các biện pháp sử
dụng tài liệu nói chung mà chưa có công trình nào đề cập sâu đến phương pháp
sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú học tập cho HS trong dạy học Lịch sử
Việt Nam lớp 11. Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Sử dụng tài liệu

nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm qua bài dạy để từ đó rút ra những kết
luận về tính khả thi của việc sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học
sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 – Trung học phổ thông (Chương
trình chuẩn).
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi dựa trên cơ sở:
- Lý luận CN Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường
lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục lịch
sử nói riêng.
- Lý luận về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học lịch sử của
các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: Tâm lí giáo dục học, giáo dục Lịch sử, chương trình
sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 (Chương trình chuẩn), tài liệu văn học liên quan.
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.
+ Thực nghiệm: Soạn - giảng theo dự kiến theo những gì mà luận văn
đưa ra để kiểm tra giả thuyết và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh kết quả thực nghiệm để rút
ra kết luận sư phạm.
11
+ Phương pháp thống kê toán học, xử lí số liệu giữa lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên vận dụng các biện pháp sử dụng tài liệu văn học mà luận
văn đưa ra sẽ góp phần tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao chất
lượng dạy học Lịch sử ở lớp 11 trường THPT (Chương trình chuẩn).
8. Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

văn học trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông là một loại tài liệu Lịch sử,
gồm sách báo thuộc lĩnh vực văn học giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề LS.
Trong dạy học LS ở trường phổ thông, giáo viên có thể sử dụng các
loại tài liệu văn học chủ yếu sau:
- Các tác phẩm văn học dân gian;
- Các tác phẩm văn học xuất hiện vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử
và phản ánh sự kiện ấy bằng hình tượng văn học;
- Tiểu thuyết lịch sử, truyện thơ lịch sử, kịch lịch sử;
- Kí sự, hồi kí của các nhân vật lịch sử, nhân chứng lịch sử.
1.1.1.2. Mối quan hệ giữa kiến thức văn học với kiến thức lịch sử
Chúng ta đều biết Sử học và Văn học đều có chung đối tượng nghiên
cứu là con người, những vấn đề xã hội… Văn học ngợi ca vẻ đẹp của non sông,
đất nước, ngợi ca con người mang những phẩm chất tốt đẹp, cao quí cũng như
đả kích, lên án cái xấu thì LS cũng ghi nhận công lao của những con người ấy
đồng thời phán xét nghiêm minh những người có tội với dân với nước.
Người ta thường nói đến tình trạng “văn sử bất phân” trong văn chương
thời xưa, có nghĩa là thời ấy người ta chưa phân biệt rạch ròi văn kinh sử,
chính luận, triết luận, báo cáo, hịch… với văn chương như một phạm trù nghệ
thuật. Thời ấy không phải chưa hình thành các thể văn khác nhau nhưng giữa
13
chúng chưa có sự phân biệt rành mạch. Chẳng hạn Sử kí của Tư Mã Thiên,
Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi… đều
có tính văn chương, có thể xem như thuộc phạm trù nghệ thuật ngôn từ, thể
hiện tư duy tình cảm thẩm mĩ với những hình tượng sinh động (bên cạnh yếu
tố chính luận, triết luận). Ngày nay, những Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
hay Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những bản nhật lệnh của
đại tướng Võ Nguyên Giáp hay Văn Tiến Dũng, những bài diễn văn của đồng
chí Lê Duẩn hay Trường Chinh có thể là những tác phẩm chính luận xuất sắc,
nhưng không nên coi là những áng văn chương nghệ thuật.
Người viết văn thời trung đại hiểu văn theo một nghĩa rất rộng bao gồm

ta trong buổi bình minh của LS: vừa dựng nước và vừa giữ nước.
Các loại hình văn học dân gian không chỉ góp phần minh họa những sự
kiện LS mà còn làm cho bài giảng thêm sinh động, tạo được không khí gần
gũi với bối cảnh LS sự kiện đang học. Nó phản ánh những hiểu biết về các sự
kiện LS.
Ví dụ, câu:
“Một nhà sinh đặng ba vua
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài”
Phản ánh tình trạng rối ren của triều đình Huế sau khi Tự Đức chết, ba
vua này là Đồng Khánh (sống), Kiến Phúc (chết), Hàm Nghi (chạy ra Sơn
Phòng) đều là con của Kiến Thái Vương – em vua Tự Đức. Họ là anh em ruột
cùng một nhà (cần phân tích rõ từ “thua” thuộc quan điểm của giai cấp nào).
Như vậy, sử dụng tài liệu văn học dân gian, GV có thể tiến hành có kết
quả việc giáo dục tư tưởng, đạo đức nói chung, giáo dục truyền thống dân tộc
nói riêng cho HS.
1.1.2.2. Các tác phẩm xuất hiện vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử và
phản ánh sự kiện ấy bằng hình tượng văn học
Những tác phẩm này ra đời đồng thời với sự kiện LS nên nó sẽ phản
ánh hiện thực xã hội lúc bấy giờ một cách chân thực, cụ thể và sinh động. GV
15
sử dụng những tài liệu này sẽ giúp HS dễ dàng tái hiện lại bức tranh quá khứ
mà các em đang học. Như V.I. Lênin nói về tác phẩm của Tônxtôi là “chiếc
gương của cách mạng Nga”.
Nói chung, những tác phẩm này ra đời là tấm gương phản ánh đời sống
xã hội, nên khi miêu tả về đời sống xã hội, bối cảnh LS của một sự kiện, một
nhân vật, GV có thể sử dụng đoạn tương ứng.
Ví dụ, trong dạy học khóa trình LS thế giới trung đại, cận đại có thể sử
dụng một số đoạn trong tác phẩm văn học nổi tiếng, như Hội chợ phù hoa của
Tháckơrê; Những người khốn khổ của Víchto Huygô; Vỡ mộng của Bandăc…
Trong Vỡ mộng, tác giả sử dụng hình tượng văn học để làm sống lại xã hội tư

thực, diễn tả lại những sự kiện, hành động rất tỉ mỉ của quân và dân trong thời
kỳ chiến tranh. Qua đó HS cảm nhận, thấy được, hình dung ra những ngày
tháng gian khó, hiểm nguy nhưng oanh liệt của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ
đại của dân tộc. Ví dụ: Tác phẩm Đường tới Điện Biên Phủ của Võ Nguyên
Giáp, Mười ngày rung chuyển thế giới của Giôn Rít…
Tài liệu tham khảo trong dạy học LS rất phong phú, đa dạng. Để nâng
cao hiệu quả dạy học, GV cần có những phương pháp sưu tầm, lựa chọn và
khai thác có hiệu quả để giúp HS lĩnh hội hơn nữa kiến thức của khóa trình
lịch sử ở trường phổ thông.
1.1.3. Đặc điểm của kiến thức Lịch sử ở trường phổ thông
Kiến thức LS khác với kiến thức của các môn học khác. Kiến thức LS
có những đặc điểm nổi bật, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể,
tính hệ thống, sự thống nhất giữa “sử” và “luận”.
1.1.3.1. Kiến thức lịch sử mang tính quá khứ
Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người từ lúc con người và
xã hội hình thành đến nay. Tất cả những sự kiện và hiện tượng LS được
chúng ta nhắc đến đều là những chuyện vừa xảy ra, nó mang tính quá khứ.
Đây là điều khác biệt giữa hiện tượng LS với những hiện tượng tự nhiên. Bởi

Trích đoạn Các tác phẩm phản ánh đời sống các giai tầng trong xã hội Việt Trong dạy học nội khóa Trong dạy học ngoại khóa Tiến hành thực nghiệm sư phạm Kết quả thực nghiệm sư phạm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status