Nhận thức luận của i kant và tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức trong phê phán lý tính thuần túy - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------(((------

ĐỖ HỒNG THÀNH

NHẬN THỨC LUẬN CỦA I. KANT VÀ TƯ TƯỞNG
CỦA ÔNG VỀ GIỚI HẠN CỦA NHẬN THỨC TRONG

PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

Hà Nội, 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------(((------

ĐỖ HỒNG THÀNH

NHẬN THỨC LUẬN CỦA I. KANT VÀ TƯ TƯỞNG
CỦA ÔNG VỀ GIỚI HẠN CỦA NHẬN THỨC TRONG

PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60 22 03 01

6.

Đóng góp của luận văn ...................................................................................... 11

7.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .............................................................................. 11

8.

Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 12

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH...................................................................................... 13
CHƢƠNG 1 .............................................................................................................. 13
NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI NHẬN THỨC LUẬN .................... 13
CỦA I. KANT TRONG TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY ............ 13
1.1. Những tiền đề lịch sử của sự hình thành nhận thức luận của I. Kant ............ 13
1.1.1. Những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội ........................................... 13
1.1.2. Những tiền đề khoa học tự nhiên ............................................................ 19
1.1.3. Những tiền đề lý luận .............................................................................. 25
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của I. Kant ................................................................ 30
1.3. Về tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy ....................................................... 35
CHƢƠNG 2 .............................................................................................................. 41
NỘI DUNG CƠ BẢN NHẬN THỨC LUẬN CỦA I. KANT VÀ TƢ TƢỞNG
CỦA ÔNG VỀ GIỚI HẠN CỦA NHẬN THỨC ..................................................... 41
2.1. Nội dung cơ bản và những bƣớc chuyển trong nhận thức luận của I. Kant .. 41
2.1.1. Nội dung cơ bản nhận thức luận của I. Kant .......................................... 41
2.1.2. Từ triết học tự nhiên đến triết học nhận thức ......................................... 51
2.1.3. Từ sự đối lập giữa nhận thức duy lý và nhận thức kinh nghiệm đến nhận
thức tiên nghiệm ................................................................................................ 53

Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, vấn đề nghiên cứu triết học nhân loại là
vấn đề đang đƣợc các nhà khoa học tâm huyết trong nƣớc quan tâm và chú ý,
nhằm tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại, vận dụng vào hoàn cảnh
thực tiễn Việt Nam để đổi mới cách nhìn, đổi mới phƣơng pháp tƣ duy xóa bỏ
lối tƣ duy cũ đang tồn tại từ lâu đời.
Ở nƣớc ta hiện nay, việc nghiên cứu lịch sử triết học còn ít. Hầu nhƣ
chỉ tập trung ở một một số trƣờng đại học lớn mang tính chất đặc thù, chuyên
ngành. Chính vì vậy, nghiên cứu lịch sử triết học là một việc làm hết sức cần
thiết nhằm đi tìm hiểu cội nguồn lịch sử tƣ tƣởng triết học thế giới.
Trong dòng chảy lịch sử triết học nhân loại, nổi lên những triết gia đại
diện cho các thời đại, một trong những triết gia vĩ đại đó là I. Kant của triết
học cổ điển Đức, bên cạnh các triết gia khác nhƣ Hêghen, Phoiơbắc…
Immanuel Kant (I. Kant) đƣợc coi là ngƣời đã thực hiện cuộc cách mạng
Copernic trong nhận thức luận. I. Kant so sánh sự chuyển hƣớng trong cách
tìm hiểu tri thức của mình với cuộc cách mạng Copernic trong thiên văn học..
Ông đƣợc tôn vinh là ngƣời sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức. Triết học I.
5


Kant đã có ảnh hƣởng rất lớn đối với các trào lƣu triết học phƣơng Tây về
sau. Với tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy sức hấp dẫn của nó không chỉ
bởi những luận điểm phức tạp, đầy mâu thuẫn của I. Kant, cũng không phải vì
có quá nhiều những ý kiến trái ngƣợc nhau về tƣ tƣởng triết học của ông.
Một trong những nguyên nhân để chúng tôi đi vào tìm hiểu triết học I.
Kant chính là ở chỗ, trong triết học I. Kant có khá nhiều những vấn đề đƣợc
các học giả quan tâm nhƣ đạo đức, triết học lịch sử, siêu hình học, triết học
thực tiễn… những vấn đề này hiện nay vẫn còn gây nhiều bàn cãi và chƣa đi
đến hồi kết. Việc tìm hiểu tính tích cực của chủ thể nhận thức, năng lực, giới
hạn và cấu trúc của lý tính, mâu thuẫn trong quá trình nhận thức, sự tồn tại và
bất tử của Linh hồn, Thƣợng đế, Thế giới luôn là những nan đề có rất nhiều

Kant và tƣ tƣởng của ông về giới hạn của nhận thức trong Phê phán lý
tính thuần túy” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên nhiều phƣơng diện khác nhau, các học giả Việt Nam đẫ tiếp cận,
nghiên cứu triết học I. Kant bằng nhiều cách. Tuy nhiên, hầu nhƣ chƣa có bất
cứ một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu “tƣ tƣởng của I. Kant về
giới hạn của nhận thức”trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy của ông.
Hầu hết, trong các tác phẩm hay bài viết nói về triết gia I. Kant, các tác giả
chỉ đề cập đến vấn đề “giới hạn nhận thức của con ngƣời” trong quan niệm
của ông nhƣ là một phần nhỏ trong lý luận nhận thức và hầu hết nó đƣợc hiểu
thuần túy theo nghĩa thuần túy tiêu cực.
Ở nƣớc ta, đã có nhiều tác giả đi vào nghiên cứu triết học I. Kant. Về
phƣơng diện lịch sử, ngƣời đề cập đến triết học I. Kant sớm nhất là GS. Trần
Đức Thảo trong tác phẩm “Lịch sử tƣ tƣởng trƣớc Marx”. Trong đó, GS. Trần
Đức Thảo đã trình bày các võng luận của phép biện chứng theo cấu trúc tác
phẩm Phê phán lý tính thuần túy. Đây là những đánh giá đúng đắn và khách
7


quan đối với triết học I Kant. Tuy nhiên, những đánh giá của ông còn sơ
lƣợc, chƣa đi sâu vào một vấn đề cụ thể, nhất là ông chƣa đi sâu và nghiên
cứu vấn đề “Vật tự thân” hay về giới hạn của nhận thức, đây chỉ là những
nghiên cứu chung về triết học I. Kant.
Năm 1962, Nhà xuất bản Sự thật (Hà Nội) đã cho xuất bản bộ “Giáo
trình lịch sử triết học – Giai đoạn triết học cổ điển Đức” do Viện Triết học
thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô biên soạn. tác phẩm đã đem đến cho
độc giả những nét khái lƣợc về triết học cổ điển Đức, trong đó triết học I.
Kant chiếm một vị trí quan trọng. Các tác giả đã nghiên cứu quan niệm của I.
Kant về nhận thức theo ba giai đoạn: cảm tính, giác tính và lý tính, trong đó
giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn nhận thức cao nhất của con ngƣời,

vấn đề nhận thức luận của I. Kant với rất nhiều bài viết đáng chú ý đó là Kỷ
yếu Hội thảo Khoa học “Triết học cổ điển Đức: những vấn đề nhận thức luận
và đạo đức học” của trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2004. Đây là công trình quy tụ khá nhiều kết quả
nghiên cứu của nhiều tác giả đã đƣợc in thành kỷ yếu hội thảo quốc tế kỷ
niệm 200 năm ngày mất của I. Kant, có khá nhiều bài viết liên quan đến vấn
đề mà đề tài nghiên cứu, về nhận thức luận có các công trình “Nhận thức luận
và đạo đức học trong triết học cổ điển Đức” của Trịnh Trí Thức; “Phƣơng
thức tƣ duy chủ thể tính của I. Kant và những gợi mở của nó đối với đƣơng
đại” của Âu Dƣơng Khang; “Thực chất cái siêu việt của lý tính trong lý luận
nhận thức của I. Kant và tƣ tƣởng của ông về một nền triết học khoa học” của
Phạm Văn Chung; “Tƣ tƣởng của I. Kant về sự thống nhất giữa lý luận nhận
thức, đạo đức học trong nhân học” của Nguyễn Vũ Hảo; “I. Kant và nhận
thức luận hiện đại” của Đỗ Văn Khang, “Lý luận nhận thức của I. Kant thời
kỳ phê phán – giá trị và hạn chế” của Trần Văn Phòng; “Nhận thức luận của I.
Kant nhìn từ triết lý Đông phƣơng” của Lê Công Sự. Về vấn đề liên quan đến
9


giới hạn của nhận thức có các công trình “Quan niệm của I. Kant về bản chất
và giới hạn của nhận thức” của Dƣơng Văn Thịnh; “Quan niệm của I. Kant về
bản chất của nhận thức và ý nghĩa của nó” của Vũ Văn Viên.
Nhƣ vậy, việc nghiên cứu về triết học I. Kant luôn thu hút sự chú ý của
nhiều học giả. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu riêng về “những giới
hạn của nhận thức con ngƣời trong Phê phán lý tính thuần túy của I. Kant
chƣa thực sự nhiều, hầu nhƣ chƣa có một công trình nào dành tâm huyết và đi
sâu vào phân tích quan niệm về những giới hạn của nhận thức con ngƣời của
I. Kant, có chăng chỉ là những phân tích về phần lý luận nhận thức của ông
nói chung và khi đi vào phân tích thì các học giả còn có khá nhiều quan điểm
khác nhau. Do đó, “nhận thức luận của I. Kant nói chung và tƣ tƣởng của ông

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên quan điểm triết học Mác – Lênin,
chủ yếu về phép biện chứng, về lịch sử triết học nói chung về triết học I. Kant
nói riêng, đồng thời kế thừa, tiếp thu các tài liệu, bài nghiên cứu của các tác
giả về triết học cổ điển Đức, triết học I. Kant nhất là về phƣơng pháp.
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp, kết
hợp giữa lôgic và lịch sử, diễn dịch, quy nạp….
6. Đóng góp của luận văn
Góp phần làm sáng tỏ hơn Nhận thức luận của I. Kant thông qua việc
chỉ ra những nội dung cơ bản của Nhận thức luận của I. Kant trong mối liên
hệ với tƣ tƣởng của ông về giới hạn của nhận thức trong Phê phán lý tính
thuần túy.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả của đề tài luận văn một mặt góp phần vào việc nghiên cứu triết
học I. Kant nói chung, nhận thức luận của ông nói riêng, mặt khác có ý nghĩa
đối với nghiên cứu khoa học nhất là trong việc xác định những giới hạn của
11


nhận thức.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, Phần nội dung chính gồm 2 chƣơng,
Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.

12


PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1
NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI NHẬN THỨC LUẬN

làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công
nghiệp” [17, 8]. Với ý nghĩa lịch sử lớn lao, hai cuộc cách mạng đó đã có
những ảnh hƣởng lớn đến phong trào giải phóng ở các nƣớc châu Âu, đƣợc
đánh dấu bằng một loạt các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra: cách mạng tƣ sản
ở Anh, Hà Lan, Pháp, Italia…chấm dứt sự thống trị của chế độ phong kiến
hàng nghìn năm gắn liền với hệ thống thần quyền và giáo luật khắt khe, mở
đầu cho sự ra đời và phát triển của chế độ tƣ bản. Chủ nghĩa tƣ bản ra đời
đem lại một nền sản xuất phát triển chƣa từng có trong lịch sử, tỏ ra ƣu việt
hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trƣớc đó. Bƣớc chuyển đó đã đem lại
cho châu Âu một diện mạo mới với những thành tựu khổng lồ về kinh tế - xã
hội và văn hóa mà nhân loại đã đạt đƣợc trong thời kỳ bình minh đầy tính
cách mạng của chủ nghĩa tƣ bản. Đó là những tiền đề quan trọng thúc đẩy
khoa học nói chung và triết học nói riêng phát triển. Đặc biệt đối với triết học,
sự chuyển biến đƣợc thể hiện rõ.
Trong thời đại tƣ bản chủ nghĩa, hệ thống thần học nhƣ một chiếc áo
khoác lên, che đậy cho chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh viện giáo điều với
những lý luận hoàn toàn hƣớng con ngƣời tới một thế giới ảo tƣởng, xa rời
hiện thực cuộc sống đã bị cởi bỏ, thay thế bởi chủ nghĩa duy vật siêu hình và
chủ nghĩa duy lý. Triết học thâm nhập khám phá cuộc sống, tìm hiểu những bí
ẩn trong lý tính của con ngƣời. Các nhà tƣ tƣởng tƣ sản trả lại cho con ngƣời
những quyền mà hệ tƣ tƣởng phong kiến đang phủ nhận: quyền tự do, quyền
bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mƣu cầu hạnh phúc.
14


Con ngƣời phải vƣơn tới trí tuệ tự do và đích thực.Trong thời kỳ đó, nếu nƣớc
Anh nhờ cách mạng tƣ sản và bƣớc ngoặt công nghiệp mà trở thành quốc gia
tƣ bản lớn mạnh nhất, nƣớc Pháp nhờ Cách mạng Tƣ sản 1789, giai cấp tƣ
bản đã tiêu diệt chế độ phong kiến, đang tiến nhanh trên con đƣờng tƣ bản
chủ nghĩa, cả châu Âu đang phát triển nhanh và mạnh mẽ, nhƣng trái lại nƣớc

cản đất nƣớc đi theo con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa. Trong hoàn cảnh ấy giai
cấp tƣ sản nƣớc Đức vẫn còn non nớt và yếu đuối, chƣa có đủ điều kiện chín
muồi cho việc nổi dậy giành chính quyền. Chính vì thế, cả nƣớc Đức bao
trùm một bầu không khí ngột ngạt, bất bình của nhân dân.
Về tƣ tƣởng, hệ tƣ tƣởng thần học chiếm vị trí độc tôn trên vũ đài lý
luận. Thần học là khoa cơ bản trong các trƣờng đại học tổng hợp. Triết học và
các môn khoa học xã hội khác nhiều khi chỉ là sự biện hộ và bảo vệ cho thần
học. Ngƣời cha tinh thần của triết học Đức lúc đó là Christian Wolft, ngƣời kế
tục tƣ tƣởng duy tâm của Lépnít. Đa số học trò của Wolft đều chiếm những
vị trí quan trọng trong các trƣờng đại học Đức lúc bấy giờ. Triết học tiến hành
cuộc thỏa hiệp với tôn giáo và đành nhƣợng bộ nó trong nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn.
Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của xã hội Đức đƣơng thời phủ một
màu xám, đúng nhƣ lời khắc họa của Ăngghen: “Không ai cảm thấy mình dễ
chịu…Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn bao trùm cả nƣớc. Không có
giáo dục…không có tự do báo chí, không có dƣ luận xã hội - không có gì cả
ngoài sự đê tiện và tự tƣ tự lợi, lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót
thảm hại, đã xâm nhập toàn dân. Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng
sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì
dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã
chết rồi” [2, 754].

16


Trƣớc ảnh hƣởng nhƣ vũ bão của các cuộc cách mạng tƣ sản trên thế
giới, đặc biệt là Cách mạng Tƣ sản Pháp (1789), cùng với bối cảnh kinh tế xã
hội phức tạp, rối ren và đầy mâu thuẫn của nƣớc Đức lúc bấy giờ đã tác động
mạnh tới tƣ tƣởng của giai cấp tƣ sản Đức. Họ đã đặt ra vấn đề cách mạng,
nhƣng không phải trong thực tế mà chỉ trong tƣ tƣởng mà thôi. Bởi vì, không

cứu khoa học và triết học, bận rộn với công việc giảng dạy cũng nhƣ giải
thích các thành quả nghiên cứu của mình, I. Kant ít quan tâm đến các vấn đề
chính trị, ngại đụng chạm đến chính quyền nhà nƣớc. Nhƣng ông lại có một
tấm lòng nhân đạo cao cả, có thiện cảm với quần chúng nhân dân lao động
nghèo khổ. Trong suy nghĩ của nhà triết học diễn ra mâu thuẫn với các câu
hỏi: cần phải làm gì và làm nhƣ thế nào để đạt đƣợc hai mục đích: câu hỏi thứ
nhất, nói lên tƣ tƣởng khoa học, đề cao vai trò lý tính, phản ánh nguyện vọng
muốn thay đổi chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc bằng một xã hội dân chủ
tƣ sản, đem lại quyền lợi đích thực cho mọi công dân xã hội; câu hỏi thứ hai,
làm vừa lòng chính thể nhà nƣớc hiện tồn. Mâu thuẫn tâm lý đó chuyển thành
mâu thuẫn tƣ tƣởng và biểu hiện một cách cụ thể trong học thuyết triết học
của I. Kant. “Tƣ tƣởng của I. Kant biểu hiện những ƣu khuyết điểm của cách
mạng tƣ sản một cách đúng đắn” [39, 419].
Dƣới sự tác động của cả hai sức ép: một bên là sự cổ vũ mạnh mẽ của
các nhà Khai sáng, cách mạng tƣ sản Pháp - những tƣ tƣởng tiến bộ; một bên
là sức ép chính trị của chính quyền chuyên chế Phổ đƣơng nhiệm với chính
sách trừng trị hà khắc đối với những học giả có tƣ tƣởng chống đối nhà nƣớc,
I. Kant cũng đã chọn con đƣờng cải lƣơng, thỏa hiệp với luận điểm: “Tôi phải
dẹp bỏ nhận thức đi để dành chỗ cho lòng tin và thuyết giáo điều trong siêu
hình học” [21, 55].
Tóm lại, triết học I. Kant là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế - xã
hội Đức đầu thế kỷ XVIII; Nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hội
18


Đức với những mâu thuẫn phát sinh trong lòng xã hội đó. Đồng thời triết học
I. Kant cũng là sự khai phá tiến bộ trên lĩnh vực tƣ tƣởng có thể xem là biểu
tƣợng của “lý luận Đức của cuộc cách mạng tƣ sản Pháp”.
1.1.2. Những tiền đề khoa học tự nhiên
Mỗi một học thuyết triết học không bao giờ ra đời trên mảnh đất hiện

Khoa học tự nhiên có lịch sử phát triển lâu dài mà điểm khởi đầu là các
tri thức toán học, thiên văn học, vật lý học của các nhà thông thái Hy Lạp nhƣ
Talét, Pitago, Ơclit, Acsimet. Nhà thông thái đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ
đại đã phát minh ra các định lý hình học rất có giá trị và đƣợc Pitago tiếp tục
phát triển. Tƣ duy toán học Hy Lạp đạt tới đỉnh cao trong 13 cuốn “Cơ sở
hình học” của Ơclit đã tạo nên cả một thời đại phát triển rực rỡ của hình học
đó là những chuẩn mực tri thức có giá trị cho quá trình xây dựng và phát triển
khoa học toán học sau này. Acsimet là ngƣời đã áp dụng những tri thức toán
học vào hành động thực tiễn và thấy rằng toán học có vai trò vô cùng to lớn,
là chìa khóa vạn năng giải quyết đƣợc mọi vấn đề. Đó là những tƣ tƣởng đặt
nền móng cho toàn bộ hệ thống toán học cũng nhƣ khoa học tự nhiên phƣơng
Tây.
I. Kant trong quá trình nghiên cứu toán học đã rất lƣu ý đến tri thức
toán học nói trên. Ông nhận xét: “Từ rất xa xƣa mà lịch sử của lý tính con
ngƣời có thể vƣơn tới, toán học đã đi con đƣờng vững chắc của một khoa học
nơi dân tộc Hy Lạp đáng ngƣỡng mộ…Một ánh sáng đã lóe lên trong đầu óc
ngƣời đầu tiên (đó là Thales hay có thể một tên tuổi nào khác) khi ông chứng
minh tam giác cân. Đó là khi ông thấy rằng không thể dựa vào những gì ông
nhìn thấy trong hình tam giác, hay dò theo khái niệm đơn thuần về nó để từ
đó rút ra đặc điểm, trái lại phải tạo ra hình tam giác từ những gì tự ông nghĩ ra
một các tiên nghiệm dựa theo các khái niệm, và diễn tả nó (bằng sự cấu tạo –
Konstruktion); và thấy rằng để nhận thức chắc chắn về cái gì một cách tiên
20


nghiệm, ông không cần phải gán cho sự vật những thuộc tính nào khác ngoài
những gì đƣợc tất yếu rút ra từ cái mà bản thân ông đã đặt vào sự vật, phù hợp
với khái niệm của ông về nó” [21, 40 – 41]. Những nhận xét trên của I. Kant
đã cho chúng ta thấy rằng I. Kant tin vào những định lý, tiên đề toán học cũng
giống nhƣ các khái niệm, phạm trù triết học không phải đƣợc khái quát lên từ

qua đó mở rộng nhận thức của ta đều đi đến thất bại cũng tại vì giả định này.
Vì thế hãy thử nghiệm để biết đâu chúng ta có thể tiến lên tốt hơn trong việc
giải quyết các vấn đề Siêu hình học bằng cách giả định rằng các đối tƣợng
phải hƣớng theo nhận thức của chúng ta; nhận thức ấy sẽ phù hợp tốt hơn với
khả thể đƣợc đòi hỏi của một nhận thức tiên nghiệm về đối tƣợng, tức loại
nhận thức xác định một cái gì đó về đối tƣợng trƣớc khi đối tƣợng đƣợc mang
lại cho ta. Đó chính là tình hình đã xảy ra với ý tƣởng đầu tiên của Copecnic”
[21, 44]. I .Kant thực sự đã thực hiện một cuộc đảo lộn Copecnic trong triết
học của mình, đặt nền móng cho sự chuyển hƣớng trong triết học cổ điển Đức
sau này.
Cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất mở đầu bằng Copecnic và kết
thúc vào giữa thế kỷ XVIII đã bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa
học tự nhiên. Cuộc cách mạng đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với triết
học đƣơng thời. Bƣớc đầu nó đã khắc phục những trở ngại của phƣơng pháp
tƣ duy siêu hình thống trị suốt mấy thế kỷ, qua đó tạo tiền đề cho sự hình
thành một phƣơng pháp nhận thức mới – phƣơng pháp biện chứng, với sự kết
hợp giữa phân tích và tổng hợp, giữa quy nạp và diễn dịch, giữa trực quan
cảm tính và tƣ duy trừu tƣợng nhằm nhận thức thế giới một cách sâu sắc hơn.
Sự ảnh hƣởng của khoa học tự nhiên tới triết học nói chung và sự lựa
chọn đi theo chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của I. Kant nói riêng đƣợc ông đề
cập tới trong “Lời tựa cho lần xuất bản lần thứ hai (1787)” cho cuốn “Phê
phán lý tính thuần túy”: “Khi Galilei cho những viên bi có trọng lƣợng do ông
22


tự lựa chọn trƣợt xuôi theo một mặt phẳng nghiêng, hay Torricelli để cho
không khí mang một trọng lƣợng mà ông tự nghĩ ra từ trƣớc ngang bằng với
trọng lƣợng của một cột nƣớc đã biết, hay muộn hơn, khi Stahl chuyển hóa
kim loại thành vôi và lại chuyển hóa thành kim loại bằng cách rút bớt đi và
cho thêm trở lại một cái gì đấy nơi chúng, thì cũng có một tia sáng lóe lên

quan niệm về sự tồn tại của một vật chất đặc biệt: chất cháy không trọng
lƣợng, đặt nền móng cho sự cháy và ôxy hóa nói chung. Sau sự sụp đổ của
thuyết chất cháy, khoa học tự nhiên dù chƣa bác bỏ hết những “chất không
trọng lƣợng” khác nhƣ “chất nhiệt”, “chất ánh sáng”, “chất âm
thanh”…nhƣng đã khám phá ra rằng nhiệt, ánh sáng, âm thanh…đều là những
hình thức vận động khác nhau của vật chất. Với nguyên lý cấu tạo hóa học
khác nhau của vật thể do Đantơ khám phá ở Anh, ngƣời ta đã giải thích đƣợc
rằng những thay đổi về chất của vật thể đều phụ thuộc vào cấu tạo lƣợng của
nó. Sự phân tích quá trình hóa học đã làm thay đổi quan niệm máy móc coi
vận động chỉ là sự chuyển dịch đơn giản của sự vật. Gơtơ nêu lên nhiều quan
niệm tiên tiến về giải phẫu học so sánh và về địa chất học. Nghiên cứu vật hóa
thạch trong lòng đất, Cuvier chứng minh giới thực vật và động vật đều có sự
phát triển theo quá trình địa chất của trái đất. Tiến hóa luận của Lamác và
Wolff bác bỏ “dự thành luận” với quan niệm cho rằng mọi sinh vật sinh ra
đều có dự định sẵn, đều nhất thành, bất biến. Trong sinh học có dự báo về sự
phát triển trong sinh học - bào thai đã mang trong nó mọi dấu hiệu của một
sinh vật trƣởng thành, do đó không có gì mới xuất hiện mà không có nguồn
gốc của nó.
Vai trò của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của triết học một lần
nữa đƣợc Ph.Ănghen đánh giá trong tác phẩm “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo
chung của triết học cổ điển Đức”: “Trong suốt thời kỳ lâu dài từ Đềcáctơ đến
Hêghen, Từ Hốpxơ đến Phoiơbắc, cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên hoàn
24


toàn không phải là sức mạnh của tƣ duy thuần túy nhƣ họ tƣởng tƣợng. Trái
lại cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ, ngày
càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công
nghệ”[3, 407].
Nhƣ vậy, những thành tựu của khoa học tự nhiên đạt đƣợc đã đem đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status