Xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------

BOUNNHONG SOUVANNABOUTH

XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ Ở NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, NĂM 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------

BOUNNHONG SOUVANNABOUTH

XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ Ở NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60.34.04.12

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. MAI HÀ

HÀ NỘI, NĂM 2017

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, sinh viên… đã chia sẻ, động viên em trong suốt thời gian học tập và
thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 07 năm 2017
Học viên thực hiện

Bounnhong SOUVANNABOUTH


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN
LÀO.................................................................................................................... 7

1.1. Khái niệm và vai trò của khoa học và công nghệ .................................. 7
1.2. Xây dựng chiến lược khoa học và công nghệ ...................................... 14
1.3. Vai trò của việc xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công
nghệ ............................................................................................................. 25
Tiểu kết chương 1........................................................................................ 29
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ Ở NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO............... 31

2.1. Thực trạng xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ.......... 31
2.2. Thực trạng phát triển khoa học và công nghệ ở nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào từ năm 2013 đến nay ............................................................ 59
Tiểu kết chương 2........................................................................................ 71
Chương 3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ,


: Nhà xuất bản


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa, khoa học và công nghệ là một trong
những nhân tố quan trọng để nền kinh tế - xã hội quốc gia hội nhập quốc tế
thành công. Để phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) nhằm khẳng định
vai trò của nó trong xu thế hội nhập hiện nay, các quốc gia sẽ xây dựng chiến
lược phát triển KH&CN cho từng thời kỳ, coi đây là công cụ quan trọng để
định hướng phát triển KH&CN. Chiến lược KH&CN là một phần của chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, tổng hòa các chiến lược đó sẽ bảo đảm cho đất
nước phát triển bền vững, hội nhập quốc tế thành công. Tuy nhiên, để xây
dựng được một chiến lược phát triển KH&CN thì phải dựa vào tình hình thực
tế của nền kinh tế - xã hội của quốc gia và các xu hướng mới trong ngành
khoa học và công nghệ của thế giới.
Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào, việc phát triển
khoa học và công nghệ vẫn được coi là một lĩnh vực mới mẻ nên còn thiếu
kinh nghiệm trong việc quản lý và phát triển khoa học và công nghệ. Trong
khi đó, cơ sở vật chất, công nghệ và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
còn hạn chế. Chính vì khoa học và công nghệ chưa phát triển đã kéo theo nền
kinh tế - xã hội cũng chậm phát triển.
Năm 2010, với sự giúp đỡ của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
Bộ Khoa học và Công nghệ Lào đã phối hợp cùng với các cơ quan hữu quan
xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN của nước CHDCND Lào giai đoạn
2013 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Tuy có nhiều cố gắng nhưng do đây
là lần đầu xây dựng chiến lược phát triển KH&CN còn thiếu kinh nghiệm nên
Lào nên chiến lược này có nhiều khó khăn, hạn chế nhất định.
Chính vì lẽ đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Xây dựng chiến lược phát

- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: Vấn đề phát triển khoa học và
công nghệ; chiến lược phát triển KH&CN của nước CHDCND Lào;
2


- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: Vấn đề phát triển KH&CN; chiến
lược phát triển KH&CN của nước CHDCND Lào từ năm 2013 trở lại đây.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Vấn đề xây dựng chiến lược phát triển KH&CN là một vấn đề chưa
được nghiên cứu rộng rãi ở nước CHDCND Lào. Tuy nhiên, cũng có một số
công trình nghiên cứu sau đây có liên quan đến vấn đề này: “Sự cần thiết phải
xây dựng chiến lược phát triển KH&CN ở nước CHDCND Lào”, đề tài khoa
học cấp Bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ Lào, Viêng Chăn, năm 2011; “Chiến
lược phát triển KH&CN của nước CHDCND Lào giai đoạn năm 2013 - 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”, đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Khoa học và Công
nghệ, Viêng Chăn, năm 2014; “Chiến lược phát triển KH&CN của nước
CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay” luận văn tốt nghiệp đại học, Đại
học quốc gia Lào của Vilasone Vongphachanh, Viêng Chăn, năm 2015. Dưới
góc độ luận văn thạc sĩ thì hiện tại ở nước CHDCND Lào chưa có một công
trình nào nghiên cứu về vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu trên phần nào đã phản ánh được những vấn
đề xây dựng chiến lược phát triển KH&CN. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác
giả, các công trình này chỉ để cập đến sự cần thiết phải xây dựng chiến lược
phát triển KH&CN; giới thiệu về Chiến lược phát triển KH&CN của nước
CHDCND Lào năm 2013 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 chứ chưa đánh
giá chuyên sâu Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2013 - 2020 và tẩm
nhìn đến năm 2030; phân tích, đánh giá về thực trạng phát triển KH&CN từ
khi thực hiện chiến lược phát triển KH&CN này.
4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

4


(iv) Thực trạng phát triển KH&CN ở nước CHDCND Lào từ năm 2013
đến nay như thế nào?
(v) Cần có quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp gì để phát triển
KH&CN ở nước CHDCND Lào trong thời gian tới?
Giả thiết nghiên cứu được đặt ra là trình độ KH&CN ở nước CHDCND
Lào đang trong giai đoạn phát triển, có nhiều điều kiện để phát triển một nền
KH&CN hiện đại trong thời gian tới.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả luận văn sẽ vận dụng các
phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử của để nghiên cứu đề tài. Ngoài ra, tác giả luận văn còn vận dụng một
số các phương pháp nghiên cứu khoa học đặc thù như: phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh,…
7. Đóng góp của đề tài
Với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận văn hy vọng đóng
góp những vấn đề sau:
- Luận văn tiếp tục bổ sung cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược phát
triển KH&CN nói chung và nước CHDCND Lào nói riêng;
- Khi nghiên cứu về chiến lược phát triển KH&CN của Trung Quốc,
Mỹ, luận văn hy vọng sẽ đúc rút ra một số kinh nghiệm cho việc xây dựng
chiến lược phát triển KH&CN của nước CHDCND Lào;
- Kết quả nghiên của luận văn về thực trạng phát triển KH&CN; chiến
lược phát triển KH&CN của Lào sẽ tham mưu, tư vấn, cung cấp các giải pháp
cho việc xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển KH&CN của nước
CHDCND Lào;

5

thành xã hội của con người rất phong phú, đa dạng, có thể là trực tiếp, có thể
là gián tiếp. Nhưng dù là trực tiếp hay gián tiếp, khoa học đều có ảnh hưởng
ngày càng lớn đến đời sống xã hội [3, tr.5].
Là một hình thái ý thức xã hội, khoa học có quan hệ biện chứng với tồn
tại xã hội và với các hình thái ý thức xã hội khác. Tuy nhiên, điều khác nhau
căn bản giữa khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác là ở chỗ: Trong các
hình thái ý thức xã hội khác, nhận thức lý tính về sự tồn tại và về thế giới nói
chung được sắp xếp một cách có hệ thống là mục đích thứ yếu, thì trong khoa
học đó lại là mục đích chủ yếu [3, tr.6]. Khoa học đóng vai trò như là tiền đề,
cơ sở cho việc hình thành và phát triển các hình thái ý thức xã hội khác. Các
hình thái ý thức xã hội khác lại có tác động quan trọng ở những mức độ khác
nhau đối với việc khám phá, truyền bá, ứng dụng các tri thức khoa học. Nhờ
đó mà có tác động đến khoa học nói chung.
7


Thứ hai, khoa học là một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp xã hội. Sự phát
triển của xã hội làm thay đổi hoạt động khoa học từ chỗ đơn lẻ, mang tính cá biệt
của một hay một nhóm các nhà khoa học đến chỗ nó ngày càng trở thành nhu
cầu không thể thiếu được của sản xuất, của hoạt động sản xuất nói chung và của
nhân loại. Theo đó, đội ngũ những người lao động khoa học được hình thành và
ngày càng đông đảo, lao động khoa học đã thực sự trở thành một lĩnh vực hợp
thành đời sống xã hội. Lao động họa học là sáng tạo ra các tri thức mới về quy
luật của thế giới, về giải pháp, về những con đường, những biện pháp tác động
ngày càng có hiệu quả và thế giới khách quan,… đã thực sự trở thành một nghề
nghiệp xã hội đặc thù. Tính đặc thù trong lao động khoa học do chính những đặc
trưng vốn của của hoạt động khoa học quy định. Đồng thời, tính đặc thù cũng thể
hiện rất rõ trong quá trình đào tạo, sử dụng, đào tạo lại đội ngũ các nhà khoa học
và những người lao động khác trong lĩnh vực này [3, tr.7].
Thứ ba, khoa học là hệ thống tri thức của nhân loại về tự nhiên, xã hội

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ, phương tiện dùng để biết đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Theo Điều 2 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 của nước
CHDCND Lào đã nêu rõ: “Công nghệ là quá trình chuyện đổi các nguồn lực
thành sản phẩm để phục vụ xã hội bằng việc sử dụng các phương tiện, công
cụ, năng lượng, phương pháp và cách tiếp cận cụ thể”.
Đôi khi người ta cũng gọi công nghệ là kỹ thuật; theo cách hiểu hiện
đại thì công nghệ bao hạm các nội dung rộng hơn, ý nghĩa của mỗi từ được
hiểu như sau:
- Kỹ thuật thường được hiểu là tập hợp những máy móc, thiết bị,
phương tiện và công cụ,… được con người tạo ra và sử dụng để tác động vào
đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm và phục vụ cho con người [3, tr.8].

9


- Công nghệ là tập hợp những tri thức (tương ứng, phù hợp với một tập
hợp kỹ thuật nào đó) bao gồm những tri thức về phương pháp, kỹ năng, kinh
nghiệm, bí quyết,… được sử dụng theo một quy trình hợp lý tác động vào đối
tượng lao động tạo ra sản phẩm để phục vụ con người.
Công nghệ và kỹ thuật có mối liên quan mật thiết với nhau; trong nhiều
trường hợp, về phương diện thuật ngữ, chúng có thể coi là thống nhất. Tuy
nhiên, khái niệm công nghệ rộng hơn, hàm chứa trong nó những nội hàm nói
về kỹ thuật (phần cứng) và tập hợp những tri thức (phần mềm).
Cũng có thể tiếp cận khái niệm công nghệ dựa theo sự phân biệt các
yếu tố vật chất, khả năng sáng tạo, chứ đựng và sử dụng tập hợp các tri thức
như là những nguồn lực to lớn cần khai thác. Theo đó, công nghệ bao hàm:
Nguồn lực thông tin (I), nguồn lực kỹ thuật (T), nguồn lực con người (H) và
nguồn lực tổ chức (O). Trong đó, nguồn lực thông tin (I) là trung tâm [3, tr.9].
Bước vào thế kỷ XXI, hướng công nghệ chủ yếu của những thập kỷ

vận động của tự nheien mới lợi dụng được và tránh được thiệt hại do những
vận động đó gây ra [4, tr.14]. Vai trò của khoa học tự nhiên là chỉ ra cho con
người biết được những quy luật vận động của tự nhiên để con người đón được
cái lợi và tránh được cái hại cho mình.
- Về công nghệ. Công nghệ có vai trò quan trọng đối với xã hội và con
người, cụ thể là:
Trong công nghệ có cộng cụ lao động là yếu tố có ý nghĩa kinh tế - xã hội
rất lớn. Công cụ lao động thay thế con người tác động vào giới tự nhiên, tạo
được mật độ lao động cao để có cường độ lao động lớn trong một địa bàn hẹp,
tức là không thuận tiện về “công” nhưng thích hợp về “thế” và nhân sức mạnh
của con người. Đó cũng chính là con đường căn bản để tăng năng suất lao động.
Trong công nghệ có yếu tố năng lượng, nó thay cho năng lượng hữu
hạn của cơ bắp, tạo ra sự chuyển độ của công cụ, đặc biệt là cho phép tạo ra
11


công cụ lớn, quy mô và chuẩn xác cao khi gia công chi tiết sản phẩm mà năng
lượng cơ bắp của con người, của động vật còn hạn chế [3, tr.13].
Trong công nghiệp có yếu tố vật liệu, nó quyết định chất lượng của
công cụ, làm tăng độ bền, độ chính xác, độ an toàn khi con người sử dụng
công cụ và nó cũng quyết định chất lượng, giá thành, sự dồi dào của sản phẩm
làm ra từ vật liệu đó.
Trong công nghệ có yếu tố quy trình, phương pháp, bí quyết công nghệ
có tầm quan trọng đối với con người, vì đó là con trường phải qua và rút ngắn
quy trình, hạn chế độc hại, tận thu vật chất khi cải biến vật chất. Đó cũng
chính là hướng phấn đấu của con người tìm ra các quy trình công nghệ mới
nhằm tăng nhanh hoặc rút ngắn chu kỳ sản xuất, tận thu vật liệu, giảm phế
thải và độc hại cho môi trường.
Công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin đã hỗ trợ giúp đắc
lực cho công tác quản lý, tinh giản bộ máy quản lý mà công việc điều hành và

đấu tranh chống tội phạm hình sự,…
Khoa học xã hội còn chỉ ra cho con người cách cảm thụ cái đẹp, cũng
chính là trao cho con người phương tiện làm người, đó là cách làm việc, cách
lao động, giải trí, cảm nhận và hưởng thụ nghệ thuật,… Khoa học xã hội có
sức mạnh to lớn, điển hình là sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin, sức mạnh
của nhiều tôn giáo, sức mạnh của các tác phẩm văn học nghệ thuật.
Vai trò và tác dụng của khoa học xã hội rất phong phú, đa dạng nhưng
tập trung vào ba mặt chính: Chỉ cho con người biết hợp tác, biết đấu tranh,
biết hoàn thiện và bổ sung kiến thức cho mình.
Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có vai trò quan trọng đời sống xã
hội loài người như đã nói ở trên, chúng hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau. Đó là:
- Khoa học tự nhiên tạo ra nhu cầu và cung cấp các tri thức, các phương
tiện làm việc, làm hậu thuẫn cho sự phát triển của khoa học xã hội. Sự tiến bộ
13


của khoa học và công nghệ quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất
dẫn đến sự phát triển của quan hệ sản xuất. Vai trò tiến bộ của khoa học và
công nghệ đối với sự phát triển của các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ sản
xuất nói riêng, là đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội, cũng như tạo ra
phương tiện hiện đại để nghiên cứu chính xác các hiện tượng xã hội.
- Khoa học xã hội mà nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chúng, chủ
nghĩa Mác - Lênin, là thế giới quan khoa học giúp cho các nhà khoa học định
được hướng đi đúng đắn trong quá trình nghiên cứu mọi lĩnh vực khoa học tự
nhiên và công nghệ, cũng như góp phần hoàn thiện các quan hệ xã hội của
khoa học xã hội, tạo điều kiện môi trường xã hội tốt đẹp, làm tiền đề cho sự
phát triển các tài năng khoa học, trong đó có khoa học tự nhiên và công nghệ.
Đối với các ngành cụ thể như khoa học mỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật,… góp
phần hướng thiện và hướng các hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học tự
nhiên và công nghệ vào sự nghiệp phục vụ con người, vì hòa bình hữu nghị

sự khác biệt chủ yếu chỉ thể hiện ở việc sắp xếp mối quan hệ giữa các yếu tố:
mục tiêu, con đường và nguồn lực (phương tiện). Một số tác giả không đưa
phần xác định mục tiêu vào nội dung của “chiến lược” và coi chiến lược là
công cụ, là con đường để đạt tới mục tiêu đề ra. Một số khác lại cho rằng
nhiệm vụ của chiến lược phải giải quyết tổng hợp ba vấn đề là: định rõ mục
tiêu cần đạt, chỉ rõ con đường cần đi, định hướng phân bổ nguồn lực để đạt
được mục tiêu lựa chọn [7, tr.4-5].
Việc làm rõ mục tiêu cần đạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thiếu mục
tiêu hành động chung các phân hệ sẽ chạy theo mục tiêu cục bộ của mình và
thậm chí nhiều khi còn chống đối lẫn nhau và không thể có được hành động
thống nhất. Mục tiêu thống nhất cũng sẽ quy định tiêu chuẩn đánh giá tính hợp
lý của hướng hành động lựa chọn và đóng vai trò là thước đo hiệu quả để đạt
được và định hướng chung cho hoạt động của toàn hệ thống. Nhiều tác giả cho
15


rằng mục tiêu xác định không đúng đắn có nghĩa là đã theo đuổi, giải quyết
một vấn đề đặt ra không “trúng” từ đầu và điều đó sẽ dẫn tới sự phung phí các
nguồn lực, như vậy, còn nguy hiểm hơn cả trường hợp giải quyết không có
hiệu quả một vấn đề được đặt ra đúng đắn. Như vậy, cho dù cách phát biểu có
khía cạnh chưa hoàn toàn thống nhất, nhưng có thể cần ghi nhận là trong quá
trình xây dựng chiến lược phải quan tâm đầy đủ tới cả ba mặt, đó là:
- Làm rõ mục tiêu
- Lựa chọn cách đi (quan điểm, cách tiếp cận) và
- Phương thức phân bố nguồn lực (theo thứ tự ưu tiên).
* Về khái niệm chiến lược phát triển KH&CN
Theo tác giả B. Benev, “chiến lược phát triển KH&CN được hiểu là sự
xác định các phương hướng chủ yếu, các con đường phát triển, các vấn đề ưu
tiên và các nỗ lực hướng đích của Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN” [7,
tr.5]. Còn theo các học giả Trung Quốc: “Chiến lược phát triển KH&CN là

tầng xã hội. Chính sách công nghệ thực hiện chức năng là “công cụ” để thực
hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế - xã hội nói chung và trực tiếp là
chính sách cơ cấu. Chính sách công nghệ luôn phải đảm bảo một hệ số vượt
trước hợp lý về mặt công nghệ. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong giai
đoạn cách mạng công nghệ năng động hiện nay. Để có thể định ra một chiến
lược phát triển KH&CN đúng đắn không thể chỉ quan tâm tới các quy luật
phát triển nội tại của KH&CN mà còn phải xem xét đầy đủ tới các ảnh hưởng
của môi trường kinh tế - xã hội. Môi trường này bao gồm: người đặt hàng;
người đảm bảo các nguồn lực; và các thể chế xã hội đảm bảo cho việc phát
triển và phổ cập các thành tựu KH&CN [7, tr.6]. Trong đó cần đặc biệt lưu ý
tới các khía cạnh sau:
- Cần làm rõ những nhu cầu kinh tế - xã hội của đất nước đang và sẽ
đặt ra trong tương lai, đòi hỏi có sự tham gia của hệ thống KH&CN;
17


- Cần đánh giá (dự báo) các xu thế phát triển KH&CN của thế giới và
tác động khả dĩ tới việc lựa chọn con đường phát triển khoa học và đổi mới
công nghệ của đất nước;
- Cần lượng định khả năng huy động các nguồn lực của quốc gia và từ
bên ngoài có thể đầu tư cho phát triển khoa học và đổi mới công nghệ.
1.2.2. Một số phương pháp luận về xây dựng chiến lược phát triển
khoa học và công nghệ
* Phương pháp Technology Foresight (Nhìn trước Công nghệ)
Có nhiều định nghĩa về Foresight đã được đưa ra, nhưng có một định
nghĩa từ Trung tâm Foresight công nghệ (CTF) của APEC được chấp nhận
nhiều hơn, theo đó “Foresight là những ý đồ mang tính hệ thống để nhìn vào
tương lai phát triển của KH&CN, kinh tế-xã hội, và những tương tác giữa các
yếu tố đó, nhằm đạt tới những lợi ích về kinh tế, xã hội, và môi trường” [7,
tr.6]. Định nghĩa này gợi ra một số điểm đáng lưu ý là: những ý đồ nhìn vào

thuộc lẫn nhau, đồng thời những biến đổi bất ngờ tại mọi nơi, mọi lúc, đều có
thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế và xã hội [7, tr.7].
- Điều tra Delphi. Phương pháp này bao gồm nhiều vòng hỏi ý kiến
chuyên gia dưới dạng phiếu hỏi, nhằm tìm kiếm một sự hội tụ, sự đồng thuận,
về vấn đề đặt ra. Giả định ở đây là: sự đồng thuận của một nhóm chuyên gia
có thể là
tin cậy hơn so với ý kiến từng cá nhân. Một lợi thế và ưu điểm của phương
pháp này là tính bí mật độc lập, và sự tham gia rộng rãi của các đối tượng.
Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi tốn nhiều thời gian và kinh phí.
- Phương pháp tham vấn. Phương pháp này sử dụng các tiếp cận rộng
rãi ý kiến của nhiều cộng đồng, nhằm tham vấn về các loại tương lai ở tầm dài
hạn, đó là: tương lai có thể xảy ra; tương lai mong muốn; và tương lai ưa
thích. Trong đó tương lai có thể là bao gồm hàng loạt phương án (kịch bản) có
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status