Kế toán xác định kết quả kinh doanh tại công ty vật liệu xây dựng Đông Anh - Pdf 47

Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại của xã hội loài người. Trong
đó mỗi một đơn vị sản xuất kinh doanh lại là một tế bào của nền kinh tế quốc
dân, nơi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm, thực
hiện cung cấp các lao vụ, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi sự đa dạng và phong phú cả về
số lượng, chất lượng của các loại sản phẩm. Điều đó đặt ra câu hỏi lớn cho
các doanh nghiệp sản xuất là sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như
thế nào? Vì thế các doanh nghiệp cần phải đặc biệt quan tâm đến khách hàng,
nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để sản xuất và cung ứng những sản phẩm
phù hợp. Muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải bằng mọi cách
đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng, được người tiêu dùng chấp nhận và thu
được lợi nhuận nhiều nhất có nghĩa là doanh nghiệp phải thực hiện tốt công
tác tiêu thụ sản phẩm. Một trong những yếu tố quyết định điều đó là phải thực
hiện tốt công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm. Hạch toán tiêu thụ thành
phẩm sẽ cho doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát về kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình một cách cụ thể thông qua các chỉ tiêu doanh thu và
kết quả lỗ, lãi. Đồng thời còn cung cấp những thông tin quan trọng giúp cho
các nhà quản lý phân tích, đánh giá, lựa chọn các phương án sản xuất, kinh
doanh để đầu tư vào doanh nghiệp có hiệu quả nhất.
Qua quá trình học tập và thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty cổ phần
tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh, em đã nhận thức được tầm quan
trọng của công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm. Chính vì vậy mà em đã
chọn đề tài:
Tổ chức hạch toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết
quả tiêu thụ tại Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh.
Chuyên đề thực tập của em gồm hai phần chính:
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
1
Chuyên đề thực tập

kỳ này nền kinh tế nước ta chưa đổi mới, vẫn là nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp, công ty được liên hiệp giao cho nghĩa vụ và quyền hạn kinh
doanh vật tư và sản xuất theo chỉ tiêu củ hội liên hiệp giao cho và luôn luôn
hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoach mà cấp trên đã đề ra.
* Giai đoạn II (1985 – 1989): Xí nghiệp chuyển sang tổ chức hạch toán
kinh tế độc lập với nghĩa vụ chính là hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và
mục tiêu nghành nghề. Theo quy định ban đầu là tổ chức tiếp nhận và cung
ứng vật tư thiết bị phục vụ cho toàn liên hiệp.
* Giai đoạn III (1989 – 1998): Thời kỳ đầu của giai đoạn này nền kinh
tế của nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Xí nghiệp phải tự tìm đầu vào và đầu ra cho
sản phẩm của mình, tự xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Do đó xí
nghiệp gặp nhiều khó khăn, giá cả vật tư theo giá thị trường, vận tải gặp rất
nhiều khó khăn vì máy móc, trang thiết bị lạc hậu, chi phí xăng dầu lên cao
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
3
Chuyên đề thực tập
nhưng giá cước vẫn không tăng (do phải cạnh tranh). Trước tình hình đó, để
tồn tại và phát triển phù hợp với nền kinh tế đổi mới, giám đốc xí nghiệp đã
bàn bạc với tập thể cán bộ xí nghiệp, được phép của tổng liên hiệp, mở rộng
sản xuất bằng cách liên doanh với nhà máy tấm lợp Amiăng Ximăng Đồng
Nai lắp ráp một dây chuyền sản xuất tấm lợp Amiăng và đồng thời xí nghiệp
dùng vốn tự có mua sắm phương tiện vận tải phục vụ cho công tác sản xuất
của xí nghiệp.
Ngày 20/02/1993 xí nghiệp được thành lập lại theo quyết định số
584/BXD-TCLĐ và đến tháng 1 năm 1996 Xí nghiệp cung ứng vật tư vận tải
đổi tên thành Xí nghiệp vật tư sản xuất vật liệu xây dựng Đông Anh và Tổng
liên hiệp thi công cơ giới đổi tên thành Tổng công ty xây dựng và phát triển
hạ tầng thuộc bộ xây dựng với nhiệm vụ chính là sản xuất tấm lợp kim loại.
Do biết chú trọng tốt đến các yêu cầu đòi hỏi của thị trường mà từ năm 1994

Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
Phó giám đốc
Phòngt
ổ chức
hành
chính
Phòng
kinh tế
kế
hoạch
Phòng
công
nghệ
cơ điện
Phòng
tài
chính
kế toán
Phòng
kinh
doanh
tiếp
thị
Phòng
KCS
Phân
xưởng
sản

chính của công ty, có trách nhiệm quản lý vốn, quỹ, tài sản, bảo toàn và sử
dụng vốn của công ty có hiệu quả, lập báo cáo quyết toán hàng quý, hàng năm
lên cơ quan cấp trên, cơ quan thuế và các đối tượng khác.
* Phòng tổ chức-hành chính: Có nhiệm vụ về công tác tổ chức, công
tác hành chính, bảo vệ, an ninh, y tế... cụ thể là phân công lao động, xây dựng
các nội quy, quy chế, kỷ luật lao động...
* Phòng công nghệ cơ điện: Có nhiệm vụ về lĩnh vực quản lý kỹ thuật,
máy móc điện và các thiết bị khác.
* Phòng kinh doanh tiếp thị: Tìm nguồn hàng, lập kế hoạch ký kết các
hợp đồng kinh tế về cung cấp nguyên liệu, vật tư cho sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm.
* Phòng kinh tế-kế hoạch: Tham mưu cho tổng giám đốc xây dựng sản
xuất, kỹ thuật, tài chính, đời sống... xây dựng dự án, kế hoạch giá thành các
công trình...
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
6
Chuyên đề thực tập
* Phòng KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm): Chịu trách nhiệm kiểm
tra chất lượng sản phẩm, có trách nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện quy định,
pháp luật nhà nước, quyết định và chỉ thị của cơ quan cấp trên về kiểm tra
chất lượng sản phẩm.
* Phân xưởng sản xuất tấm lợp AC (PXTLAC): Là một phân xưởng
của công ty chuyên sản xuất tấm lợp Amiăng xi măng.
Đội xe vận tải và đội xây lắp: Làm nhiệm vụ vận chuyển nguyên vật
liệu Amiăng xi măng và vận chuyển tấm lợp theo yêu cầu của khách hàng.
Chuyên xây dựng và lắp đặt mới theo đơn đặt hàng.
2. Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Từ ngày thành lập và hoạt động đến nay, công ty có nhiệm vụ chính là
sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho nhu cầu xây dựng của xã hội. Trong
thời buổi cạnh tranh kinh tế thị trường, công ty đã không ngừng cải tiến máy

Bảo dưỡng trong bể nước
Để nguội dỡ khuôn
Nồi hơi
Nghiền ba-via
Nhập kho
Kho nguyên vật liệu
Giấy
amiăng
Ximăng
Nước đục
Ngâm-xé
Cân
Cân
Cân Nghiền
Máy trộn
holander

Nước
trong
Đong
Bể bùn
Bể phân phối Pulper
Bể xeo
Băng tải dạ
Xi lanh tạo tấm phẳng
Băng tải cao su
Xi lanh tạo sóng
Dưỡng hộ tự nhiên tại khuôn
Buồng hấp sấy kín
Nước đã khử

toán với ngân hàng,
KT vật liệu, kế toán
với người bán...
Thủ quỹ
Chuyên đề thực tập
là ngắn, vì vậy mà không có chi phí sản phẩm dở dang nên cuối kỳ không
phải đánh giá sản phẩm dở dang.
III. Tổ chức hạch toán thành phẩm tại Công ty cổ phần tấm lợp và vật
liệu xây dựng Đông Anh.
1. Đặc điểm về thành phẩm của Công ty
Sản phẩm chính của công ty bao gồm 2 loại là: Tấm lợp amiăng-
ximăng (tấm lợp AC) và tấm lợp kim loại (tấm lợp KLM). Đây là các loại vật
liệu phục vụ cho các công trình xây dựng ở giai đoạn hoàn thiện.
Đặc điểm của sản phẩm: Sản phẩm của công ty trước hết có tính đa
dạng và chất lượng sản phẩm cao bởi sản phẩm được sản xuất trên dây truyền
công nghệ hiện đại, công nghệ Châu Âu, vật liệu được nhập từ Úc, Nhật, Hàn
quốc, Đài Loan theo các tiêu chuẩn JIS của Nhật, ASTM của Mỹ và AS của
úc.
Tấm lợp amiăng-ximăng: Do công ty sản xuất chất lượng cao, có uy tín
trên thị trường mang nhãn hiệu độc quyền “Đông Anh” theo quyết định số
0186/QĐNH ngày 17/01/1998 của cục sở hữu công nghiệp Việt Nam.
Tấm lợp kim loại: Được sản xuất trên dây truyền hiện đại, công nghệ
Thuỵ Điển và Phần lan, có các dạng sóng ngói, sóng vuông, Klip-lok, vòm và
các phụ trình công nghiệp và dân dụng.
Nhìn chung sản phẩm của công ty đa dạng, chịu nhiệt tốt, phù hợp với
khí hậu nóng ẩm nước ta và kiến trúc á Đông, có độ bền cao (trên 20 năm),
giá rẻ và rất thuận cho việc lợp các công trình, có độ dài bất kỳ theo ý muốn.
Sản phẩm tấm lợp có một thị trường tiêu thụ rất rộng lớn nhất là tại các khu
công nghiệp, thành phố, các tỉnh... nơi có các công trình xây dựng.
Sản phẩm của công ty đã được cung cấp cho nhiều dự án quan trọng

17727500000
3. Hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp thành phẩm ở công ty.
Để phù hợp với quy mô sản xuất của doanh nghiệp, Công ty cổ phần
tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh đã áp dụng hình thức kế toán Nhật ký
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
12
Chuyên đề thực tập
chung và áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê
khai thường xuyên. Để quản lý thành phẩm một cách chặt chẽ về mặt số
lượng, giá trị theo từng loại thành phẩm Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu
xây dựng Đông Anh đã tổ chức kiểm tra chi tiết và tổng hợp thành phẩm một
cách khoa học và hợp lý. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được phản ánh
vào các chứng từ kế toán. Công tác kế toán thành phẩm trong Công ty sử
dụng 2 loại chứng từ là phiếu nhập kho thành phẩm và hóa đơn giá trị gia tăng
kiêm phiếu xuất kho.
3.1. Hạch toán chi tiết thành phẩm
3.1.1. Chứng từ kế toán và thủ tục nhập xuất kho thành phẩm
- Đối với thành phẩm nhập kho: Khi có thành phẩm hoàn thành Biên
bản nghiệm thu sản phẩm hoàn thành do phòng KCS lập. Phòng kinh doanh
viết phiếu nhập kho thành phẩm, phiếu nhập kho thành phẩm được lập thành
3 liên (đặt giấy than viết 1 lần):
Liên 1: Lưu tại quyển ( Phòng kinh doanh)
Liên 2, liên 3: Giao cho người nhập.
Người nhập hàng mang 2 liên phiếu nhập kho xuống kho thành phẩm
để nhập hàng. Thủ kho kiểm tra số lượng và chất lượng hàng nhập, ghi số
lượng thực nhập và cột thực nhập, ký xác nhận vào cả 2 liên sau đó vào thẻ
kho. Định kỳ thủ kho đối chiếu với kế toán theo dõi thành phẩm ký xác nhận
vào thẻ kho và giao một liên cho kế toán. Còn một liên là chứng từ kế toán để
tính lương cho công nhân theo số lượng sản phẩm hoàn thành nhập kho.
Ví dụ: Ngày 5 tháng 1 năm 2005, Phân xưởng sản xuất tấm lợp AC

Giám đốc và phòng kinh doanh, thủ kho tiến hành nhập kho và phiếu nhập
kho được lập thành 3 liên.
- Đối với thành phẩm xuất kho: Khi xuất kho thành phẩm (Căn cứ vào
hợp đồng, phiếu đặt mua hàng hoặc yêu cầu mua hàng) đã được giám đốc
duyệt, phòng kinh doanh viết hoá đơn GTGT. Hoá đơn được lập thành 3 liên
(đặt giấy than viết 1 lần):
Liên 1: Lưu trên quyển hoá đơn
Liên 2: Giao cho khách hàng
Liên 3: Dùng để thanh toán
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
14
Chuyên đề thực tập
Người mua mang 2 liên hoá đơn (liên 2, 3) tới kho thành phẩm để nhận
hàng. Thủ kho kiểm tra số lượng hàng xuất, ghi số lượng thực xuất vào cột
thực xuất, ký xác nhận vào cả 2 liên. Liên 2 giao cho khách hàng, liên 3 dùng
để vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho đối chiếu với kế toán theo dõi thành phẩm ký
xác nhận vào thẻ kho và giao liên 1 cho kế toán để thanh toán với khách hàng.
Ví dụ: Ngày 15 tháng 1 năm 2005 xuất 5000 tấm lợp AC cho Công ty
TNHH thương mại và sản xuất Ba Tám theo hợp đồng kinh tế số 350/BT-VT
ký ngày 20/12/2004.
HÓA ĐƠN GTGT
Liên 3 (Dùng để thanh toán) No: TM
Ngày 15 tháng 1 năm 2005
Đơn vị bán hàng : Công ty Cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh
Địa chỉ : Đông Anh – Hà Nội
Điện thoại : 048833831
Họ và tên người mua hàng : Nguyễn Thị Tám
Đơn vị : Công ty TNHH thương mại và SX Ba Tám
Địa chỉ : Thị trấn Đông Anh – Hà Nội
Hình thức thanh toán : Tiền mặt

Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh
TÊN KHO: KHO THÀNH PHẨM
THẺ KHO
Ngày lập thẻ :31/01/2005
Tên thành phẩm : Tấm lợp AC
Đơn vị tính : Tấm
Mã số :
Chứng từ
Diễn giải
Số lượng Ký
xác
nhận
Ngày
tháng
Số phiếu
Nhập Xuất Tồn
Nhập Xuất
Kiểm kê 01/01/2005 3000
03/01 13 Nhập từ phân xưởng TL AC 25 000
05/01 15 Nhập từ phân xưởng TL AC 23 000
15/01 131083 Xuất cho CT TNHH TM và
sản xuất Ba Tám.
5 000
............................
Cộng 1 010 000 1 013 000 0
Như vậy việc hạch toán chi tiết thành phẩm tại kho được thực hiện trên
thẻ kho một cách thường xuyên liên tục theo chỉ tiêu số lượng.
* Tại phòng kế toán: Việc hạch toán chi tiết thành phẩm được theo dõi
trên sổ chi tiết thành phẩm.
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D

tháng
SL TT SL TT SL TT
13
15
03/01
05/01
15/01
PX TL
AC
BaTám
154
154
632
......
25
23
5
28
51
46
Cộng 17,5 1010 17675000 1013
17727500
0 0
Hàng tháng kế toán theo dõi thành phẩm cộng sổ chi tiết và tiến hành
đối chiếu với sổ kế toán tổng hợp thành phẩm, thẻ kho. Như vậy trên sổ chi
tiết thành phẩm ngoài việc theo dõi thành phẩm về số lượng, kế toán chi tiết
thành phẩm còn theo dõi cả về mặt giá trị của thành phẩm.
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
17
Chuyên đề thực tập

0
0
0
Cộng 52500 21 057 500 21 110 000 0
3.2. Hạch toán tổng hợp thành phẩm
Ngoài việc theo dõi chi tiết tình hình nhập – xuất – tồn kho thành phẩm, kế
toán trong Công ty còn phải phản ánh tình hình này theo chỉ tiêu giá trị trên sổ
kế toán tổng hợp.
3.2.1. Tài khoản sử dụng
- Tài khoản 155: Thành phẩm
- Tài khoản154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Tài khoản 632: Giá vốn hàng bán
Xuất phát từ đặc điểm của Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây
dựng Đông Anh là áp dụng hình thức hạch toán hàng tồn kho theo phương
pháp kê khai thường xuyên. Theo phương pháp này khi nhập, xuất kho thành
phẩm kế toán phản ánh vào sổ kế toán theo giá vốn (giá thành sản xuất), điều
này phụ thuộc vào kỳ tính giá thành. Theo quy định của Công ty thì kỳ tính
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
18
Chuyên đề thực tập
giá thành phẩm vào cuối tháng. Giá thành của sản phẩm xuất kho được tính
theo phương pháp giá bình quân cả kỳ dự trữ.
Cuối tháng bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
tiến hành tính giá thành của các sản phẩm xuất kho trong kỳ.
3.2.2. Trình tự hạch toán
Trong tháng 01/2005, kế toán tính giá thành sản phẩm tính như sau:
- Giá thành đơn vị của sản phẩm Tấm lợp AC là: 17 500đ/tấm
- Tổng giá thành nhập kho của sản phẩm tấm lợp AC là: 17675000000đ
- Tổng giá thành hai loại sản phẩm nhập kho của Công ty là:
21057500000đ

Tháng 01 năm 2005
Đơn vị tính: đồng
Trang số 31
Chứng từ Diễn giải TK
ĐƯ
Số tiền
Số
hiệu
Ngày
tháng
Nợ Có
Cộng mang sang 90540557183 90540557183
PN 31/01
.............
Nhập kho thành phẩm tháng 1
Thành phẩm
Sản xuất kinh doanh dở dang
155
154
21057500000
21057500000
PX 31/01 Xuất kho thành phẩm
Giá vốn hàng bán
Thành phẩm
632
155
21110000000
21110000000
KC 31/01 Kết chuyển giá vốn hàng bán
Xác định kết quả kinh doanh

421
419886198
419886198
Cộng 178896996927 178896996927
Kế toán tổng hợp Kế toán trưởng Giámđốc
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
Bảng số 5
Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
20
Chuyên đề thực tập
SỔ CÁI TK 155
Tháng 01 năm 2005
Tên Tài khoản: Thành phẩm
Đơn vị: 1000đ
Ngày
chứng
từ
Số hiệu
chứng
từ
Nội dung chứng từ
Tài khoản
đối
ứng
Số tiền nợ Số tiền có
Nợ Có
03/01
05/01
15/01

doanh nghiệp có hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt phải là một doanh nghiệp
tiêu thụ sản phẩm tốt và có một thị trường tốt. Nhất là trong giai đoạn hiện
nay khi tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo quy luật của cơ chế thị trường
thì các biện pháp và chính sách để tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp càng
phức tạp và cần cụ thể tăng cường thường xuyên hơn.
Sản phẩm tấm lợp của công ty là một loại hàng hoá thuộc lĩnh vực vật
liệu xây dựng, nó dùng để lợp mái các công trình, nhà xưởng, kho tàng, nhà
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
21
Chuyên đề thực tập
ở... Từ ngày sản phẩm tấm lợp xuất hiện trên thị trường đến nay, nhờ có
những cố gắng và phát huy trong việc duy trì thị trường cũ tiến tới mở rộng
thị trường mới. Sản phẩm của công ty đã tạo được những ấn tượng rất tốt đối
với người tiêu dùng của toàn miền Bắc và các vùng đồng bằng.
Khối lượng sản phẩm hàng năm của công ty đang ngày một tăng lên
hàng năm, điều đó chứng tỏ công ty đã xác định đúng đối tượng thị trường
của mình, từng bước xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường miền Bắc, các vùng
đồng bằng và hơn thế nữa công ty đang cố gắng mở rộng thị trường tiêu thụ
của mình lên các vùng cao như Yên Bái, Lào Cai, Cao Bằng, Sơn La, Lạng
Sơn...
Hiện nay thị trường tiêu thụ của công ty nằm chủ yếu sát các trung tâm
đông dân cư và các khu sản xuất ở miền Bắc và đây chính là nơi chủ yếu tăng
lợi nhuận của công ty.Sản phẩm của công ty liên tục được người tiêu dùng
Việt Nam bình chọn là “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, công ty luôn là một
trong những doanh nghiệp cung cấp sản phẩm đứng hàng đầu về chất lượng
và giá cả. Do đó, mặc dù hiện nay trên địa bàn và các tỉnh lân cận có rất nhiều
cơ sở sản xuất tấm lợp đòi hỏi một sự cạnh tranh gay gắt nhưng sản phẩm của
công ty vẫn chiễm lĩnh được thị trường.
2. Các phương thức tiêu thụ thành phẩm
Do đặc thù của ngành sản xuất tấm lợp đặc biệt là tấm lợp kim loại, do

+ Về phương thức thanh toán
+ Về tính toán lắp đặt, bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hoá
+Về các điều khoản chung
Vì khối lượng bán cho các công trình thường là rất lớn do đó mà để phù
hợp với tiến độ thi công của công trình cũng như để đảm bảo thời gian sản
xuất, Công ty thường giao hàng theo lô và chia thành nhiều đợt cho khách
hàng. Công ty cũng thường vận chuyển đến tận công trình vì có thể còn phải
tư vấn lắp đặt sản phẩm cho khách hàng. Tại đây hai bên sẽ lập biên bản giao
nhận hàng hoá, ký xác nhận về số lượng, chủng loại và quy cách của hàng
hoá. Khi xuất hàng phòng kinh doanh lập phiếu xuất kho kiêm hoá đơn
GTGT làm căn cứ xuất hàng. Công ty chỉ giao lô hàng đầu tiên khi nhận được
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
23
Chuyên đề thực tập
tiền đặt cọc từ phía khách hàng và khách hàng phải thanh toán những lô tiếp
theo theo đúng những điều kiện đã ghi trong hợp đồng kinh tế. Cuối cùng căn
cứ vào biên bản giao nhận hàng hoá hai bên sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng
kinh tế để thanh toán hết số còn lại. Kế toán tổng hợp kiêm kế toán về doanh
thu sẽ ghi nhận doanh thu bán hàng tại thời điểm xuất hàng nhưng chỉ giao
hoá đơn tài chính cho khách hàng khi khách hàng đã thanh lý xong hợp đồng
kinh tế.
- Bán cho cửa hàng
Cửa hàng bán tấm lợp chỉ lưu một số sản phẩm mẫu và các biển quảng
cáo sản phẩm, không lưu số lượng lớn vì quy cách luôn thay đổi. Cửa hàng sẽ
đến mua hàng tại Công ty và sau đó bán lại hàng đó cho khách hàng của
mình.
Phòng kinh doanh tiếp thị sẽ lập hợp đồng thành 3 liên trong đó liên 1
và liên 2 xé giao cho khách mang đến kế toán nộp tiền, khi khách hàng nộp
tiền kế toán sẽ đóng dấu xuất hàng trên cả hai liên là liên 1 và liên 2 của hợp
đồng sau đó giao liên 2 cho khách hàng, chuyển liên 1 xuống nhà máy để làm

Ngoài ra, Công ty còn thực hiện một số dịch vụ kỹ thuật, tư vấn, thiết
kế nhằm giới thiệu và hướng dẫn khách hàng lắp đặt, sử dụng các thành phẩm
của mình mà không thu phí phục vụ. Chính sách giá cả linh hoạt phù hợp với
cơ chế thị trường và các loại hình dịch vụ trên đã làm cho uy tín của Công ty
với các bạn hàng ngày càng cao và thu hút ngày càng nhiều khách hàng mới.
* Phương thức thanh toán: Công ty đã thực hiện các phương thức thanh
toán hết sức đa dạng phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai bên theo hợp đồng
kinh tế đã ký kết bao gồm: tiền mặt, chuyển khoản, séc chuyển khoản, séc bảo
chi, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu...
Việc thanh toán có thể là thanh toán ngay hoặc là thanh toán chậm sau
một khoảng thời gian nhất định sau khi người mua nhận được hàng (thời hạn
thanh toán chậm tuỳ theo từng hợp đồng quy định và tuỳ thuộc mối quan hệ
với khách hàng tối đa từ 30- 45 ngày. Công ty luôn tạo mọi thuận lợi trong
khâu thanh toán đồng thời không gây thiệt hại về kinh tế cho bản thân doanh
nghiệp.
Hoàng Diệu Ly - Kế toán 43D
25

Trích đoạn Giá cả và phương thức thanh toán Hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu Phân tích kế hoạch tiêu thụ và lợi nhuận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status