I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài, sáng kiến giải pháp
Hiện nay công cuộc cải cách, đổi mới trong ngành giáo dục đã và đang diễn
ra một cách mạnh mẽ và nó như là một đòi hỏi mang tính tất yếu đối với nền giáo
dục nước ta hiện nay, trong khi đó nhiều năm qua cùng với việc thay sách giáo
khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học cũng được tiến hành song song và là một
những nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục. bên cạnh những thành công to lớn
song cũng còn nhiều hạn chế thiếu sót điều này lại đặt ra yêu cầu mới trước mắt là
tiếp tục đổi mới chương trình nội dung và phương pháp giáo dục cho phù hợp với
tình hình phát triển của thế giới cũng như nước ta hiện nay trong nhà trường phổ
thông nói chung và việc dạy học môn Lịch sử nói riêng cũng ở trong tình hình đó.
Là “Thầy dạy của cuộc sống”, là “Tấm gương soi của muôn đời”, bộ môn
Lịch sử trong nhà trường phổ thông làm cho thế hệ trẻ hiểu được cội nguồn dân
tộc, quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta từ xa xưa. Từ đó nâng cao tư
tưởng sự hiểu biết, kế thừa truyền thống tốt đẹp của cha ông, với lòng tự hào dân
tộc, để phát huy tài năng và trí tuệ phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nứơc trong thời bình hiện nay. Đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan
trọng đối với một dân tộc, đặc biết là những con người làm công tác giáo dục.
Mặt khác việc đổi mới phương pháp dạy học sẽ nâng tác động trực tiếp đến
khả năng tiếp thu bài giảng của học sinh trong từng tiết học và quyết định lâu dài
đến chất lượng dạy học nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng ở trường THCS.
Làm cho bài giảng thêm sinh động, có tính hấp dẫn với học sinh, kích thích hứng
thú học tập trong học sinh, giúp các em lĩnh hội bài tốt nhằm nâng cao hiệu quả
của bài học.
Việc vận dụng một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp
dạy học hiệu quả với một số giải pháp dạy học tích cực khác sẽ là lời giải đáp cho
bài toán học sinh “quay lưng lại” với lịch sử, truyền cho các em lòng yêu nước, tự
1
bày nội dung đó; Đa dạng hóa các hình thức học tập gắn với ngày lễ kỷ niệm hoặc
một buổi ngoại khóa; Khai thác các bài theo chuyên đề.
Băn khoăn trước thực trạng đó, qua kinh nghiệm tích lũy được và thực tế
dạy học bộ môn tại đơn vị, bản thân tôi đã tôi đã sử dụng các giải pháp trên để
phát huy tối đa một giờ dạy theo hình thức đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo
hứng thú cho học sinh trong môn học Lịch sử, làm cho môn học không trở nên
nặng nề, khô khan, nhàm chán, từ đó nâng cao dần chất lượng bộ môn.
Với việc sử dụng các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học đã tạo điều
kiện cho học sinh có thể “suy nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn”
trong giờ học Lịch sử.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử, cá nhân tôi với tư cách là một
giáo viên trẻ, đã cố gắng học hỏi bạn bè, đồng nghiệp, đồng thời mạnh dạn nghiên
cứu và sử dụng “ các giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học”.
Đây cũng là lí do mà tôi chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới
phương pháp dạy học trong môn lịch sử ở trường THCS” để góp phần nâng cao
hơn nữa chất lượng dạy học môn Lịch sử.
2. Điểm mới của đề tài:
Đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo từ nghị quyết
29 của BCH Trung ương Đảng khóa XI đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp dạy
học một cách có hiệu quả.
Rèn cho học sinh cách học theo các phương pháp mới, học sinh sẽ được làm
chủ kiến thức, tự giải quyết các vấn đề trong chương trình học, khắc phục tình
trạng học sinh không thích học lịch sử, làm thay đổi nhận thức trong học sinh.
Nâng cao các kỹ năng phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề, biết vận dụng
kiến thức lịch sử vào cuộc sống một cách dễ dàng. Chính vì thế mà làm thay đổi
cách nhìn nhận của phụ huynh về môn Lịch sử.
3
Một số giáo viên hầu như có
tiết không sử dụng thiết bị dạy học, không cho học sinh khai thác các kênh hình, tư
liệu trong SGK.Một số giáo viên chưa có sự đầu tư cho tiết dạy, chưa sử dụng công
nghệ thông tin vào dạy học.Nếu có sử dụng công nghệ thông tin, thì giáo viên trình
chiếu tất cả các kiến thức dẫn đến học sinh thụ động trong việc tiếp nhận tri
thức.Từ đó nảy sinh tâm lý chán họcmôn Lịch sử.Đây là một trong những nguyên
nhân dẫn đến chất lượng dạy- học Lịch sử còn thấp so với các môn khác.
Sau đây là bảng khảo sát việc giáo viên ngại áp dụng phương pháp mới, lo dạy
xong kiến thức, chỉ chú ý đối tượng học sinh Khá, Giỏi, bỏ qua đối tượng học sinh
Yếu để chứng minh cho những điều tôi phân tích ở trên:
5
BẢNG KHẢO SÁT MINH CHỨNG VIỆC GIÁO VIÊN NGẠI ÁP DỤNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MỚI TRONG MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG
THCS
N.dung Sử dụng PPDH/tiết
1
2
3
GV
GV 1
x
GV 2
GV 3
-
-
-
X
x
K.thứ
T.gian
c
x
x
x
x
x
x
(Trong đó x có sử dụng, - không sử dụng)
* Về phía học sinh
Đã qua nhiều năm thực hiện đổi mới, nhìn chung đại đa số học sinh đã tiếp
cận được với nội dung, kiến thức, chương trình và phương pháp dạy học mới, song
Thích
SL
Không thích Hứng thú
%
40
5
12,5 11
27,5
38
4
10,5 12
31,6
42
3
7,1
12
28,6
30
3
10
10
33,3
* Về cơ sở vật chất phục vụ dạy học:
SL
%
không thể hiện rõ và không đưa ra định hướng chung để thực hiện nên dễ gây ra sự
tuỳ ý trong một số nội dung khi thực hiện. Việc học sinh quá đông trong một lớp
học cũng dẫn đến khó khăn trong việc phân chia nhóm cũng ảnh hưởng đến rất lớn
trong quá trình dạy học.
* Về phía phụ huynh học sinh:
Do tâm lý sợ con mình học vất vả (vì phải học thuộc lòng nhiều), lại sợ khó
xin việc trong tương lai nên nhiều phụ huynh không cho con mình theo ngành sử.
Thậm chí khi đã học sử xong xin được việc song lương của các công việc có liên
quan đến ngành sử cũng thấp nên tâm lý lo lắng luôn thường trực trong mỗi một
phụ huynh khi con em mình học sử nói chung, các môn xã hội nói riêng. Đây cũng
là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh thiếu chăm lo học tập, bỏ
bê môn Lịch sử. Tôi cũng đã tiến hành điều tra ý kiến của phụ huynh học sinh đối
với môn Lịch sử và nhận được kết quả như sau:
BẢNG THỐNG KÊ Ý KIẾN CỦA PHỤ HUYNH VỀ MÔN LỊCH SỬ:
7
Tổng
Lịch sử khó Chỉ là môn Ra trường Thích các Thích
số phụ thuộc,
dài phụ
khó
xin môn KHTN môn Lịch
huynh dòng
việc
sử vì biết
cội nguồn
dân tộc,
tổ tiên
3,7
Tóm lại, từ tháng 9 năm 2016 cho đến nay qua giảng dạy, phân tích, điều tra
tôi đã nhận thấy chất lượng dạy học môn Lịch sử còn thấp là do nhiều nguyên
nhân, trong đó tôi chú ý đến các nguyên nhân đã phân tích trên
Sau đây là kết quả khảo sát chất lượng môn Lịch sử so với một số môn
khác:
- Kết quả học tập bộ môn qua thống kê của một số môn cuối năm học 2016-2017 ở
đơn vị tôi công tác:
Môn
Toán
T.Anh
Ngữ văn
Lịch sử
Kết quả
Giỏi
SL
%
Khá
SL
20
25
25
10
42
45
47,4
40,1
43,1
54,7
10
12
12
14
7,3
8,8
8,8
10,3
- Kết quả bài kiểm tra số 1 qua thống kê của một số môn đầu năm học 2017-2018
ở đơn vị tôi công tác:
Kết quả
Giỏi
SL
%
Khá
SL
Toán
T.Anh
22
27
44,2 10
39,45 12
6,8
8,2
52
35,4
59
40,1
6,8
10
%
8
Lịch sử
15
10,2
trình dạy học từ khâu thiết kế bài soạn, tổ chức hoạt động cho học sinh, sử dụng
thiết bị đến cả việc kiểm tra đánh giá.
9
Giải pháp 1:
Xây dựng và thiết kế giáo án khoa học
Xây dựng giáo án là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của bài
giảng. Những bài giảng có khi là một giáo án chuẩn bị chu đáo, cũng có khi là
những ý tưởng bất ngờ nảy đến. Không cứng nhắc như nhiều giờ học khác, trong
giờ học Lịch sử bạn có thể tổ chức nhiều hoạt động như đóng kịch, chơi trò chơi,
học Lịch sử qua sự kiện, qua tem…. Nhưng điều quan trọng nhất là gì? Là mục
tiêu giảng dạy? Vậy thì một giáo án như thế nào là hiệu quả? Và một giáo án cần
những đặc điểm tiên quyết gì để có thể đạt được mục tiêu giảng dạy?
Dưới đây, tôi xin đưa ra 8 vấn đề cần lưu ý mà tôi đã thực hiện để xây dựng
một giáo án hiệu quả để chúng ta có thể hướng tới mục tiêu cao nhất của mỗi
người giáo viên. Đó là nâng cao hiệu quả giờ dạy đồng thời đánh giá chính xác quá
trình học tập của học sinh. Kể cả khi không cần thiết phải thiết kế giáo án trên giấy
thì 8 bước đó cũng sẽ luôn nhắc nhở chúng ta nhằm đạt hiệu quả tốt nhất trong
công việc giảng dạy hàng ngày.
Vấn đề 1. Mục tiêu bài dạy
Trong mỗi một giờ lên lớp hãy đề ra mục tiêu mà cả lớp phải hoàn thành.
Và dù chúng ta có tiến hành hoạt động nào hay tổ chức trò chơi gì cho giờ học
thêm sôi nổi thì vẫn phải hướng đến mục tiêu của bài giảng.
Ví dụ khi dạy tiết 15, Bài 11, Các nước Đông Nam Á cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX. Giáo viên cần cho học sinh nắm rõ mục tiêu của bài học:
*Về kiến thức:
- Biết nguyên nhân Đông Nam Á trở thành đối tượng xâm lược của các nước tư
bản Phương Tây.
- Hiểu rõ quá trình xâm lược của các nước tư bản Phương Tây đối với Đông Nam
Ví dụ: Ở bài 11 này, học sinh phải nắm được khái niệm thế nào là nửa thuộc
địa, nữa phong kiến. GV cho học sinh suy nghĩ, sau đó gọi cá nhân học sinh trả lời.
GV gợi ý và chốt lại đầy đủ về khái niệm: Những nước bị các nước đế quốc chủ
nghĩa cai trị, bóc lột. Về thực chất đó là một nước thuộc địa, nhưng vẫn được duy
11
trì chế độ phong kiến bằng cách nuôi dưỡng, sử dụng bọn tay sai phong kiến bản
địa để tăng cường thống trị, đàn áp nhân dân.
Vấn đề 4. Luyện tập theo hướng dẫn.
Chuẩn bị các bài luyện tập các kiến thức mới vừa học để củng cố kiến thức
cho học sinh đồng thời áp dụng các kỹ năng mà chúng ta vừa truyền đạt thông qua
các chỉ dẫn trực tiếp. Tất nhiên là chúng luôn phải có một sự theo dõi sát sao quá
trình làm việc của học sinh trong lớp mình.
Ví dụ: Giáo viên có thể củng cố bài học bằng cách cho học sinh chơi trò
chơi giải đáp ô chữ.
Vấn đề 5. Kết thúc.
Kết thúc bài học cũng là khởi đầu cho những kiến thức tiếp theo. Vậy sẽ rất
hữu ích nếu chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi đầy tính gợi mở để khuyến khích
sự tự nghiên cứu thêm của học sinh cũng như sự chuẩn bị của họ cho bài học tiếp
theo.
Ví dụ: Khi kết thúc bài học, giáo viên có thể cho học sinh khái quát lại nội
dung bài học. Giáo viên có thể đưa ra một câu hỏi để học sinh chuẩn bị cho bài học
tiếp theo: Ngoài Xiêm, thì có một nước ở châu Á, không bị sự thôn tính của các
nước phương Tây. Đó là Nhật Bản. Em hãy tìm những nguyên nhân để cho thấy
Nhật Bản không bị các nước phương Tây xâm lấn?
Vấn đề 6. Tự luyện.
Khi hoàn thành các bài tập về nhà hoặc các bài luận cá nhân, học sinh có thể
thể hiện mức độ tiếp thu những kiến thức đã học. Thông qua việc trả bài, chúng ta
sẽ xác định được rằng mình đã thực hiện được mục tiêu giảng dạy hay chưa.
Tổ chức linh hoạt hoạt động nhóm
Việc khuyến khích học sinh hợp tác với các thành viên khác trong lớp góp
phần tạo lập nên cộng đồng, gia tăng sự đoàn kết và khiến việc học trở nên tích
cực hơn. Tuy nhiên, quyết định xem có nên cho hoạt động nhóm hay không và tổ
chức như thế nào, việc đó có thể làm bạn cảm thấy mệt mỏi.
13
Bởi vì làm việc nhóm có thể là một thách thức và phức tạp, nhiều giáo viên
hoặc là tránh không cho hoạt động nhóm hoặc giữ học sinh ở những nhóm cố định.
Duy trì các “nhóm cố định” trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Họ không có sự
điều chỉnh thường xuyên tùy theo mục đích của bài tập và hồ sơ đánh giá học sinh.
Điều này có thể tước đi cơ hội cho học sinh được học hỏi và phát triển các mối
quan hệ với tất cả các bạn trong lớp.Ngược lại, nhóm linh hoạt, sắp xếp học sinh
một cách có chủ ý và thay đổi thường xuyên tùy theo các trải nghiệm học tập trong
một khoảng thời gian tương đối ngắn (ví dụ: một hoặc hai tuần). Hoạt động nhóm
kết nối với nhiệm vụ học tập và dựa trên kết quả đánh giá lớp học cũng như các
đặc điểm khác của học sinh.
Qua quá trình tổ chức hoạt động nhóm linh hoạt tôi nhận thấy có ba lợi thế so
với hoạt động nhóm cố định, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Hoạt động nhóm linh hoạt kết nối các học sinh với nhau: Bất cứ khi
nào học sinh hoạt động trong một nhóm nhỏ, họ tách biệt với phần còn lại của lớp.
Với nhóm linh hoạt, sự tách biệt là tạm thời. Sau một khóa học kéo dài nhiều ngày,
nhiều tuần, nhiều tháng, học sinh cộng tác với nhiều người khác theo những cách
mới mà không phải thực hiện những buổi hoạt động cả nhóm, cá nhân hoặc tương
tác trong một nhóm nhỏ cố định. Hoạt động nhóm linh hoạt củng cố tình cảm trong
lớp học.
Thứ hai: Hoạt động nhóm linh hoạt đưa học sinh đến với những quan điểm
mới và khác biệt: Cũng như người lớn, trẻ em ở mọi lứa tuổi bị lôi cuốn bởi
Nhóm đôi: Dùng để nghiên cứu, trao đổi vấn đề phức tạp đòi hỏi sự cộng tác cao.
Nhóm 4 – 6 học sinh: Dùng khi trao đổi ý kiến hoặc thực hiện công việc cụ thể đòi
hỏi sự nổ lực chung của cả nhóm.
Để hoạt động nhóm tốt, giáo viên có thể ghi trên bảng theo dõi quá trình của
nhóm.
Giải pháp 3:
Tăng cường khai thác thiết bị dạy học hiệu quả
Đổi mới PPDH đang là một vấn đề vô cùng quan trọng trong việc quyết
định dến chất lượng giáo dục. Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các
thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy và học là một thành tố quan trọng.
15
Trong quá trình dạy học, các PTDH giảm nhẹ công việc của giáo viên và
giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được các phương tiện
thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công
tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp
dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học.
Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học
sinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe - thấy - làm được (những gì nghe
được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy thì không bằng những
gì tự tay làm), nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, giáo viên có
điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu
quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các
em. Có rất nhiều loại phương tiện dạy học với các hình thức và chức năng khác
nhau, trong đó có: phương tiện tạo hình ảnh (bảng đen, bảng trắng, tranh ảnh, bảng
biểu,...), những phương tiện khuếch đại hình ảnh (máy chiếu), phương tiện
thu/phát khuếch đại âm thanh (máy quay, máy ghi âm, ...)
Vì vậy người giáo viên khi sử dụng phương tiện dạy học phải bảo đảm các
nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học. Phương tiện dạy học có tác dụng làm
việc chuyển từ đọc - chép sang nhìn – chép.
- Cần có cách tổ chức lớp học khoa học hợp lý để huy động mọi học sinh đều tham
gia vào việc học. Tránh tình trạng chỉ một vài học sinh thực hiện còn các học sinh
khác thì không tập trung chú ý.
- Đối với bản đồ, lược đồ: đó là nguồn kiến thức quan trọng và được coi như cuốn
sách lịch sử thứ hai của học sinh. Tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ theo
các bước sau:
+ Cho học sinh quan sát bản đồ về nội dung và các ký hiệu của bản đồ.
+ Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề gợi ý học sinh tìm hiểu nội dung bản đồ.
+ Học sinh trả lời câu hỏi bằng việc trình bày kết quả tìm hiểu nội dung bản
đồ đó.
+ Giáo viên nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh nội dung cần cung cấp cho học
sinh.
17
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ lược đồ “Hành trình cứu nước
của Hồ Chí Minh” - Lịch sử 9 bài 16 “Hoạt động của NAQ ở nước ngoài trong
những năm 1919-1925.
- Cho học sinh quan sát ở lược đồ để thấy được hoạt động của NAQ ở nước ngoài
qua 3 giai đoạn theo hướng đi bằng các màu sắc thể hiện khác nhau.
+ Nguyễn Ái Quốc ở Pháp (1917-1923)
+ Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô (1923-1924)
+ Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc (1924-1925)
- Đối với tranh ảnh: Để việc khai thác tranh ảnh có hiệu quả, phát huy được tính
tích cực của học sinh cần thực hiện các yêu cầu sau:
+ Cho học sinh khai thác tranh ảnh để xác định nội dung cần khai thác.
+ Giáo viên nêu câu hỏi nêu vấn đề, tổ chức học sinh tìm hiểu nội dung tranh
ảnh.
+ Học sinh trình bày kết quả sau khi đã quan sát, tìm hiểu.
Thực chất, ở giai đoạn 1, việc tổ chức rèn học sinh các kĩ năng tự nghiên
cứu tài liệu, sử dụng các câu hỏi ngắn. Những kỹ năng cần rèn ở giai đoạn này cụ
thể như sau:
Kĩ năng xác định vấn đề cần nghiên cứu
Kĩ năng này đóng vai trò quan trọng, định hướng toàn bộ mọi hoạt động của
học sinh. Với học sinh, việc vấn đề cần nghiên cứu thường do giáo viên giao cho
hoặc các em tự xác định được thông qua các câu hỏi, các bài tập và tình huống có
vấn đề mà giáo viên đưa ra. Các em cũng có thể độc lập xác định được vấn đề cần
nghiên cứu trong quá trình tự học mà không cần sự định hướng hay gợi ý của giáo
viên.
Để rèn kĩ năng xác định vấn đề nghiên cứu cho học sinh, trong quá trình dạy
tôi giao cho các em các câu hỏi, bài tập dựa trên các tình huống có vấn đề rồi
hướng dẫn các em cách xác định các yêu cầu của câu hỏi, bài tập (phân tích đề).
19
Giáo viên cũng có thể lựa chọn cùng một nội dung phù hợp, đặt các câu hỏi khai
thác vấn đề theo các hướng khác nhau, yêu cầu học sinh trả lời. Qua quá trình phân
tích các câu hỏi này học sinh sẽ xác định được với cùng một vấn đề, với những
cách hỏi khác nhau , thậm chí chỉ một vài từ thì nội dung câu trả lời sẽ khác. Việc
làm này sẽ góp phần đắc lực trong quá trình rèn kĩ năng xác định vấn đề cần
nghiên cứu của học sinh. Kĩ năng rất cần cho các em trong quá trình học, thi cử,
cuộc sống nói chung và hoàn thành bài học nói riêng.
Kĩ năng lựa chọn tài liệu
Trước và sau khi xác định được vấn đề cần nghiên cứu, học sinh cần biết tìm
nguồn tài liệu phù hợp. Khả năng tìm kiếm tài liệu sẽ góp sức đắc lực cho người
học trong cả quá trình làm bài, làm cho bài của mình có cả chiều sâu và độ rộng.
Nguồn tài liệu phù hợp cũng giúp học sinh kiểm tra lại khâu xác định vấn đề cần
nghiên cứu của mình xem mình xác định vấn đề đã đúng và đủ chưa. Nguồn tài
liệu cơ bản nhất của học sinh là SGK và vở ghi. Tuy nhiên, với học sinh nguồn đó
ghi tổng hợp lại những gì đã học và đọc được. Các nội dung ghi trong vở cũng nên
chú thích nguồn để sau này không mất nhiều công đọc lại nữa.
Học sinh được rèn thói quen chủ động nắm bắt và ghi những vấn đề mà giáo
viên giảng, không thụ động ngồi chờ giáo viên đọc cho chép. Do được yêu cầu
chuẩn bị bài trước ở nhà nên chúng tôi kết hợp rèn cho học sinh kĩ năng ghi những
vấn đề cần thiết, những vấn đề chưa rõ,… Để làm được như vậy, tôi hướng dẫn
học sinh trong quá trình đọc trước ở nhà, cần xác định trọng tâm của bài, xác định
nội dung nào mình đã hiểu kĩ, nội dung nào chưa hiểu để tập trung lắng nghe và
ghi bài vào nội dung đó. Giáo viên cũng hướng dẫn học sinh khi đọc tài liệu cần
xác định ý chính, ghi lại một cách ngắn gọn nội dung chính cũng như thành bảng,
sơ đồ, bản đồ khái niệm.
Kĩ năng đặt câu hỏi
Khi đọc tài liệu, bên cạnh việc trả lời các câu hỏi của thầy cô, học sinh cũng
cần luôn tự đặt các câu hỏi tại sao, như thế nào, để làm gì, là cái gì… Các câu hỏi
đó có thể được đặt khi học sinh không hiểu vấn đề mà tài liệu trình bày nhưng
cũng có thể được đặt ra để tranh luận với bạn, với thầy. Cách làm này làm cho vấn
đề được đào sâu hơn do nó được lật đi lật lại nhiều lần theo nhiều hướng khác
21
nhau. Đồng thời, trong quá trình tranh luận, người học được bổ sung thêm kiến
thức từ bạn, kích thích thêm tính ham học của mỗi người. Khi vấn đề khó đi đến
thống nhất có thể hỏi thầy. Để học sinh có được kĩ năng này, vai trò của người thầy
trong quá trình tổ chức dạy học vô cùng quan trọng. Trong quá trình đặt câu hỏi và
trả lời câu hỏi mà mình đặt ra, học sinh cũng tự rèn được cách xác định vấn đề cần
nghiên cứu, kĩ năng đọc và tổng hợp tài liệu.
Kĩ năng diễn đạt lại thông tin đã thu được theo ý hiểu của người học
Thông tin thu được có thể được học sinh ghi lại một cách vắn tắt, lập thành
sơ đồ, bảng biểu,… Các sơ đồ, bảng biểu có thể được sử dụng để giúp người học
ghi nhớ nhưng có thể là để hiểu, để củng cố hoặc mở rộng, nâng cao về một nội
rất nhiều vì các em được quyền đưa ra chủ kiến của mình, được giải thích rõ ràng
tại sao ý kiến của mình còn chưa đúng, chưa đủ và được tự hào khi mình “thắng
cô” mình. Đặc biệt, giúp học sinh tăng cường khả năng lập luận, hùng biện trước
đám đông. Ngoài ra, nó cũng có ích cho cuộc sống sau này của học sinh do các em
luôn tư duy về một vấn đề theo nhiều chiều hướng, dự đoán được nhiều tình huống
có thể xảy ra để có thể giải quyết sớm hoặc chí ít là không quá bất ngờ. Nó cũng
kích thích thầy luôn tự đọc, tự tìm tòi để tăng cường chuyên môn nghiệp vụ. Đây
cũng là việc làm vô cùng khó, do thói quen tin tưởng tuyệt đối vào thầy, vào sách
đã ăn sâu vào các em từ lâu. Mặt khác, cũng ít người thầy chấp nhận thua hoặc
“giả vờ thua” học trò vì sợ “mất thiêng”.
Giải pháp 5:
Đa dạng hóa hình thức học tập.
23
Một trong ba đặc trưng của phân môn Lịch sử đã chỉ ra rằng: Lịch sử qua đi
nhưng không hoàn toàn biến mất mà còn để lại “dấu vết ” của nó qua kí ức của
nhân loại như văn học dân gian, phong tục tập quán, lễ hội…, qua các chứng tích
lịch sử, các hiện tượng lịch sử, qua ghi chép của người xưa. Những chứng cứ vật
chất đó chính là cơ sở để trình bày hay nhận thức về lịch sử. Vì vậy, giáo viên cần
phải hết sức quan tâm đến các hình thức tổ chức dạy học lịch sử đa dạng, tạo điều
kiện để học sinh tiếp xúc với các nguồn sử liệu nói trên.
Bản thân tôi đã đa dạng hóa hình thức học tập bằng các nhóm giải pháp như
sau:
- Gắn kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử với việc dạy học phân môn Lịch
sử: Trong quá trình trực tiếp giảng dạy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu
về các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử qua các hoạt động: đọc báo, xem truyền
hình (các hình ảnh tư liệu), đài phát thanh … để giúp các em hiểu rõ, nắm sâu hơn
về các sự kiện và nhân vật lịch sử.
+ Giáo viên tổng kết, chuẩn xác kiến thức.
Ví dụ 1: Lịch sử 7:
Bài: Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)
- GV dự kiến tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm ở phần 2: Trận Chi Lăng Xương Giang.
- GV tổ chức cho các em thảo luận theo nhóm nhiều trình độ bằng những câu hỏi
mở đã được dự kiến từ trước.
+ Đến 1427, tương quan lực lượng giữa ta và địch như thế nào?
+ Vì sao nói việc nghĩa quân Lam Sơn chủ trương diệt viện là đúng đắn.
+ Trận Chi Lăng thể hiện nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn NTN?
+ Vì sao nghĩa quân Lam Sơn chấp nhận việc Vương Thông xin hoà?
- Thời gian thảo luận: 5 phút
- Thời gian các nhóm trình bày: 2 phút
- GV tổng kết, chốt kiến thức: 2 phút.
Giải pháp 6:
25