Lời nói đầu
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ,
phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Từ đó có thể thấy nội
hàm của từ công nghệ rất rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực từ nông nghiệp, lâm
nghiệp, công nghiệp... đến dịch vụ. Trong mỗi lĩnh vực đó lại đi kèm với từng sản
phẩm, ví dụ nông nghiệp thì có lúa, ngô, đậu, rau, củ, quả,... Trong mỗi sản phẩm thì
có các nhóm công nghệ khác nhau, ví dụ với sản phẩm là lúa thì phải có công nghệ tạo
giống, công nghệ chăm sóc, công nghệ thu hoạch, công nghệ bảo quản, công nghệ chế
biến,... Cùng một nhóm công nghệ lại có thể có nhiều công nghệ, ví dụ chăm sóc lúa
cũng có thể có nhiều công nghệ khác nhau. Vậy thì quản lý công nghệ là quản lý cái
gì? Quản lý như thế nào? Có thể hiểu một cách đơn giản quản lý công nghệ là quản lý
để bản thân công nghệ ý sinh lợi nhuận (có thể về mặt kinh tế hoặc mặt xã hội)
còn quản lý nhà nước về công nghệ là cơ quan quản lý nhà nước tổ chức các hoạt
động, các chế tài nhằm phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến có lợi cho phát
triển kinh tế - xã hội; ngăn chặn việc phổ biến các công nghệ gây hại cho sức khoẻ,
phương hại đến môi trường, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng,...
Chúng ta cùng tìm hiểu rõ hơn qua đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về
công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam”.
1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG
NGHỆ.
1.1. Khái niệm chung:
1.1.1. Vai trò và chức năng của nhà nước trong quản lý khoa học và công nghệ
Vai trò của nhà nước là thông qua hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về quản lý
KH-CN nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động khoa học công nghệ phát triển ổn
định và bền vững. Ngoài ra nhà nước còn góp phần thúc đẩy hoạt động khoa học và
công nghệ hợp tác quốc tế trong xu thế hội nhập hiện nay.
Nhà nước có ba chức năng chính trong quản lý KH & CN: định hướng, tổ chức; thúc
bảndụng
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI
Triển
Triểnkhai
khai
Nghiên
cứu
thực
hoàn
nghiệm
thiện
ứng
dụng
SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI HÓA
Tiếp
Sản cận
xuất
Triển
khai
đạithiện
trà
hoàn
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
Chu trình NCKH – PTCN - SX - TMH
- Nghiên cứu khoa học cơ bản nhằm khám phá bản chất hoặc phát hiện kiến thức mới
dưới dạng nguyên lý, lý thuyết hoặc quy luật có giá trị tổng quát. Nghiên cứu khoa học
ứng dụng nhằm khai thác kết quả của nghiên cứu khoa học cơ bản để vận dụng vào
thực tiễn hoặc tìm giải pháp mới để giải quyết một nhiệm vụ nhất định, Triển khai thực
nghiệm là vận dụng các quy luật (của NCCB) và các nguyên lý (của NLƯD) để đưa ra
năm, các chương trình nghiên cứu phát triển thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
phù hợp với chiến lược phát triển khoa học và công nghệ và theo phân cấp, ủy quyền
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Khoa học và Công nghệ cũng có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện phương hướng, mục
tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 5 năm và hàng năm,
chuyển giao công nghệ, thúc đẩy việc phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật
trọng điểm trên cơ sở đổi mới, làm chủ công nghệ, tập trung phát triển công nghệ mới,
công nghệ cao…
4
Về cơ cấu tổ chức, Bộ Khoa học và Công nghệ có 28 đơn vị trong đó có 22 đơn vị
giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 6 đơn vị sự nghiệp phục vụ
chức năng quản lý nhà nước của Bộ.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, nhiệm
vụ khoa học và công nghệ;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về khoa học và
công nghệ;
3. Tổ chức bộ máy quản lý khoa học và công nghệ;
4. Tổ chức, hướng dẫn đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ, Quỹ
phát triển khoa học và công nghệ;
5. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;
6. Quy định việc đánh giá, nghiệm thu, ứng dụng và công bố kết quả nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ; chức vụ khoa học; giải thưởng khoa học và công
nghệ và các hình thức ghi nhận công lao về khoa học và công nghệ của tổ chức, cá
nhân;
7. Tổ chức, quản lý công tác thẩm định khoa học và công nghệ;
8. Tổ chức, chỉ đạo công tác thống kê, thông tin khoa học và công nghệ;
công khai bước đầu được áp dụng, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ đã từng bước được đổi mới theo
hướng xã hội hóa và gắn kết với sản xuất, kinh doanh. Các tổ chức và cá nhân thuộc
mọi thành phần kinh tế có quyền thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ. Phạm
vi hoạt động của các tổ chức này được mở rộng từ nghiên cứu đào tạo đến sản xuất
và dịch vụ khoa học và công nghệ. Đã xuất hiện nhiều tổ chức khoa học và công
nghệ ngoài nhà nước, nhiều cơ sở sản xuất trong các viện nghiên cứu, trường đại
học, góp phần đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Cơ chế, chính sách tài chính cho khoa học và công nghệ đã được đổi mới theo
hướng tăng dần tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ trong tổng chi ngân sách nhà
nước và đa dạng hoá nguồn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ. Việc cấp kinh
phí đến nhà khoa học đã được cải tiến một bước trên cơ sở tuyển chọn theo nguyên
tắc cạnh tranh và giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết. Quyền tự chủ về tài
chính bước đầu được triển khai áp dụng đối với các tổ chức khoa học và công nghệ
công lập.
6
Cơ chế quản lý nhân lực được đổi mới theo hướng mở rộng hơn quyền chủ
động cho cán bộ khoa học và công nghệ trong việc ký kết hợp đồng nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ, trong hoạt động kiêm nhiệm và hoạt động hợp tác
quốc tế. Chế độ hợp đồng lao động đã được mở rộng hơn đối với các tổ chức khoa
học và công nghệ. Đã áp dụng một số hình thức tôn vinh, khen thưởng đối với cán bộ
khoa học và công nghệ.
Các thể chế hỗ trợ cho phát triển thị trường công nghệ đã bước đầu được hình
thành. Các quy định pháp lý về hợp đồng khoa học và công nghệ, hoạt động chuyển
giao công nghệ, sở hữu trí tuệ đã được ban hành tạo điều kiện cho việc thương mại
hoá các thành quả khoa học và công nghệ. Chợ công nghệ - thiết bị đã được tổ chức
ở nhiều địa phương và ở phạm vi quốc gia, hình thành kênh giao dịch thị trường thúc
Cơ chế, chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho tổ chức,
cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Cơ chế tài chính còn chưa tạo ra sự tự chủ
cao đối với các tổ chức khoa học và công nghệ. Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho
khoa học và công nghệ còn dàn trải, thiếu tập trung cho các lĩnh vực, công trình
trọng điểm. Thiếu biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách
nhà nước cho khoa học và công nghệ. Thiếu các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm để
khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, kinh doanh.
Cơ chế quản lý cán bộ khoa học và công nghệ chưa tạo động lực để phát huy năng
lực sáng tạo của cán bộ khoa học và công nghệ. Chậm chuyển đổi từ chế độ công
chức sang chế độ viên chức và hợp đồng, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu
chuyển và đổi mới cán bộ. Thiếu cơ chế, biện pháp cụ thể xây dựng và nâng cao vai
trò của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đầu ngành và các tập thể khoa học và
công nghệ mạnh. Chế độ tiền lương còn bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ toàn
tâm với sự nghiệp khoa học và công nghệ. Chưa có các chính sách cụ thể khuyến
khích mạnh lực lượng khoa học và công nghệ ngoài nước tham gia đóng góp vào sự
nghiệp phát triển đất nước.
Thị trường công nghệ còn nhỏ bé, chậm phát triển. Hoạt động mua, bán công nghệ
và lưu thông các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế do thiếu nhiều tác nhân quan
trọng, các yếu tố cấu thành thị trường và các quy định pháp lý cần thiết.
Phần lớn các kết quả nghiên cứu còn dừng ở phạm vi phòng thí nghiệm, chưa tạo ra
được nhiều công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hoá. Chưa chú trọng việc mua
sáng chế công nghệ của các nước tiên tiến để đổi mới công nghệ.
Quy định về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ chưa khuyến khích các tổ
chức thực hiện nghiên cứu quan tâm khai thác, thương mại hóa các kết quả nghiên
8
cứu được tạo ra bằng kinh phí từ ngân sách nhà nước. Hiệu lực thực thi pháp luật về
sở hữu trí tuệ thấp. Năng lực của các tổ chức trung gian, môi giới công nghệ còn yếu
chưa thật sự đáp ứng vai trò cầu nối giữa cung và cầu.
-
Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công
nghệ
+ Phân công, phân cấp rõ ràng trong xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm
vụ khoa học và công nghệ.
+ Áp dụng rộng rãi phương thức tuyển chọn tỏ chức, cá nhân thực hiện
nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo cơ chế cạnh tranh, công khai, dân chủ.
+ Đổi mới căn bản công tác đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ
+ Hoàn thiện các quy định về thành lập và hoạt động của các hội đồng tư
vấn
+ Đưa nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ áp dụng vào
thực tiễn sản xuất và đời sống.
-
Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ
+ Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học
và công nghệ của nhà nước hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến
lược và chính sách, nghiên cứu các lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng
điểm và một số lĩnh vực khác do nhà nước quy định.
+ Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang
hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp
+ Đẩy mạnh việc hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công
nghệ cao.
+ Thực hiện đánh giá định kỳ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ sử
dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước.
+ Phát huy chức năng và nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và công
nghệ của các trường đại học
-
Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và
công nghệ.
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG NÔNG
NGHIỆP VIỆT NAM.
Để đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước về công nghệ trong nông nghiệp Việt
Nam nhóm 4 lựa chọn mô hình định lượng bằng phương pháp tổng hợp phân tích.
2.1. Tình hình nền nông nghiệp Việt Nam
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam vẫn là
một nước nông nghiệp. Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71, 473 nghìn
tỷ đồng, tăng 1, 32% so với năm 2008 và chiếm 13, 85% tổng sản phẩm trong nước.
Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây,
trong khi các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng. Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc
làm còn lớn hơn cả đóng góp của ngành này vào GDP. Trong năm 2005, có khoảng
60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản. Sản lượng nông
nghiệp xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2005. Việc tự do hóa sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ Nhất trên thế giới
về xuất khẩu gạo (2013). Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu
phộng, cao su, đường, và trà. ( Theo https://vi. wikipedia. org )
11
Gần đây, tình hình kinh tế có khó khăn do bị tác động của khủng hoảng và suy thoái
kinh tế thế giới, Nông nghiệp Việt Nam ngày càng rõ vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế,
tiếp tục ổn định và có mức tăng trưởng. Năm 2011 xuất khẩu nông - lâm - thủy sản đạt
gần 25 tỷ USD, tăng trưởng 29% so với năm 2010. Thặng dư thương mại toàn Ngành
năm 2011 đạt trên 9, 2 tỷ USD, góp phần giảm nhập siêu cả nước; nông nghiệp đóng
góp khoảng 20% GDP và chiếm 30% giá trị kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Năm 2012,
diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0, 3 0, 5 triệu ha tại Đồng bắng sông Hồng (ĐBSH) và những năm lũ lớn khoảng 90% diện
tích của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị ngập từ 4 - 5 tháng, vào mùa khô
khoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l. Ước tính Việt
Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa
nghiêm trọng đến an ninh lương thực Quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu
người dân. Như vậy biến đổi khí hậu có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc
mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái
tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do
ngập nước và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt củng của động vật, làm biến mất các
nguồn gen quý hiếm.
- Đất đai: Tài nguyên đất nước ta khá đa dạng với 14 nhóm đất khác nhau, trong đó
có hai nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất là đất feralit và đất phù sa. Đất phù sa
khoảng 3tr ha tập trung tại các đồng bằng thích hợp nhất với cây lúa nước và các cây
ngắn ngày khác. Đất feralit chiếm diện tích trên 16 tr ha chủ yếu ở trung du, miền núi
thích hợp cho việc trồng cây CN lâu năm như chè, cà phê, cao su… cây ăn quả và một
số cây ngắn ngày như sắn, ngô, khoai, đậu. Diện tích đất nông nghiệp hiện nay là hơn
9 tr ha tạo điều kiện áp dụng rộng rãi khoa học công nghệ vào nông nghiệp.
- Nguồn nước: mạng lưới sông ngòi dày đặc thuận lợi cho việc tiến hành thủy lợi hóa
theo chính sách của nhà nước. Tuy nhiên về mùa mưa mưa nhiều sẽ gây ngập úng làm
thiệt hại tới mùa màng, chất lượng nông sản.
- Sinh vật: các sinh vật vi sinh trong đất góp phần làm tơi xốp đất trồng nhưng cũng
không loại trừ một số loại côn trùng, sâu bệnh gây hại cho cây trồng.
- Về địa bàn, sản xuất nông nghiệp phân tán rộng hầu như khắp cả nước làm cho sự
can thiệp của Nhà nước gặp nhiều trở ngại trong việc phân bổ nguồn lực, nguồn vốn
cũng như sự đầu tư kỹ thuật mới.
b) Nhóm nhân tố kinh tế-xã hội:
13
- Nguồn lao động dồi dào, cần cù, siêng năng, có kinh nghiệm trong sản xuất tuy
14
có hiệu quả. Mô hình phòng trừ dịch bệnh tổng hợp cho vật nuôi để kiểm soát, phòng,
chống dịch bệnh bảo vệ đàn vật nuôi gắn liền với bảo vệ môi trường; tạo ra sản phẩm
đạt tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng. Mô hình
ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp như hỗ trợ máy làm đất, máy gặt đập
liên hợp trong khâu thu hoạch lúa.
- Áp dụng những tiến bộ KH- CN về giống cây trồng, quy trình kỹ thuật thâm canh
và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ.
2.4. Thành tựu đạt được
Những năm gần đây nhà nước khuyến khích, đẩy mạnh ứng dụng rộng rãi khoa học
công nghệ vào sản xuất đã tạo ra sự bứt phá cho nền nông nghiệp Việt Nam. Nhiều địa
phương đã đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nhân giống cây trồng,
vật nuôi, xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, cung cấp cho thị
trường nhiều loại nông sản bảo đảm chất lượng, đem lại thu nhập cao cho người nông
dân.
Về thuỷ sản, sau 10 năm thực hiện chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp
thủy sản do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện giai đoạn 2005-2015 đã
cung cấp cho thị trường các loại con giống có tính trạng tốt về tăng trưởng như: Đàn
cá tra hậu bị thế hệ thứ ba (10 nghìn con), phát tán và nuôi thương phẩm cá tra, dòng
cá rô-phi đỏ nuôi phát tán và nuôi đánh giá thử nghiệm tại các vùng nước lợ và ngọt.
Các đàn tôm sú, tôm chân trắng chọn giống được nuôi tăng trưởng tốt ở các vùng địa
lý khác nhau. Xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất giống cá hồi Vân. Ngoài ra
đã chế được vắc-xin thành phẩm cho cá giò, cá rô-phi và công nghệ sản xuất; chế
phẩm vi sinh thương mại và công nghệ sản xuất chế phẩm vi sinh phục vụ nuôi tôm
thâm canh cho năng suất, chất lượng cao.
Ngoài việc khơi dậy tiềm năng của ngành thủy sản, KHCN còn tác động mạnh mẽ
đến ngành chăn nuôi. Chỉ trong một thời gian ngắn, lĩnh vực này đã nhận chuyển giao
gần 15 nghìn con trâu, bò, dê và gần 2. 400 con lợn sinh sản và lợn thịt, hơn 500 nghìn
chăn nuôi
Lâm nghiệp: Nắm rõ tiềm năng về lâm nghiệp, nhà nước ta đẩy mạnh khuyến
khích khai thác và trồng rừng sản xuất. Tại nhiều địa phương đã thực hiện cơ chế
liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng phát triển nguồn nguyên liệu với các hộ gia
đình nhằm bao tiêu sản phẩm của hộ. Sản xuất lâm nghiệp năm 2015 tăng trưởng khá
với mức tăng 7, 9% so với các năm trước; giá trị tổng sản lượng tăng đến 10, 89% và
16
xuất khẩu cũng tăng 10%, vượt qua mức 7, 1 tỷ USD. Bên cạnh đó, gỗ nguyên liệu
dùng xuất khẩu năm nay được đánh giá chất lượng tốt tại ba thị trường tiêu thụ mạnh
là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc do đó thúc đẩy hoạt động trồng rừng trong nhân
dân. Sản lượng gỗ khai thác sơ bộ năm 2015 ước đạt 8. 309 nghìn m 3, tăng 11, 9% so
với cùng kỳ năm ngoái. Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 244, 8 ngàn ha, tăng
10, 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt
24, 9 ngàn ha, tăng 14, 6%; Trồng mới rừng sản xuất đạt 220 ngàn ha, tăng 10, 4%.
Trong lĩnh vực vi sinh vật, đã tuyển chọn và xây dựng các sưu tập vi sinh vật có ích,
nghiên cứu và áp dụng có kết quả công nghệ vi sinh phục vụ sản xuất và đời sống như
thuốc trừ sâu vi sinh vật, phân vi sinh vật cố định đạm cho cây họ đậu, hóc môn thực
vật sản xuất bằng công nghệ vi sinh, kháng sinh thô, a xít a min v. v...
Trong công nghệ thực phẩm, nhiều kỹ thuật và qui trình công nghệ sinh học được
nghiên cứu và áp dụng như sản xuất nước chấm, nước giải khát lên men, rượu vang v.
v...
Trong những năm qua nhà nước đã tổ chức hàng trăm lớp tập huấn cho cán bộ và
bà con nông dân với hàng chục ngàn lượt người tham gia. Các nội dung được đào tạo
tập huấn là: Kỹ thuật thâm canh các loại cây trồng, kỷ thuật trồng, chăm sóc và khai
thác mũ cao su, trồng rừng nguyên liệu ; Kỹ thuật chăn nuôi các loại gia súc, gia
cầm, Kỹ thuật nuôi trồng, khai thác các loại thủy hải sản, phát triễn chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản theo hướng gia trại và trang trại... Qua đó đã nâng cao được kiến thức,
nhu cầu của toàn ngành và năm 2012 vốn đầu tư cho nông nghiệp có tăng nhưng cũng
chỉ đáp ứng được 50-60% nhu cầu của khu vực nông nghiệp. Bên cạnh đó tính đến
năm 2011 thì trong toàn bộ khu vực nông nghiệp của Việt Nam còn 495 dự án được
cấp giấy phép còn hiệu lực với vốn đăng ký đầu tư ở mức 3. 264, 5 triệu USD. Mức
vốn này chỉ chiếm 1, 64% tồng vốn đăng kí đầu tư vào Việt Nam. Hỗ trợ của Trung
ương đối với chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn rất hạn chế, chưa
thúc đẩy việc phổ biến và áp dụng phương thức canh tác tiến bộ trên diện rộng trong
khi cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp gặp
nhiều khó khăn về vốn đầu tư phục sản xuất hàng hóa. Đây chính là nguyên nhân cơ
bản làm cho năng lực sản xuất nông nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa và chuyển đối cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện nay.
Bảng: Đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2011
18
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê
Thứ ba: Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ vừa thiếu về số lượng vừa thiếu về chất
lượng, hệ thống các cơ quan nghiên cứu và triển khai trong lĩnh vực nông nghiệp chưa
hợp lí và hiệu quả thấp. Tiềm lực khoa học tuy có tăng cường nhưng vẫn còn yếu. Đội
ngũ kĩ thuật có trình độ còn thiếu và còn yếu. Cơ cấu nhân lực khoa học công nghệ
theo nghành nghề còn bất hợp lí chủ yếu khoa học xã hội nhân văn, còn lĩnh vực khoa
học tự nhiên rất ít, nhất là kĩ sư trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp lại càng thiếu.
Trong khi đó lực lượng lao động trong nông ngiệp chiếm gần 50% lao động chưa đào
tạo tay nghề. Vì vậy chưa đáp ứng kịp thời với sự tiến bộ khoa học công nghệ hiện có.
Thứ tư: việc tự nghiên cứu ứng dụng những công nghệ mang tính chất chuyên ngành
(công nghệ gen biến đổi, đổi gen chuyển gen vào thực vật, động vật…) còn hạn chế.
Từ đó dẫn đến việc tiến hành khảo nghiệm chỉ mới tập trung cho cây lúa, chưa tự lai
19
• Đất dành cho nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp lại do sự gia tăng dân số, sự
phát triển của các ngành công nghiệp và yêu cầu mở rộng, tu bổ cơ sở hạ tầng cho
đất nước. Trên thực tế đã nảy sinh nhiều hiện tượng phức tạp ảnh hưởng đến năng
20
suất và sự phát triển của nền nông nghiệp như là nông dân mất đất, phản đối chính
sách đền bù giải phóng mặt bằng của nhà nước, thị trường quyền sử dụng đất hoạt
động không hiệu quả. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã và đang nỗ lực đổi mới
chính sách đất nông nghiệp thông qua Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm
2003, nhưng cho đến nay chính sách đất đai vẫn còn nhiều nội dung cần phải hoàn
thiện.
Thứ bảy: chính sách của nhà nước và địa phương trong áp dụng công nghệ vào nông
nghiệp chưa hợp lí. Thời gian qua chính phủ đưa ra rất nhiều chính sách hỗ trợ cho
nông nghiệp nhưng chưa đủ sâu, chưa đủ mạnh và có một số chính sách chưa phù hợp
với thực tiễn. Nông nghiệp ở nước ta chưa hiệu quả do tư duy chậm đổi mới. Ở các
nước phát triển giai đoạn đầu công nghiệp hoá hiện đại hoá lấy đi nhiều tài nguyên hy
sinh nông thôn để phát triển đô thị. Sau đó họ lại lấy đô thị bù đắp cho nông thôn và
trợ cấp trở lại cho nông nghiệp. Tuy nhiên chúng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đã lâu nhưng chưa bù đắp lạ được cho nông nghiệp. Ngoài ra chính sách chưa
“mở” chưa tạo cơ hội cho việc thu hút đầu tư vào nông nghiệp. Nếu đổi mới chính
sách đổi mới tổ chức, đầu tư công sẽ mở hướng phát triển cho nông nghiệp.
Bên cạnh đó, chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp đang phải điều chỉnh theo lộ
trình cam kết giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế làm tăng khó khăn cho nhiều
ngành nông nghiệp và nông dân. Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất còn cao,
sản phẩm làm ra khó cạnh tranh với hàng hóa nông sản của các nước có điều kiện sản
xuất tốt hơn được nhập khẩu vào Việt Nam.
Giải pháp
Nông nghiệp nước ta đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy,
ngoài những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy sản xuất nông
kinh doing của họ. tăng cường đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất kĩ thuật sản xuất nông
nghiệp bằng nguồn ngân sách và nguồn vốn ODA theo các vùng sản xuất hàng hoá tập
trung, có sản lượng hàng hoá lớn và giá trị cao.
+ Với các ngành chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ từng địa phương cần áp dụng các
biện pháp hành chính và kinh tế để điều chỉnh phương thức chăn nuôi phân tán, quy
mô nhỏ lẻ, nuôi thả tự nhiên không kiểm soát được dịch bệnh sang phương thức chăn
nuôi trang trại theo quy hoạch vùng và có sử dụng các biện pháp phòng chống dịch
bệnh cũng như xử lý chất thải đồng bộ thức ăn chăn nuôi.
+ Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân
truy cập và khai thác kịp thời các thông tin về ứng dụng khoa học kỹ thuật và công
22
nghệ hiện đại vào sản xuất. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, tạo
điều kiện cho vay vốn... đẩy mạnh quá trình sản xuất nông nghiệp.
+ Mở rộng và tăng cường chất lượng công tác thông tin khoa học công nghệ bằng
cách phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thống kê, thông tin, xuất bản, thư viện, các
trường học và các đoàn thể quần chúng... để làm tốt việc tuyên truyền phổ biến các tin
tức khoa học công nghệ nông nghiệp của nước ta và của thế giới trong đông đảo cán
bộ khoa học công nghệ và trong quần chúng lao động ở nông thôn.
+ Lựa chọn hình thức chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ thích hợp cho các hộ
gia đình nông dân và các trang trại.
+ Tạo ra các giống lúa, ngô và các giống cây trồng khác có năng suất cao, chất lượng
tốt phù hợp với nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu trên cơ sở phát huy ưu thế lai.
+ Tạo giống cây ăn quả có năng suất và chất lượng cao phù hợp với từng vùng sinh
thái, góp phần đổi mới cơ cấu ngành trồng trọt.
+ Cải tạo đàn bò của Việt Nam theo hướng chăn nuôi lấy thịt, sữa có năng suất cao.
+ Nạc hoá đàn lợn trong chăn nuôi xuất khẩu.
+ Nghiên cứu áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp, giảm bớt việc
KẾT LUẬN
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và
đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm
chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của
đời sống xã hội. Đảng và nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện cùng
với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, tiềm lực KHCN đã được tăng cường,
nhiều thành tựu KHCN được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực. Qua đề tài trên, ta
thấy được thực trạng quản lý nhà nước về công nghệ trong nông nghiệp Việt Nam và
nhận thức rõ hơn về vai trò của quản lý nhà nước.
25