SKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng về số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi - Pdf 47

MỤC LỤC
I. Phần mở đầu ……………………………………………….…….....Trang 2
I.1. Lý do chọn đề tài.............................................................................. Trang 2
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài......................................................... Trang 2
I.3. Đối tượng nghiên cứu...................................................................... Trang 3
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ………………………………….......Trang 3
I.5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................Trang 4
II. Phần nội dung ………………………………………………....... . Trang 4
II.1.Cơ sở lý luận............................................................................. Trang 4,5,6
II.2. Thực trạng …………………………………………………....... Trang 6
a. Thuận lợi, khó khăn..................................................................... ....Trang 6
b. Thành công hạn chế........................................................................ Trang 7
c. Mặt mạnh, mặt yếu………………………………………...............Trang 7
d. Các nguyên nhân các yếu tố tác động..............................................Trang 8
e. Phân tích đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đề ra............... Trang 9
II.3. Giải pháp và biện pháp ……………………………………...........Trang 9
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp....................................................Trang 9
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp............ Trang 9 - 17
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp..................................Trang 17
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp và biện pháp................................Trang 18
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Trang 18,19
III. Phần kết luận, kiến nghị ………………………………………. Trang 20
III.1. Kết luận........................................................................................ Trang 20
III.2. Kiến nghị.................................................................................... Trang 21

1


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG
CHO TRẺ 5- 6 TUỔI

được tính tích cực sáng tạo của trẻ khi học môn làm quen với toán.
Đối với môn học này, như chúng ta đã biết rất đa dạng và phong phú, về nội
dung có tầm quan trọng cho trẻ phát triển, tạo tiền đề cho việc học tập là hoạt động
chính ở trường phổ thông sau này. Nếu có một số biện pháp phù hợp khi dạy trẻ thì trẻ
sẽ nắm vững vàng kiến thức, kỹ năng học đếm, thêm bớt, chia nhóm đối tượng để mọi
góc độ thì trẻ cũng dễ dàng đếm và đếm một cách chính xác. Tổ chức cho trẻ học theo
phương pháp đổi mới lấy trẻ làm trung tâm, qua đó trẻ được trải nghiệm, được tự đưa
ra ý kiến của trẻ sẽ giúp trẻ rất hứng thú học tập và sáng tạo, xây dựng đề tài càng mở
rộng thì nhận thức của trẻ càng phát triển.
Trong quá trình dạy trẻ một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho
trẻ 5- 6 tuổi, để trẻ biết cách đếm, thêm bớt, chia nhóm trong phạm vi 10. Qua các vật
thể quen thuộc mà trẻ thực nghiệm thông qua hoạt động chung.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ ở trường Mầm Non Krông Ana.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu qua tài liệu hướng dẫn trong chương trình của môn học làm quen
với toán về số lượng.
Để phát hiện ra quy luật của quá trình hình thành biểu tượng toán học về số
lượng cho trẻ mẫu giáo chúng ta cần phải tìm hiểu nghiên cứu những cuốn sách có
liên quan đến môn học và tâm lý trẻ 5 – 6 tuổi.
Tâm lý học đại cương.
Tâm lý học mầm non.
Từ điển.
Phương pháp hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non.
Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận cuả một số biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6
tuổi thông qua hoạt động chung.
3


Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của một số biện pháp hình thành biểu tượng hình

số lượng so sánh và tạo nhóm các vật khác nhau theo dấu hiệu hình thành những biểu
hiện đúng đắn về các hiện tượng xung quanh cung cấp những tri thức đơn giản có hệ
thống giúp trẻ hiểu biết sơ đẳng về cơ sở hình thành biểu tượng toán học
Các biểu tượng về số lượng vật thể xuất hiện rất sớm ở trẻ mầm non, nhờ có sự
tham gia tích cực của giác quan, đặc biệt là thị giác, xúc giác và thông qua hoạt động
thực tiễn mà trẻ nhận biết được các số lượng.
Khả năng tri giác nhận biết số lượng, đếm, thêm bớt, chia nhóm, nhận biết chữ số phụ
thuộc vào lứa tuổi, vốn kinh nghiệm sống và cảnh quan xung quanh bản thân trẻ và sự
tác động giáo dục của giáo viên.
Phương pháp dạy học với trẻ mầm non được coi là hệ thống các nguyên tắc chủ
yếu nêu lên những phương hướng xác định, mục đích yêu cầu, nội dung và cách thức
dạy học trong những điều kiện cụ thể để đạt mục đích đề ra. Với ý nghĩa này phương
pháp đồng nghĩa với chiến lược hành động chung nhất, phương hướng để đạt được
mục tiêu môn học ở cấp độ hai, phương pháp là cách thức tổ chức là phương thức tổ
chức phối hợp hoạt động chung giữa hoạt động của cô và hoạt động của trẻ nhằm thực
hiện được mục đích và yêu cầu nội dung của môn học. Ở cấp độ cuối cùng phương
pháp là thủ pháp đó chính là các hoạt động, các thao tác cụ thể nối tiếp nhau để thực
hiện nhiệm vụ học tập nào đó. Như vậy, chúng ta có thể tiến hành nghiên cứu phương
pháp dạy học ở cả 3 cấp độ này.
Trên cơ sở đó, phương pháp dạy học ở lứa tuổi mẫu giáo được xem như là cách
thức hướng dẫn của nhà giáo dục với trẻ mầm non nhằm mục đích lĩnh hội những kiến
thức kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển các năng lực khác. Các
nhà nghiên cứu cho rằng, trong dạy học đôi khi hoạt động nhận biết của trẻ gắn liền
với hoạt động thực tiễn và đóng vai trò quan trọng trong giáo dục dạy học.
Với định nghĩa, phương pháp dạy học mầm non không chỉ được xem dưới góc độ
nhà giáo dục đưa ra ý kiến thức đến trẻ theo cách thức nào, mà còn xem xét cả hoạt
động nhận thức của trẻ diễn ra như thế nào. Bởi những kiến thức mà trẻ nắm được là
sản phẩm của chính hoạt động của trẻ chứ không phải của nhà giáo dục. Thông qua
5




Sau khi áp dụng vào một số biện pháp hình thành biểu tượng về số lượng cho trẻ
5 - 6 tuổi. Trẻ tham gia tích cực trong mọi hoạt động vui vẻ. Trẻ thích được học môn
toán, trẻ biết sử dụng được một số kỹ năng cơ bản về máy tính (Nhấp chuột, bấm
chuột...) trẻ biết cách đếm ở nhiều cách khác nhau, chia nhóm, thêm bớt thành thạo.
Bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm để tìm các biện pháp:
Hiệu quả qua kiểm tra chất lượng kiến thức của trẻ tính ra số trẻ khá giỏi, trung
bình, yếu. Từ đó, tôi lên kế hoạch xây dựng biện pháp ôn luyện bằng nhiều hình thức
trong các tiết học và ngoài các tiết học dưới mọi hình thức tôi thấy đạt kết quả hơn so
với đầu năm.
* Khảo sát chất lượng đầu năm:
Tổng số học sinh trong lớp: 35 cháu
- Trẻ đạt: 18 cháu
- Trẻ không đạt: 17 cháu
Sau quá trình áp dụng dạy trẻ theo các biện pháp đề ra, tôi kiểm tra các cháu theo
các phương tiện, kiểm tra từng trẻ theo từng tiêu chí để cho ra kết quả chung: sau thời
gian dạy trẻ theo các biện pháp tôi kiểm tra trên trẻ về các tiêu chí đếm theo hàng
thẳng, hàng ngang, hàng dọc, đếm xuôi, đếm ngược, đếm không theo vị trí nhất định,
nhận biết mối quan hệ hơn kém biết sử dụng từ nhiều hơn – ít hơn nhận ra kết quả
nhiều hơn – ít hơn là mấy, biết cách thêm vào và bớt ra cho đúng yêu cầu, biết cách
chia nhóm đối tượng thành 2 phần và nhận xét được kết quả của 2 phần mà trẻ tự chia
hay chia theo yêu cầu của cô.
* Kết quả cho thấy sau khi áp dụng các biện pháp
- Trẻ đạt: 29 cháu
- Trẻ không đạt: 6 cháu
c. Mặt mạnh - mặt yếu
* Mặt mạnh
Trẻ tham gia tích cực vui vẻ thoải mái mạnh dạn trình bày ý kiến



8


một tâm thế vững vàng, một kiến thức nhất định tạo tiền đề tốt cho việc học tập là
hoạt động chính ở trường phổ thông sau này.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
Qua quá trình cho trẻ làm quen một số biện pháp hình thành biểu tượng về số
lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi tôi nhận thấy rằng:
Khả năng kỹ năng đếm, chia nhóm một số trẻ còn chậm, không đồng đều dẫn đến
kỹ năng đếm, chia nhóm còn chậm.
Phòng học chưa đúng quy cách còn chật hẹp.
Từ việc phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng, việc cho trẻ làm quen một số
biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi có hiệu quả. Tôi đưa ra
một số biện pháp cụ thể như sau:
II.3. Giải pháp, biện pháp
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Xác định loại tiết để chọn phương pháp thích hợp .
Sử dụng đồ dùng trực quan: Tăng cường làm đồ dùng và chú trọng sử dụng đồ
dùng trực quan hợp lý, phù hợp với nội dung bài dạy, đồ dùng đa dạng màu sắc kích
thước phong phú.
Lồng ghép vào các tiết học khác và các trò chơi .
Củng cố và làm quen kiến thức mọi lúc mọi nơi, dạy trẻ kiến thức hình thành
biểu tượng toán học vào cuộc sống .
Hệ thống câu hỏi, phù hợp với đặc điểm của từng cháu để cháu hiểu và nắm rõ
kiến thức cần chuyền đạt.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
- Thực hiện trên tiết học là hoạt động chủ đạo của trẻ, giáo viên là người hướng
dẫn, gợi ý, kích thích họat động, sáng tạo tích cực.
- Tăng cưòng làm đồ dùng và và chú trọng sử dụng trực quan. Biện pháp hữu

Ví dụ: Khi vào tiết học “Đếm 6 nhận biết các nhóm có 6 đối tượng. Nhận biết số
6”.

10


Cô cho trẻ ôn số lượng 5, chuẩn bị tiết mục văn nghệ chọn 5 cháu lên biểu diễn,
cho trẻ chọn số quà tương ứng với bạn mang tặng, cho trẻ tìm chữ số tương ứng ở góc
bé học chữ số trong lớp.
Bài mới: Tổ chức cho trẻ luyện tập cả lớp thực hiện cùng bài hướng dẫn của cô
để thời gian trẻ chơi trò chơi luyện tập nhiều hơn.
Luyện tập cá nhân: Cho 2- 4 trẻ thi đua nhau chọn mua con vật bé yêu có số
lượng 6 đem nó về đúng nơi ở của nó
Tổ chức trò chơi để củng cố kiến thức số trẻ trong lớp cùng tham gia chơi: Trò
chơi về đúng chuồng, chia lớp thành 4 đội, mỗi đội chọn một con vật yêu thích, cùng
con vật đi kiếm ăn khi nào có hiệu lệnh của cô trẻ chạy về chuồng có con vật đó có số
lượng 6, nếu trẻ nào chạy sai thì con vật trẻ yêu không có chuồng.
Phát huy tính tích cực cho trẻ
Giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ suy nghĩ và tự hành động, thậm chí còn để trẻ
tự suy nghĩ cả bài mới là biện pháp kích thích gợi mở hướng dẫn để trẻ hoạt động tích
cực (dựa vào sự nhận thức của trẻ)
Ví dụ: Khi trẻ bắt đầu hoạt động đếm đến 7 nhận biết các nhóm có 7 đối tượng,
nhận biết số 7 thì giáo viên cần dạy trẻ tự tìm, tự đếm, tự xếp theo yêu cầu của cô, trẻ
biết tự nhận xét nhóm đồ dùng đồ chơi đó có số lượng là 7, và để tương ứng với nhóm
đồ dùng đó trẻ tự tìm số 7 gắn vào hoạt cô cho trẻ chọn đối tượng để tương ứng với số
7. Nhưng trên các tiết học tiếp theo sau khi trẻ đến 7 nhận biết các nhóm có 7 đối
tượng, nhận biết số 7, trẻ được học thêm bớt trong phạm vi 7 và chia nhóm 7 đối
tượng thành 2 phần. Cô giáo có thể thiết kế tiết dạy thông qua các trò chơi để gây
hứng thú ở trẻ và giúp trẻ nhớ lâu và quan trọng trẻ tích cực tham gia vào các hoạt
động. Ví dụ: Thiết kế bài dạy của cô trên giáo án điện tử, nếu sử dụng đồ dùng trực

Để đảm bảo tính ý thức và phát huy tính tích cực của trẻ trong quá trình lĩnh hội
kiến thức cần dạy trẻ nhận biết những dấu hiệu nhận biết của đối tượng bằng cách
thay đổi các dấu hiệu trong bản chất và giữ nguyên bản chất của đối tượng. Đồ dùng
đa dạng màu sắc tươi sáng, sắp xếp đồ dùng trực quan ở nhiều vị trí khác nhau để trẻ

12


đếm. Qua hiểu cách đếm trẻ nắm bắt được các dấu hiệu đặt trưng của số lượng và có
biểu tượng chính xác về chúng.
Biện pháp 2: Sử dụng đồ dùng trực quan
Tăng cường làm đồ dùng và chú trọng sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, phù
hợp với nội dung bài dạy, đồ dùng đa dạng màu sắc kích thước phong phú.
Tăng cường làm đồ dùng và và chú trọng sử dụng trực quan. Biện pháp hữu hiệu
giúp tiết học đạt kết quả là gây sự chú ý của trẻ bằng cách sử dụng đồ dùng trực quan
đẹp kết hợp với sự khéo léo của giáo viên khi sử dụng đồ dùng trực quan giúp trẻ lĩnh
hội kiến thức một cách trọn vẹn, chính xác, phấn khởi.
Ví dụ: Cô cùng trẻ tổ chức làm đồ dùng học tập vào buổi chiều cuối tuần, qua
buổi làm đồ dùng giúp cô nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý và năng khiếu của trẻ hơn.
Đầu tuần cô cho trẻ biết tuần này trẻ đang học chủ điểm gì của tuần “Nghề bộ
đội” cô hỏi trẻ thích tặng chú bộ đội món quà gì nhân ngày thành lập quân đội nhân
dân việt nam 22/12. sau đó cô định hướng nguyên vật liệu như hộp sữa chua, hộp
bánh… đến cuối tuần cô cùng trẻ thực hiện sử dụng nguyên vật liệu trẻ đem đến cùng
làm, cô cho trẻ chọn 6 bạn một nhóm, nhóm 1 rửa hộp sữa chua cho sạch, nhóm 2 lau
hộp sữa chua cho khô, nhóm 3 chọn giấy màu cô yêu cầu, nhóm 4 cùng cô dán lá cờ
và ngôi sao vào cây, nhóm 5 đổ cát và xi măng nước cô chuẩn bị sẵn và cho trẻ trộn
cho đều, nhóm 6 cho trẻ hồ đã trộn vào trong hộp sữa chua rồi cắm cột cờ vào. Sau
khi trẻ hoàn thành cho cho trẻ đếm xem trẻ làm được mấy cột cờ (6 cột cờ). Cho trẻ
tham gia làm đồ chơi trẻ phấn khởi vui vẻ tích cực hoạt động gúp trẻ nhớ lâu hơn về
nhà trẻ tự khoe với ba mẹ hôm nay con làm được 6 lá cờ. Qua đó nhằm giúp trẻ củng

Nhằm tạo cho trẻ thoải mái “Học mà chơi , chơi mà học“. Sử dụng lồng ghép vào
các tiết học như trên tiết dạy tôi sử dụng các trò chơi, câu đố thơ ca để kích thích trẻ
hoạt động lồng ghép một số môn học phù hợp như văn học thể dục, tạo hình nhất là tổ
chức các trò chơi mới lạ ở hoạt động chung. Ví dụ: hoạt động góc ở góc nghệ thuật
cho trẻ tô màu những con vật có số lượng 7, góc học tập cho trẻ tô theo nét chấm mờ
những nhóm có con vật có số lượng 7.

14


Trong lớp trên tiết dạy tôi sử dụng câu đố trò chơi, thơ ca để kích thích trẻ hoạt
lồng ghép vào một số môn học phù hợp. Cho trẻ cắt con vật hay một số loại hoa …
trong có số lượng đúng với tiết học để dán và đóng thành Anbum, có thể thực hiện vào
giờ chơi tự do hay hoạt động góc. Ở góc thiên nhiên của lớp, nếu học đến số 6 chuần
bị 6 cây và chuẩn bị 6 hạt cho trẻ chăm sóc cây và gieo 6 hạt, đến học số lượng 7 thêm
1 cây và gieo thêm 1 hạt nửa cứ như vậy cho đến số lượng 10, cho trẻ thay phiên nhau
mỗi ngày được chơi ở góc thiên nhiên, qua góc chơi này cho trẻ đếm xen trẻ tưới
chăm sóc mấy cây, đếm xem có bao nhiêu hạt được gieo xuống đất, bao nhiêu cây nẩy
mầm. Các môn học lồng ghép đan xen lẫn nhau tái tạo khắc sâu kiến thức nhẹ nhàng
thoải mái “Học mà chơi , chơi mà học"
Sử dụng lồng ghép vào các tiết học như trên tiết dạy tôi sử dụng các trò chơi, câu
đố thơ ca để kích thích trẻ hoạt động, lồng ghép một số môn học phù hợp như văn học
thể dục, tạo hình nhất là tổ chức các trò chơi mới lạ ở hoạt động chung.
Biện pháp 4: Củng cố và làm quen kiến thức mọi lúc mọi nơi, dạy trẻ kiến thức
hình thành biểu tượng toán học vào cuộc sống .
Củng cố các kiến thức mọi lúc mọi nơi, dạy trẻ vận dụng các kiến thức vào trong
cuộc sống, ôn luyện mọi lúc mội nơi cũng là cách hữu hiệu giúp cho chất lượng dạy
học ngày càng nâng lên. Tôi luôn chú trọng đến việc ôn tập cho trẻ vì đặc điểm của trẻ
là mau nhớ nhưng cũng rất mau quên nên phải thường xuyên củng cố.
Ví dụ: Đồ dùng đồ chơi của trẻ tôi đều gắn ký hiệu là số: Ly uống nước của trẻ tổ

nâng cao dần, cho cháu giỏi kèm cháu yếu để cùng đếm, nhận biết mối quan hệ hơn
kém và cách chia thành 2 nhóm.
Bằng hệ thống câu hỏi: Và bài tập nhằm kích thích trẻ phát triển về trí lực của trẻ
một cách hưng phấn dẫn dắt trẻ tự tìm ra kết quả, tự đưa ra kết luận khái quát bằng lời
giáo viên cần đặt ra cho trẻ vào các tình huống có vần đề buộc trẻ phải suy nghĩ .
Ví dụ: Cho trẻ so sánh hai nhóm đồ vật để trẻ tự nhận xét về 2 nhóm đồ vật cô sử
dụng một số câu hỏi gợi mở để trẻ suy nghĩ. Cô hỏi 2 nhóm như thế nào với nhau?
(Trẻ có thể trả lời 2 nhóm không bằng nhau, gợi ý cho trẻ khác trẻ lời nhóm nhiều hơn
nhóm thì ít hơn) tại sao con biết 2 nhóm không bằng nhau? (Trẻ trả lời vì nhóm có 7,
16


nhóm có 6 đối tượng, nhóm dư 1 nhóm thiếu 1…) Trẻ tự suy nghĩ và tìm ra câu trẻ lời,
và cô là người động viên khuyến khích trẻ để trẻ được trình bày ý kiến của mình.
Hệ thống câu hỏi bài tập cô đặt ra câu hỏi dựa trên tri giác và trí nhớ tái tạo của
trẻ nhằm ghi nhận những kiến thức của đối tượng yêu cầu trẻ miêu tả những kiến thức
mà trẻ vừa quan sát hay nhắc lại nhiệm vụ của cô giáo .
Ví dụ: Có bao nhiêu con ? hai nhóm như thế nào với nhau ? Tại sao không bằng
nhau ? Muốn bằng nhau làm thế nào?
Câu hỏi tái tạo có nhận thức nhằm giúp trẻ nắm vững và củng cố những kiến thức
một cách sâu sắc hơn
Ví dụ : Tìm và chọn thêm con vật, bông hoa…cho đủ số lượng 7 (Số lượng của
tiết học)
Câu hỏi sáng tạo có nhận thức nhằm giúp trẻ sử dụng những kiến thức đã nắm
được để giải quyết tình huống hay nhiệm vụ khác nhau .
Ví dụ: Trong bình hoa của con có bao nhiêu bông hoa, có bao nhiêu cành hoa ?
muốn mỗi cành đều có bông hoa các con làm thế nào? Dùng đồ dùng gì thực hiện
thêm bông hoa? (Dùng kéo và giấy màu cắt hoa, dùng bút chì đen và màu sáp vẽ tô
thêm hoa, dùng giấy màu xé dán bông hoa, dùng kéo cắt hình ảnh bong hoa…)
Khi sử dụng câu hỏi giáo viên cần chú ý đặt câu hỏi phải ngắn gọn cụ thể đủ ý,

+ Thông qua trò chơi giúp trẻ phát triển óc sáng tạo. Trí nhớ , tư duy và các giác
quan nhanh nhẹn , qua vui chơi tạo cho trẻ tinh thần thoải mái tiếp thu kiến thức nhẹ
nhàng
+ Đồ dùng trực quan đẹp đa dạng hấp dẫn phong phú , trẻ rất hứng thú học tập
không bị nhàm chán và ghi nhớ tái tạo phát triển , giúp trẻ hoạt động sáng tạo .
+ Trong biện pháp hệ thống câu hỏi rất quan trọng tạo điều kiện phát triển trí tuệ
cho trẻ từ câu hỏi đã kích thích trẻ hoạt động sáng tạo
+ Dạy trẻ học vừa sức đã tạo sự thống nhất hài hòa cho từng độ tuổi và đặc biệt là
nhận thức của trẻ .

18


+ Trong biện pháp giáo dục trẻ ở hoạt động chung cũng như hoạt động mọi lúc
mọi nơi phải có hệ thống khoa học , thống nhất tạo sự tiếp thu cho trẻ một cách lô gic .
Từ đó trẻ phát huy tính tích cực trong mọi hoạt động .
* Giá trị khoa học:
Để xây dựng một số biện pháp hình thành các biểu tượng toán học về số lượng là
đúng, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ và thực tế tại lớp mình.
* Kết quả
Qua biện pháp để dạy trẻ hình thành biểu tượng toán học về số lượng cho trẻ 5 -6
tuổi điều tra trước thực nghiệm điều tra mức độ hoàn thành biểu tượng hình thành ở 2
giai đoạn, giai đoạn đầu diễn ra điều tra 36 cháu bằng bài khảo sát chia trẻ làm 2 nhóm
có số lượng tương đương nhau về mọi mặt như : Khá, giỏi, trung bình .
Kết quả trước khi thực nghiệm
Giỏ
Sĩ số

i


kết quả của một cô dạy các cháu có chất lượng như nhau sau khi tiến hành các tiết học
thử nghiệm và tiết học đối chứng
Kết quả sau khi thực nghiệm

Giỏ
Sĩ số

i

Khá

Trung bình

Yếu

Thực nghiệm
18

5

7

5

1

18

3


Mỗi trong môi trường xung quanh đều mang những dấu hiệu nhất định như: màu
sắc, hình dạng, kích thước, số lượng, vị trí sắp xếp trong không gian. Dựa vào những
dấu hiệu này mà con người phân biệt vật này với vật khác, như so sánh, thêm bớt, chia
nhóm số lượng của 2 nhóm đối tượng mang những dấu hiệu bên ngoài của một vật cụ
thể . Dựa vào chúng mà con người có thể tiến hành so sánh các nhóm các vật khác
nhau theo dấu hiệu số lượng .
Những biểu hiện số lượng của trẻ 5 – 6 tuổi ngày một phát triển càng lớn thì quá
trình tri giác của trẻ càng hoàn thiện. Do đó trẻ nhận biết hình dạng cùng các chi tiết
20


của nó ngày càng chính xác hơn. Hơn nữa nội dung phân biệt ngày càng phức tạp thì
trí tuệ của trẻ ngày càng phải hoạt động tích cực hơn. Trí óc tích cực hoạt động làm
cho óc suy luận của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ngày càng phát triển. Nhiều trẻ có khả
năng tạo ra số lượng mới từ những gì đã biết.
III.2 Kiến nghị:
Tham mưu với nhà trường thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên đề để tất cả
giáo viên trong trường tham dự đúc rút kinh nghiệm đối với môn toán
Tham mưu với cấp trên tạo điều kiện hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất để phục vụ cho
hoạt động dạy và học.
Người viết

Nguyễn Thị Hằng
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM CẤP TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………..
HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH CÁC CẤP GHI NHẬN XÉT
……………………………………………………………………………………

II. Phần nội dung ………………………………………………....... . Trang 4
II.1.Cơ sở lý luận............................................................................. Trang 4,5,6
II.2. Thực trạng …………………………………………………....... Trang 6
a. Thuận lợi, khó khăn..................................................................... ....Trang 6
b. Thành công hạn chế........................................................................ Trang 7
c. Mặt mạnh, mặt yếu………………………………………...............Trang 7
d. Các nguyên nhân các yếu tố tác động..............................................Trang 8
e. Phân tích đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đề ra............... Trang 9
II.3. Giải pháp và biện pháp ……………………………………...........Trang 9
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp....................................................Trang 9
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp............ Trang 9 - 17
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp..................................Trang 17
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp và biện pháp................................Trang 18
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Trang 18,19
III. Phần kết luận, kiến nghị ………………………………………. Trang 20
III.1. Kết luận........................................................................................ Trang 20
III.2. Kiến nghị.................................................................................... Trang 21

24


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG
CHO TRẺ 5- 6 TUỔI
I. Phần mở dầu
I.1. Lý do chọn đề tài
Dạy trẻ làm quen với toán là một trong những môn học rất quan trọng, mà
cũng là môn học trẻ yêu thích ở trường mầm non. Vì qua môn học này trẻ học tập vui
chơi, trẻ được thực hành đếm số lượng bằng nhiều hình thức, không những thế trẻ còn
được làm quen với các khái niệm sơ đẳng về dài ngắn, rộng hẹp, cao thấp, kích thước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status