SKKN Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6 - Pdf 47

Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Để đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu kém phát triển, Đảng ta đã thực
hiện đường lối: “Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa”, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội
nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã chỉ rõ: Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đó chính là chìa khóa để đưa
giáo dục Việt Nam tiến kịp với nền giáo dục các nước tiên tiến trên toàn cầu.
Thật vậy, muốn phát triển kinh tế trước hết phải coi trọng giáo dục để đào tạo.
Chỉ có giáo dục mới tạo ra được các thế hệ con người mới vừa có kiến thức, vừa năng
động sáng tạo trong công việc, dám nghĩ, dám làm đáp ứng với yêu cầu xây dựng đất
nước trong thời đại mới. Muốn làm được điều đó, giáo dục phải không ngừng đổi mới
mà cốt lõi chính là đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới cách dạy và cách
học trong đó lấy học sinh làm trung tâm, học sinh là chủ thể của giáo dục, giáo viên
đóng vai trò là người hướng dẫn chủ thể hoạt động.
Tuy nhiên ở các vùng miền khác nhau thì trình độ dân trí cũng khác nhau và đối
tượng học sinh cũng có sự chênh lệch nhau về nhận thức và trình độ. Đối với học sinh
miền núi, tư duy, nhận thức cũng như kĩ năng sống của các em còn thấp hơn nhiều so
với học sinh miền xuôi. Làm thế nào để các em có thể chủ động chiếm lĩnh kiến thức
một cách chắc chắn và hiệu quả đó là cả một vấn đề. Là một giáo viên đang công tác
tại một đơn vị miền núi, đối tượng học sinh củ tôi là học sinh người Bru Vân Kiều, tư
duy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế. Làm thế nào để học sinh sớm tiến bộ, để
có ý thức học tập cao hơn ? Làm thế nào để giúp các em cải thiện kĩ năng sống, kĩ
năng giao tiếp ? Nhưng câu hỏi đó làm tôi luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi và thử
nghiệm giải pháp trong quá trình dạy học.
Qua 3 năm trực tiếp giảng dạy môn Sinh học lớp 6 tại đơn vị, tôi hiểu rằng để học
sinh hiểu hết nội dung bài học, chủ động chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo đặc biệt là đối với học sinh con em dân tộc (Bru – Vân Kiều) thì

+ Phạm vi: Chỉ đề cập một số giải pháp giúp học sinh Bru- Vân Kiều nơi tôi đang
công tác học tốt môn sinh học 6.
+ Đối tượng : Giáo viên dạy bộ môn sinh học 6 và học sinh Bru- Vân Kiều lớp 6
tại đơn vị tôi công tác.

Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

II. NỘI DUNG
1. Thực trạng
1.1. Thuận lợi
a. Về phía giáo viên:
- Bộ môn được phân công giảng dạy phù hợp với chuyên môn.
- Được tập huấn đầy đủ về phương pháp dạy học mới.
- Đã giảng dạy bộ môn sinh học 6 nhiều năm
- Đã tiếp cận với học sinh con em dân tộc Bru- Vân Kiều 7 năm.
- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian biểu
và về lớp dạy tương đối phù hợp.
- Giáo viên được đào tạo đạt chuẩn
- Giáo viên đã nắm được hệ thống các phương pháp dạy học, biết phối hợp một
cách nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tạo nên nhiều tiết
học sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn được học sinh tham gia khám phá, tìm tòi kiến thức.
- Được học hỏi nhiều đồng nghiệp trong trường có chuyên môn nghiệp vụ tốt.
- Luôn có ý thức học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Giáo viên, học sinh thường tập trung sống ở nội trú nhà trường ( Từ thứ 2-> thứ
6) nên dễ nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nắm bắt được tình hình học tập và sở thích
của các em để từ đó đề ra các biện pháp nhằm giúp các em học tốt và hiệu quả.
- Học sinh luôn có niềm tin sâu sắc vào giáo viên. Các em thường dễ dàng nghe

- Phương pháp dạy học mới hiện nay đòi hỏi giáo viên phải tạo điều kiện cho học
sinh tự tìm hiểu để tiếp cận với kiến thức mới tuy nhiên học sinh ở đây còn rất thụ
động, tính tình thì nhút nhát, ngại tiếp xúc, ít tìm hiểu.
b. Về phía học sinh:
- Học sinh lớp 6 mới được làm quen với phướng pháp mới ở trường THCS, mỗi
môn mỗi thầy, mỗi thầy mỗi phương pháp dạy học nên các em còn nhiều bỡ ngỡ.
- Đối tượng học sinh là người dân tộc. Các em học tập hầu như phụ thuộc hoàn
toàn vào thầy cô. Vì vậy thời gian trên lớp không đủ để giúp đối tượng học sinh dân
tộc thành thạo, do vậy giáo viên phải tăng cường thêm các tiết ôn tập phụ đạo cho các
em.
- Địa phương còn nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm rẫy và sự hỗ
trợ của nhà nước, điều kiện sinh hoạt của đa số đồng bào dân tộc Bru – Vân Kiều còn
ở mức thấp, do đó học sinh ngoài giờ học trên lớp còn phải phụ giúp gia đình làm kinh
tế, vì vậy thời lượng học ở nhà của các em còn hạn chế.
- Kết quả cuối năm học 2013-2014:
THỐNG KÊ ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN KHỐI 6 MÔN SINH
Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

NĂM HỌC: 2013 – 2014
TT
1

Lớp
6

Tổng
HS

SL

21

65,6

4

TB trở

Kém

%
12,
5

lên

SL

%

SL

%

0

0


ngày một nâng cao.

Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

2.2. Nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý học sinh Bru- Vân Kiều để có phương
pháp tác động cho phù hợp.
Ngày nay, với quan điểm dạy học hướng vào người học, thì việc phải hiểu đối
tượng mà người thầy đang tác động là điều vô cùng cần thiết. Qua nghiên cứu người
ta thấy rằng đây là lứa tuổi thích “nổi loạn”. Lứa tuổi này đang ở thời điểm dậy thì nên
thoắt vui, thoắt buồn, ương bướng. Do vậy, chúng ta nên dạy theo phương pháp “lạt
mềm buộc chặt”. Sự thay đổi về nội dung học: các em được tiếp xúc với nhiều môn
học khác nhau, nội dung trừu tượng, phong phú sâu sắc hơn, đòi hỏi có sự thay đổi về
phương pháp học. Sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức học tập: ở mỗi
môn học có một giáo viên giảng dạy, các em được học với nhiều thầy cô. Mỗi thầy, cô
có cách trình bày, phương pháp dạy học khác nhau nên cách dạy và nhân cách của
người thầy sẽ tác động vào việc hình thành và phát triển trí tuệ, cách lập luận, nhân
cách của học sinh. Hay nói cách khác đây là lứa tuổi thay đổi mạnh mẽ về thể chất,
sức khỏe và tâm sinh lý. Với ý thức muốn làm người lớn, muốn khẳng định mình
trong gia đình lẫn ngoài xã hội. Vì vậy, chúng ta cần động viên, dìu dắt quan tâm giúp
đỡ các em. Đối với học sinh Bru- Vân Kiều, những hiểu biết về kiến thức xã hội còn ít
(hầu như không có), hầu như ở lứa tuổi này các em chưa hề đi ra khỏi bản làng, vốn
kiến thức còn nghèo nàn, các em còn nhút nhát, ngại nói, ngại tiếp xúc, tiếp thu bài vở
một cách thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên nhưng “lòng tự ái, tự trọng của
các em thì rất cao”. Vậy chúng ta cần làm gì để các em có thể chủ động chiếm lĩnh
kiến thức. Đặc biệt là kiến thức sinh học 6, khi mà kiến thức nó gắn liền với hiện
tượng thực tiễn, nó gắn liền với đời sống các em, nó ở xung quanh các em nhưng các
em chưa lí giải được... Do vậy chúng ta cần nghiên cứu kĩ đặc điểm đối tượng để có

càng và chu đáo hơn.
Để các em chủ động chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động chúng ta cần hướng
dẫn các em học tập một cách kĩ càng. Việc hướng dẫn ở đây không có nghĩa là giáo
viên làm thay, làm thế các em mà giáo viên cần hướng dẫn một cách tường minh hơn
như: Đưa ra những câu hỏi gợi mở, hướng dẫn các em quan sát cái gì, tìm cái gì, rút ra
cái gì từ bức tranh hay mô hình. Có thể cùng một bài dạy, cùng một bức tranh nhưng
khi dạy học sinh vùng thuận lợi chúng ta chỉ cần hướng dẫn qua là các em đã tìm ra
kiến thức nhưng đối với học sinh dân tộc Bru- Vân Kiều có lẽ là rất khó.
Ví dụ: Khi tìm hiểu khái niệm hoa tự thụ phấn – sinh học 6.
Đối với học sinh vùng thuận lợi: Sau khi chiếu hình 30.1 Hoa tự thụ phấn

Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

Gv: Qua quan sát hình ảnh, em hãy cho biết thế nào là hoa tự thụ phấn? Học sinh
có thể trả lời khái niệm một cách dễ dàng. Nhưng đối với học sinh dân tộc Bru-Vân
Kiều, nếu giáo viên chỉ dừng lại với cách hướng dẫn như vậy thì chắc chắn học sinh sẽ
không rút ra được kiến thức. Do vậy để học sinh rút ra được kiến thức, giáo viên cần
hướng dẫn kĩ hơn. Ví dụ đối với hình 30.1 hoa tự thụ phấn giáo viên có thể làm theo
kiểu hiệu ứng động.
Gv: Qua quan sát hình ảnh em hãy cho biết hiện tượng gì đang xảy ra?
HS: Hạt phấn tiếp xúc với đầu nhụy.
GV: Hạt phấn tiếp xúc với đầu ngụy của cùng một cây hay nhiều cây khác nhau.
Hs: Cùng một cây
GV: Hiện tượng chúng ta vừa thấy chính là hiện tượng hoa tự thụ phấn. Vậy
theo em: Thế nào là hoa tự thụ phấn?
Với cách hướng dẫn như vậy chắc chắn học sinh dân tộc sẽ nắm được kiến thức
một cách chắc chắn.

sinh tìm hiểu và khai thác. Từ đó hình thành kiến thức bài học. Do vậy thiết bị dạy học
không thể thiếu trong các tiết sinh học. Đặc biệt là đối với học sinh dân tộc khi mà
mọi thứ đối với các em đều là mới mẻ, khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế do vậy
đòi hỏi mỗi một giáo viên đứng lớp cần chuẩn bị tốt thiết bị dạy học đặc biệt là các
mẫu vật sẵn có tại địa phương.
Để chuẩn bị tốt thiết bị dạy học hoặc mẫu vật sẵn có tại địa phương cho mỗi tiết
lên lớp chúng ta cần phải :
+ Phải nghiên cứu trước các nội dung thông tin có ở tranh ảnh, hình vẽ, mẫu
vật ... để có thể định hướng, hướng dẫn học sinh tìm hiểu tránh chủ quan.
+ Nếu là thí nghiệm biểu diễn, thực hành thì giáo viên phải thực hiện trước để
lường hết các tình huống nhằm đảm bảo sự thành công của thí nghiệm.
+ Tranh ảnh, đồ dùng trực quan phải đảm bảo tính chính xác khoa học.
+ Phải tập biểu diễn thành thạo các thao tác khi sử dụng thiết bị để tránh lảng phí
thời gian, đồng thời đảm bảo tính mô phạm trước học sinh, tuyệt đối không được tùy
tiện.
+ Sử dụng hợp lý thiết bị dạy học, đúng thời điểm thì mới có hiệu quả (Khi sử
dụng tranh giáo viên cần chú ý đến thời điểm xuất hiện của bức tranh và thời gian lưu
trên bảng của bức tranh: sau khi quan sát xong, học sinh đã trả lời được nội dung bức
tranh cần truyền tải => Giáo viên phải lấy tranh và cất ngay, tránh tình trạng lưu tranh
thời gian lâu học sinh sẽ bị phân tán ở các hoạt động khác...).
Kết hợp tốt giữa thiết bị dạy học với phương tiện dạy học hiện đại (như xem băng
hình, đèn chiếu, máy chiếu...) nhằm tạo hứng thú trong học tập của học sinh.
Ví dụ: Khi so sánh cấu tạo trong thân cây trưởng thành và thân cây non –
Sinh học 6.
Nếu giáo viên chỉ dùng lời nói thì học sinh sẽ nhớ kiến thức một cách máy móc
và rất nhanh quên. Nhưng nếu giáo viên sử dụng 2 sơ đồ minh họa sau kèm theo
Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

năng lực về sử dụng các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức hoạt động của lớp,
về tình trạng sức khỏe, giọng nói, ngữ diệu của giáo viên…..Nếu thiếu một trong
những năng lực ấy thì sẽ ảnh hưởng đến việc dạy và học.
Người có năng lực về chuyên môn sẽ thông hiểu được kiến thức của sách giáo
khoa, từ đó nắm được ý đồ của sách. Ngược lại nếu không nắm chắc sẽ không hiểu
đúng, dẫn đến việc hướng dẫn cho học sinh có những lệch lạc nhất định.
VD: Khi so sánh cấu tạo trong giữa thân non và rễ (miền hút). Nếu như không
nắm chắc kiến thức thì qua sơ đồ giáo viên chỉ phát hiện điểm khác nhau: ở rễ ( miền
hút) có lông hút còn ở thân non thì không có lông hút. Nếu như nắm chắc kiến thức
thì sẽ phát hiện ra điểm khác nhau nữa ở vị trí sắp xếp của mạch gỗ và mạch rây.
Hình 1: Sơ đồ cấu tạo thân non

Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

Hình 2: Sơ đồ cấu tạo miền hút của rễ (A: Sơ đồ chung; B: cấu tạo chi tiết một
phần của rễ (xem dưới kính hiển vi) )1: Lông hút; 2: Biểu bì; 3: Thịt vỏ; 4: Mạch
rây; 5: Mạch gỗ; 6 Ruột
Có kiến thức vững chắc giúp giáo viên nắm bắt một cách nhanh chóng những
kiến thức kĩ năng trọng tâm của chương trình. Nhờ đó mà khi dạy giáo viên chủ động
khắc sâu kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình, chú ý hình thành các kĩ năng cơ
bản cho học sinh. Cũng có thể đưa ra những tình huống chuẩn bị cho bài học tiếp theo.
Hay nói cách khác là giáo viên xác định được tiết học này mình dạy cái gì ? và dạy
đến đâu?
Việc nắm chắc nội dung bài dạy sẽ giúp cho người giáo viên định hướng đúng
việc sử dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp. Tức
là người giáo viên trả lời được câu hỏi: Dạy như thế nào?
Ví dụ :Khi dạy bài: “Sự thoát hơi nước của lá – Sinh học 6”.

vai trò định hướng, tổ chức và điều khiển quá trình dạy học trên lớp, còn trò hoạt động
một cách chủ động theo hướng dẫn của thầy để chiếm lĩnh tri thức một cách nhẹ
nhàng, không áp đặt. Các hoạt động cần được thiết kế, tạo dựng liên tiếp có mối liên
hệ logic chặt chẽ theo chủ định, được diễn ra một cách hài hòa giữa giáo viên và học
sinh trong một tiết học.
Để chuẩn bị tốt một bài soạn cần có những yêu cầu sau đây:
- Giáo viên cần nắm chắc mục tiêu cần đạt của bài dạy, đặc điểm của học sinh,
điều kiện vật chất hiện có (thiết bị dạy học).
- Hiểu được cặn kẽ những nội dung kiến thức và kĩ năng nào cần hình thành và
cần rèn cho học sinh, mở rộng kiến thức nào...
- Định ra được các hình thức tổ chức lớp học theo từng phần của bài, qua đó xác
định rõ công việc của thầy và trò.
- Lựa chọn đúng, đủ các thiết bị dạy học cần dùng trong một tiết học để chuẩn bị.
Tóm lại: Công tác soạn bài có tầm quan trọng đặc biệt nó quyết định sự thành
công hay thất bại của một tiết trên lớp. Nó chính là bản hướng dẫn hành động cho

Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

người giáo viên. Do vậy, không được xem thường, qua loa, máy móc, xa rời đối tượng
học sinh; điều kiện cơ sở vật chất hiện có.
2.7.2. Chuẩn bị thiết bị dạy học.
Sinh học nói chung và sinh học 6 nói riêng là môn khoa học thực nghiệm,
phương pháp dạy học chủ yếu là trực quan, thí nghiệm thực hành do vậy trong mỗi tiết
lên lớp chúng ta cần chuẩn bị tốt các thiết bị dạy học giúp học sinh chiếm lĩnh kiến
thức một cách chủ động.
Ví dụ: Khi dạy học sinh phân biệt lớp một lá mầm và lớp hai lá mầm. Nếu như
có sự chuẩn bị mẫu vật trước hay các tranh ảnh minh họa thì học sinh rất dễ dàng phân

kiến thức đã học. Mặt khác thông qua việc kiểm tra chúng ta đánh giá được khả năng
học tập của từng học sinh, phân loại được trình độ học sinh. Ngoài ra, từ kết quả học
tập của học sinh mà giáo viên có thể điều chỉnh quá trình dạy học của chính mình.
Trong quá trình kiểm tra, giáo viên cần đa dạng hóa các hình thức kiểm tra như có thể
kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, có thể bằng hình thức tự luận hay
trắc nghiệm miễn sao giúp học sinh củng cố lại kiến thức và khắc sâu thêm kiến thức.
Đồng thời tạo điều kiện cho học sinh được đánh giá, nhận xét kết quả của nhau.
3. Một số kết quả bước đầu( đối tượng 100% con em dân tộc Bru -Vân Kiều)
Với những giải pháp trên từ năm học 2013-2014 đến năm học 2014-2015 tôi đã
thu được những kết quả khả quan sau: Tỷ lệ khá giỏi đã tăng hơn trước, số học sinh
yếu kém càng ngày càng giảm, đây là một tín hiệu đáng mừng trong việc nâng cao
hiệu quả đào tạo môn sinh tại trường.
THỐNG KÊ ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN KHỐI 6 MÔN SINH
NĂM HỌC: 2013 - 2014
Lớp
6

TS
HS
32

Giỏi
SL %
4 12,5

Khá
SL %
9 28,1

TB


Khá

TB

Yếu

TB trở lên

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2

lợi. Bằng cách này hay cách khác phải trang bị đủ sách giáo khoa cho các em, phải tìm
hiểu rõ đối tượng học sinh để có cách thức tác động cho phù hợp, khi hướng dẫn các
em học bài cần hướng dẫn kĩ hơn, phải thường xuyên có ý thức chuẩn bị TBDH trước
khi lên lớp nhất khoát không dạy chay một tiết sinh học nào. Phải có lòng yêu nghề,
có ý thức trách nhiệm cao. Không ngừng học hỏi để có năng lực sư phạm vững vàng.
Phải thường xuyên nghiên cứu kĩ bài dạy trước khi lên lớp. Nếu tuân thủ các giải pháp
trên chắc chắn chất lượng bộ môn sinh của trường sẽ ngày càng được nâng cao.
Thực vậy, sau 2 năm áp dụng đề tài, giờ đây học sinh của tôi đã có sự tiến bộ hẳn
về chất lượng học tập bộ môn. Các em đã giảm bớt nhiều tính tự ái trong học tập và
chủ động mạnh dạn phát biểu xây dựng bài. Đa số học sinh đã tự giác chuẩn bị bài ở
nhà đầy đủ, giữ gìn sách vở cẩn thận. Các em đã mạnh dạn khi thảo luận nhóm ….nhờ
vậy chất lượng ngày càng được nâng cao.
Vì trong phạm vi hạn hẹp của một sáng kiến, thời gian áp dụng chưa lâu tất nhiên
công tác kiểm chứng chưa chuẩn xác rất mong được sự góp ý giúp đỡ của các đồng
nghiệp.
2. Kiến nghị.
2.1. Với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT
Quan tâm hơn nữa đến việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên.
Nên tổ chức thêm các hội thảo chuyên đề chuyên về PPDH cho giáo viên trong huyện,
tỉnh qua hàng năm.
Đối với ngành giáo dục cần trang bị, bổ sung các tranh ảnh khổ lớn đầy đủ và
cung cấp các tài liệu tham khảo để giáo viên có điều kiện tham khảo.
2.2. Với BGH nhà trường
Cần đầu tư thêm một số thiết bị và đồ dùng phục vụ dạy học bộ môn.
2.3. Với phụ huynh học sinh:
Cần quan tâm việc tự học, tự làm bài tập ở nhà của con cái. Thường xuyên kiểm
tra sách, vở và việc soạn bài trước khi đến trường của các em.
Năm học 2015-2016



giáo dục Việt Nam tiến kịp với nền giáo dục các nước tiên tiến trên toàn cầu.
Thật vậy, muốn phát triển kinh tế trước hết phải coi trọng giáo dục để đào tạo.
Chỉ có giáo dục mới tạo ra được các thế hệ con người mới vừa có kiến thức, vừa năng
động sáng tạo trong công việc, dám nghĩ, dám làm đáp ứng với yêu cầu xây dựng đất
nước trong thời đại mới. Muốn làm được điều đó, giáo dục phải không ngừng đổi mới
mà cốt lõi chính là đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới cách dạy và cách
học trong đó lấy học sinh làm trung tâm, học sinh là chủ thể của giáo dục, giáo viên
đóng vai trò là người hướng dẫn chủ thể hoạt động.
Tuy nhiên ở các vùng miền khác nhau thì trình độ dân trí cũng khác nhau và đối
tượng học sinh cũng có sự chênh lệch nhau về nhận thức và trình độ. Đối với học sinh
miền núi, tư duy, nhận thức cũng như kĩ năng sống của các em còn thấp hơn nhiều so
với học sinh miền xuôi. Làm thế nào để các em có thể chủ động chiếm lĩnh kiến thức
một cách chắc chắn và hiệu quả đó là cả một vấn đề. Là một giáo viên đang công tác
tại một đơn vị miền núi, đối tượng học sinh củ tôi là học sinh người Bru Vân Kiều, tư
duy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế. Làm thế nào để học sinh sớm tiến bộ, để
có ý thức học tập cao hơn ? Làm thế nào để giúp các em cải thiện kĩ năng sống, kĩ
năng giao tiếp ? Nhưng câu hỏi đó làm tôi luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi và thử
nghiệm giải pháp trong quá trình dạy học.
Qua 3 năm trực tiếp giảng dạy môn Sinh học lớp 6 tại đơn vị, tôi hiểu rằng để học
sinh hiểu hết nội dung bài học, chủ động chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo đặc biệt là đối với học sinh con em dân tộc (Bru – Vân Kiều) thì
đòi hỏi mỗi một giáo viên đứng lớp phải làm việc thật nghiêm túc, luôn tìm hiểu đặc
điểm của đối tượng mình tác động để có phương pháp dạy học phù hợp.
Khác với học sinh vùng xuôi, con đường tìm đến con chữ của học sinh miền núi,
vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn vất vả. Học sinh dân tộc miền núi, vùng
Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6



II. NỘI DUNG
1. Thực trạng
1.1. Thuận lợi
a. Về phía giáo viên:
- Bộ môn được phân công giảng dạy phù hợp với chuyên môn.
- Được tập huấn đầy đủ về phương pháp dạy học mới.
- Đã giảng dạy bộ môn sinh học 6 nhiều năm
- Đã tiếp cận với học sinh con em dân tộc Bru- Vân Kiều 7 năm.
- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian biểu
và về lớp dạy tương đối phù hợp.
- Giáo viên được đào tạo đạt chuẩn
- Giáo viên đã nắm được hệ thống các phương pháp dạy học, biết phối hợp một
cách nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tạo nên nhiều tiết
học sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn được học sinh tham gia khám phá, tìm tòi kiến thức.
- Được học hỏi nhiều đồng nghiệp trong trường có chuyên môn nghiệp vụ tốt.
- Luôn có ý thức học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Giáo viên, học sinh thường tập trung sống ở nội trú nhà trường ( Từ thứ 2-> thứ
6) nên dễ nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nắm bắt được tình hình học tập và sở thích
của các em để từ đó đề ra các biện pháp nhằm giúp các em học tốt và hiệu quả.
- Học sinh luôn có niềm tin sâu sắc vào giáo viên. Các em thường dễ dàng nghe
theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là giáo viên. Khi các em đã tin giáo viên,
các em thường quyết tâm thực hiện cho được những công việc mà giáo viên giao,
nhiều khi các em còn bắt chước tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ, điệu bộ ... của giáo viên.
Vì vậy đây chính là một điểm thuận lợi để giáo viên cố gắng trong giảng dạy để không
phụ sự tin yêu của các em đã dành cho thầy cô, từ đó phát huy tính tích cực học tập
của học sinh.
- Trong những năm gần đây được sự quan tâm của phụ huynh và địa phương,
phần nào đó đó tạo động lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.
b. Về phía học sinh:

em.
- Địa phương còn nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm rẫy và sự hỗ
trợ của nhà nước, điều kiện sinh hoạt của đa số đồng bào dân tộc Bru – Vân Kiều còn
ở mức thấp, do đó học sinh ngoài giờ học trên lớp còn phải phụ giúp gia đình làm kinh
tế, vì vậy thời lượng học ở nhà của các em còn hạn chế.
- Kết quả cuối năm học 2013-2014:
THỐNG KÊ ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN KHỐI 6 MÔN SINH
Năm học 2015-2016


Một số giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6

NĂM HỌC: 2013 – 2014
TT
1

Lớp
6

Tổng
HS
32

Giỏi

Khá

SL

%


Kém

%
12,
5

lên

SL

%

SL

%

0

0

28

87,5

- Từ thực tế học sinh như trên, tôi đã suy nghĩ làm thế nào để giúp các em tiến bộ
hơn trong học tập, đưa chất lượng bộ môn sớm tiệm cận với miền xuôi, tôi đã mạnh
dạn thử nghiệm và rút ra được các giải pháp như sau:
2. Giải pháp:
2.1. Trang bị sách giáo khoa và đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.

Ngày nay, với quan điểm dạy học hướng vào người học, thì việc phải hiểu đối
tượng mà người thầy đang tác động là điều vô cùng cần thiết. Qua nghiên cứu người
ta thấy rằng đây là lứa tuổi thích “nổi loạn”. Lứa tuổi này đang ở thời điểm dậy thì nên
thoắt vui, thoắt buồn, ương bướng. Do vậy, chúng ta nên dạy theo phương pháp “lạt
mềm buộc chặt”. Sự thay đổi về nội dung học: các em được tiếp xúc với nhiều môn
học khác nhau, nội dung trừu tượng, phong phú sâu sắc hơn, đòi hỏi có sự thay đổi về
phương pháp học. Sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức học tập: ở mỗi
môn học có một giáo viên giảng dạy, các em được học với nhiều thầy cô. Mỗi thầy, cô
có cách trình bày, phương pháp dạy học khác nhau nên cách dạy và nhân cách của
người thầy sẽ tác động vào việc hình thành và phát triển trí tuệ, cách lập luận, nhân
cách của học sinh. Hay nói cách khác đây là lứa tuổi thay đổi mạnh mẽ về thể chất,
sức khỏe và tâm sinh lý. Với ý thức muốn làm người lớn, muốn khẳng định mình
trong gia đình lẫn ngoài xã hội. Vì vậy, chúng ta cần động viên, dìu dắt quan tâm giúp
đỡ các em. Đối với học sinh Bru- Vân Kiều, những hiểu biết về kiến thức xã hội còn ít
(hầu như không có), hầu như ở lứa tuổi này các em chưa hề đi ra khỏi bản làng, vốn
kiến thức còn nghèo nàn, các em còn nhút nhát, ngại nói, ngại tiếp xúc, tiếp thu bài vở
một cách thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên nhưng “lòng tự ái, tự trọng của
các em thì rất cao”. Vậy chúng ta cần làm gì để các em có thể chủ động chiếm lĩnh
kiến thức. Đặc biệt là kiến thức sinh học 6, khi mà kiến thức nó gắn liền với hiện
tượng thực tiễn, nó gắn liền với đời sống các em, nó ở xung quanh các em nhưng các
em chưa lí giải được... Do vậy chúng ta cần nghiên cứu kĩ đặc điểm đối tượng để có
cách thức tác động một cách phù hợp giúp các em chủ động chiếm lĩnh kiến thức.
Ví dụ 1: Em A là một học sinh ngoan, học tốt của lớp, nhung dạo gần đây thấy
em hay lơ đãng trong việc học tập, đặc biệt trong tiết ôn tập hôm ấy em không viết
bài, tôi gọi lên bảng thì không thuộc, tôi hỏi lí do thì em không trả lời, do quá nóng
nảy tôi đã trách phạt em, thế là em lẳng lặng ra khỏi lớp, hai ba hôm sau em vẫn
không tới trường. Qua thông tin mấy bạn cùng lớp thì em bảo không đi học nữa. Cuối
cùng tôi đã tới nhà, trao đổi với phụ huynh. Qua tâm sự, tôi biết hoàn cảnh gia đình
em khó khăn, bố ốm nặng, không có tiền chữa bệnh, trong nhà còn có 3 em nhỏ đang
đi học. Có lẽ em không thể theo học được mà phải ở nhà giúp đỡ mẹ cáng đáng công

Đối với học sinh vùng thuận lợi: Sau khi chiếu hình 30.1 Hoa tự thụ phấn

Năm học 2015-2016



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status