SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT ĐÁC LUA
Mã số: ................................
(Do HĐTĐSK Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ
NHẰM GIẢM DẦN TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM
VỀ HỌC LỰC TẠI TRƯỜNG THPT ĐẮC LUA,
HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Người viết: LÊ MINH TUYẾN.
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: .............................
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình
Đĩa CD (DVD)
Nhiệm vụ được giao (quản lý, đoàn thể, công việc hành chính, công việc
chuyên môn, giảng dạy môn, lớp, chủ nhiệm lớp,…): Quản lý trường học
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Đắc Lua – Tân Phú
II.
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 1994
- Chuyên ngành đào tạo: Toán
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Quản lý trường học
Số năm có kinh nghiệm: 17 năm
- Các sáng kiến đã có trong 5 năm gần đây:
1)Quản lý xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực
2)Đổi mới công tác quản lý hoạt động day và học của trường thpt đăc lua.
3)Hiệu trưởng chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở cấp trung học phổ thông trong giai
đoạn hiện nay
4)một số biên pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ
2
BM04-NXĐGSK
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT ĐẮC LUA
–––––––––––
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
- Chỉ thay thế một phần giải pháp, đề xuất đã có với mức độ trung bình hoặc lần đầu áp dụng giải pháp ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật mới đã có tại đơn vị và đã khắc phục được hạn chế trong thực tế của đơn vị
- Chỉ thay thế một phần giải pháp, đề xuất đã có với mức độ khá
- Chỉ thay thế một phần giải pháp, đề xuất đã có với mức độ tốt hoặc giải pháp, đề xuất thay thế hoàn
toàn mới so với giải pháp, đề xuất đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
- Không có minh chứng thực tế hoặc minh chứng thực tế chưa đủ độ tin cậy, độ giá trị
- Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy sáng kiến có thay thế một phần giải pháp, đề
xuất đã có hoặc lần đầu áp dụng giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới tại đơn vị
- Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy được hiệu quả giải pháp, đề xuất của tác giả thay thế hoàn
toàn mới giải pháp, đề xuất đã có được triển khai thực hiện tại đơn vị
- Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy được sáng kiến đã thay thế một phần giải pháp, đề
xuất đã có trong toàn ngành; được Phòng GD&ĐT hoặc Sở GD&ĐT triển khai thực hiện
- Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy được sáng kiến đã thay thế hoàn toàn mới giải pháp, đề
xuất đã có trong toàn ngành; được Phòng GD&ĐT hoặc Sở GD&ĐT triển khai thực hiện
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô mỗi dòng dưới đây)
- Sáng kiến không có khả năng áp dụng
- Sáng kiến chỉ có khả năng áp dụng riêng cho Tổ/Khối/Phòng/Ban của đơn vị
- Sáng kiến chỉ có khả năng áp dụng riêng cho đơn vị
- Sáng kiến có khả năng áp dụng cho toàn ngành hoặc sáng kiến có khả năng áp dụng tốt cho cơ sở giáo
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Hiện nay, hơn bao giờ hết vấn đề chất lượng đào tạo là vấn đề luôn được sự
quan tâm đặc biệt trong các trường học. Đó là tín hiệu đáng mừng đối với những
người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Trước đòi hỏi rất cao của thực tiễn cuộc
sống, diễn biến thay đổi một cách nhanh chóng theo sự phát triển của thời đại, đặt ra
yêu cầu chất lượng giáo dục phải đáp ứng tương xứng. Vì vậy, các nhà trường không
thể không chăm lo cho “ sản phẩm ” của mình. Kết quả cho thấy, chất lượng trong
những năm qua ở các nhà trường nhìn chung đã có những bước chuyển biến mới. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đối với chất lượng đào tạo, luôn tồn tại một
vấn đề bức xúc đòi hỏi phải giải quyết, đó là vấn đề học sinh yếu kém.
Có thể nói, vấn đề học sinh yếu kém luôn là vấn đề được đề cập rất nhiều
trong các bản kế hoạch của các đơn vị trường học. Nhưng tiếc thay, đề cập nhiều chắc
gì đã thu được kết quả tốt. Thực tế đã chứng minh điều đó. Ở trường chúng tôi là
một dẫn chứng cụ thể, kết quả xếp loại học lực một số năm gần đây như sau:
Cuối
năm học
Tổn
g số
Giỏi
S
L
%
Khá
SL
11,
4
98
17,3 269 47,4 113
19,
9
23 4,0
13
6
23,
9
20152016
565
74
13,
1
102
tiền. Có nhiều trường hợp, nhà trường miễn tiền học thêm cho các em nhưng bố mẹ
lại bắt ở nhà để đỡ đần công việc đồng áng, phụ giúp thêm kinh tế gia đình… Giáo
viên nhìn thấy điều đó không? Các nhà giáo tâm huyết ở đây nhìn thấy rất rõ điều đó.
Vấn đề là làm sao để giúp đỡ cho các em? Trong khi đó, nhiều nhà giáo ở đơn vị
chúng tôi là giáo viên xa nhà độc thân. Những nhà giáo hết sức thương yêu học sinh
nhưng phần lớn cũng chỉ bằng tình thương tội nghiệp mà thôi! Chỉ có thể trao cho các
em bằng những con chữ nếu vận động được các em đến lớp chuyên cần. Một số trong
đó không thể vô tư tâm huyết được nhiều cho sự nghiệp giáo dục vùng khó khăn.
Ngoài ra, chất lượng đội ngũ giáo viên vùng khó khăn, vì nhiều lí do nên không thể
bằng được ở những vùng thuận lợi. Đó có phải là một trong những lí do “ những vùng
khó khăn thường là vùng trũng của chất lượng giáo dục” không? Ngẫm ra, câu nói
này thật hay mà đúng.
Một vài nét về học sinh, giáo viên vùng khó như vậy để thấy rằng, công tác
giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém nói chung của các nhà trường vốn rất khó khăn thì sự
khó khăn đối với đơn vị như chúng tôi lại càng bị nhân lên gấp bội.
Đối chiếu với những yêu cầu về mục tiêu, nội dung và phương pháp của giáo dục bậc
phổ thông, không phải bao giờ chúng ta cũng đạt được như mong muốn. Trên thực tế,
hầu khắp các trường phổ thông luôn tồn tại một tỷ lệ đáng kể và rất đáng quan tâm về
số học sinh không đạt được những yêu cầu nói trên, điều đó đã trở thành vấn đề bức
bách luôn đòi hỏi những người làm công tác giáo dục không thể không tìm cách tháo
gỡ, giảm thiểu số đối tượng này. Đó là những học sinh yếu kém. Số học sinh yếu kém
ở mỗi trường, mỗi lớp cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý chỉ đạo và
mức độ nhiệt tình của đội ngũ giáo viên có chịu khó tìm tòi nguyên nhân và tìm ra
những biện pháp hữu hiệu để khắc phục những hạn chế đó. Đặc biệt, đối với một địa
bàn vùng núi khó khăn của huyện như đơn vị chúng tôi, chỉ tiêu chất lượng học lực
luôn thấp kém hơn nhiều so với mặt bằng chung của huyện, của tỉnh. Nhà trường đã
đề ra khá nhiều biện pháp nhằm hạn chế tỉ lệ học sinh yếu kém này nhưng hiệu quả
vẫn rất thấp, xu hướng tiến triển chậm chạp. Tình trạng này đã kéo dài nhiều năm như
thế. Trước thực trạng đó, tôi đã để tâm tìm hiểu, đề ra một một số biện pháp đem vào
áp dụng và đã có được những kết quả nhất định. Trên cơ sở đó, tôi chọn đề tài: “Một
xưa! Nhiều em suốt nhiều năm đi học không có một cuốn sách giáo khoa mới. Nhiều
em bố mẹ lăn lộn trăm bề mà vẫn thường xuyên bị nhà trường nhắc nhở về chậm trễ
trong việc nộp tiền đóng góp các khoản. Nhiều em không được đi học thêm vì thiếu
tiền. Có nhiều trường hợp, nhà trường miễn tiền học thêm cho các em nhưng bố mẹ
lại bắt ở nhà để đỡ đần công việc đồng áng, phụ giúp thêm kinh tế gia đình… Giáo
viên nhìn thấy điều đó không? Các nhà giáo tâm huyết ở đây nhìn thấy rất rõ điều đó.
Vấn đề là làm sao để giúp đỡ cho các em? Trong khi đó, nhiều nhà giáo ở đơn vị
chúng tôi là giáo viên xa nhà độc thân. Những nhà giáo hết sức thương yêu học sinh
nhưng phần lớn cũng chỉ bằng tình thương tội nghiệp mà thôi! Chỉ có thể trao cho các
6
em bằng những con chữ nếu vận động được các em đến lớp chuyên cần. Một số trong
đó không thể vô tư tâm huyết được nhiều cho sự nghiệp giáo dục vùng khó khăn.
Ngoài ra, chất lượng đội ngũ giáo viên vùng khó khăn, vì nhiều lí do nên không thể
bằng được ở những vùng thuận lợi. Đó có phải là một trong những lí do “ những vùng
khó khăn thường là vùng trũng của chất lượng giáo dục” không? Ngẫm ra, câu nói
này thật hay mà đúng.
Một vài nét về học sinh, giáo viên vùng khó như vậy để thấy rằng, công tác
giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém nói chung của các nhà trường vốn rất khó khăn thì sự
khó khăn đối với đơn vị như chúng tôi lại càng bị nhân lên gấp bội.
2.2. Nguyên nhân học sinh có học lực yếu kém :
a) Có nhiều học sinh trường bị “ mất gốc ” kiến thức :
`Điều này thể hiện rõ qua các kỳ khảo sát đầu vào THCS, qua thực tế kết quả
dạy học của giáo viên. Thực vậy, có nhiều em không những không tiếp cận được kiến
thức của các môn khoa học phải học tập trong chương trình THCS mà ngay cả những
kỹ năng đọc viết thông thường, tính toán giản đơn, các em cũng chưa đạt yêu cầu. Có
nhiều học sinh học đến lớp 7, lớp 8 còn chưa đọc thông viết thạo, chưa làm được
những bài toán số học đơn giản của chương trình lớp 3, lớp 4. Như vậy thì làm sao
các em tiếp thu được những khối lượng kiến thức lớn của các môn học ở bậc THPT.
dẫn đến đã yếu kém lại càng tụt hậu.
Nếu không có biện pháp khắc phục tình trạng này thì đây là một nguyên nhân
mới đáng kể làm gia tăng tỷ lệ học sinh yếu kém.
Ngoài ra, nội dung chương trình giáo dục phổ thông của chúng ta hiện nay còn
có những vấn đề nặng về tính hàn lâm, ôm đồm, không sát thực tế nhu cầu hướng tới
phát triển cá nhân học sinh. Tuy vậy, vẫn buộc học sinh phải học, mặc dù việc học tập
đó các em không hứng thú và không mang lại lợi ích thiết thực nào. Học sinh phải
gồng mình lên đối phó với yêu cầu của giáo viên. Việc học này không có chiều sâu.
Vì vậy, càng học nhiều, càng quên nhiều. Mặc dù nhiều em học sinh, ngoài việc học
chính khóa, học thêm ở trường, bố mẹ còn bắt đi học thêm ở ngoài. Vậy mà yếu kém
vẫn hoàn yếu kém.
d) Nhằm chạy đua thành tích đạt tỷ lệ cao và đúng độ tuổi của công tác phổ cập
giáo dục, đã dẫn đến tình trạng có nhiều học sinh “ ngồi nhầm lớp”:
Yêu cầu của công tác phổ cập giáo dục là huy động, duy trì sỹ số và đảm bảo
chất lượng. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta mới chỉ quan tâm đến mặt số lượng, đến tỷ
lệ, đến thành tích một cách hình thức mà chưa thực sự quan tâm đến chất lượng phổ
cập như thế nào. Chưa mạnh tay trong công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra chất lượng
dẫn đến có nhiều học sinh đi học là tính thời gian, tính năm, tính tháng, tính tuổi để
được lên lớp mà đáng lẽ có nhiều em chưa đạt được điều đó, đúng ra là phải lưu ban,
phải học lại. Thực tế, có rất nhiều học sinh yếu kém thì mặc yếu kém, hầu như không
bao giờ phải lo chuyện ở lại lớp ! Nếu em nào có thiếu điểm một số môn nào đó, các
em sẽ được thi lại trong hè và được xét là đủ điều kiện để được lên lớp. Việc thi lại ở
đây gần giống như là một thao tác để “ hợp pháp hoá ” cho các em được lên lớp, mà
đáng lẽ ra là các em phải lưu ban. Vậy, lợi ích thiết thực của việc không phải lưu ban
là gì ? Có phải đó là vấn đề chạy đua để đạt tỷ lệ đẹp về vấn đề phổ cập giáo dục hay
8
không ? ! Có người cho rằng, sự chạy đua về số lượng của công tác phổ cập là một
trong những nguyên nhân chính dẫn đến có nhiều học sinh yếu kém.
những năm qua.
9
Về công tác chỉ đạo, quản lí nhằm khắc phục dần tình trạng học sinh yếu kém,
có thể nói bất cứ trường nào cũng đều quan tâm, ở mức độ khác nhau, đều tìm những
giải pháp nhất định để thực hiện điều này. Trước thực trạng về tình hình học sinh yếu
kém về học lực như đã nêu trên, ở trường chúng tôi đã tiến hành một số biện pháp
nhằm giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém này. Cụ thể, đó là một số biện pháp như sau:
a. Chỉ đạo tiến hành phân luồng, tổ chức dạy học phụ đạo đại trà cho học sinh yếu
kém.
b. Tăng cường kiểm tra bài cũ, bài làm ở nhà của học sinh.
c. Tiến hành hỏi bài cũ dưới cờ.
d. Tiến hành họp phụ huynh của những em yếu kém nhằm phối hợp với phụ huynh để
đôn đốc việc học tập của học sinh.
e. Ghi tên những học sinh không thuộc bài, phê bình dưới cờ, trừ điểm thi đua của
lớp.
f. Bắt học sinh không thuộc bài trong buổi học chính khoá đi học lại bài vào một buổi
khác v.v …
Với những biện pháp trên, tình hình có được cải thiện chút ít nhưng mức độ tiến triển
vẫn chậm chạp và chưa vững chắc, thậm chí có khi còn không thay đổi được tình
hình. Vì vậy, một số cán bộ và giáo viên đã có lúc nản lòng.
2.2. Nguyên nhân không thành công của những giải pháp chỉ đạo, quản lí nhằm
giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém trong những năm qua.
Là một cán bộ quản lí, tôi đã cố gắng tìm hiểu và thấy được một số nguyên
nhân không thành công của các giải pháp chỉ đạo, quản lí nêu trên như sau.
a.Đa số các giải pháp không đạt hiệu quả là do đánh giá chưa đầy đủ, đúng mức về
thực trạng học sinh yếu kém.
b. Chưa đi sâu tìm hiểu các nguyên nhân học sinh yếu kém để đề ra các giải pháp phù
hợp, sát đối tượng.
thích của em là gì ? kế hoạch phấn đấu học tập của em như thế nào ?…Những yêu
cầu, đề xuất của em : về công tác tổ chức dạy học của nhà trường ( kể cả chính khoá
và học thêm ) ? về nội dung, phương pháp giảng dạy các bộ môn của các giáo viên
như thế nào ? v.v…
Sau phiếu thăm dò có ý kiến và chữ ký của phụ huynh ( có mẫu kèm theo ở phần phụ
lục ).
Công tác phát phiếu thăm dò cần quán triệt rõ mục đích cuối cùng là nhằm đảm
bảo hiểu đúng đối tượng, làm sao cho công tác dạy tốt hơn, học tốt hơn, hiệu quả giáo
dục ngày càng tốt hơn. Thăm dò là để xây dựng. Sử dụng biện pháp này cần linh hoạt
mềm dẻo tránh những mặt tiêu cực có thể xẩy ra.
Sau khi thu thập, tìm hiểu được nguyên nhân của học sinh học yếu, chúng ta tiến
hành thực hiện các biện pháp tác động. Mỗi một nguyên nhân thường có một số biện
pháp cụ thể để khắc phục. Một số ví dụ cụ thể như:
11
- Trường hợp đối với các đối tượng bị“hổng“ kiến thức từ Tiểu học hoặc
THCS .
Đối tượng này, phải phụ đạo lại cho các em những kiến thức sơ đẳng nhất,
thông thường nhất như những kỹ năng về đọc viết, tính toán cơ bản… để từ đó làm
cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức mới. Thực tế cho thấy, nhiều học sinh THCS chưa
đọc thông viết thạo. Nếu chúng ta không quan tâm đến các đối tượng này thì chắc
chắn rằng, các em đến lớp là chỉ đi cho có, không thể thu nhận được gì, lời giáo viên
chỉ là nước đổ lá môn! Vì vậy, với đối tượng này, đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, phải
chịu khó hướng dẫn các em. Điều tất nhiên, không thể quan tâm chỉ trong 45 phút
chính khoá là có thể được mà chắc chắn là phải bố trí thêm thời gian ngoài cho các
em học tập.
Cụ thể: Đối với lớp 6 và lớp 10, vào đầu năm học, chúng tôi tiến hành khảo sát
chất lượng để tiến hành phân loại học sinh đầu vào. Lập danh sách học sinh yếu kém
lần 1 bắt đầu tiến hành phân công giáo viên phụ đạo.
trường tìm cách thu hút giáo dục học sinh thông qua nhiều hình thức như: tổ chức
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ( trong giờ chủ nhiệm, giờ chào cờ, giờ ngoại
khoá …), phối hợp trong các hoạt động Đoàn Đội, các hoạt động xã hội khác … Biểu
dương khen ngợi những gương chăm ngoan học giỏi, những em chấp hành tốt kỷ luật
nhà trường, phê phán những em chưa ngoan và yêu cầu các em tu dưỡng, rèn luyện
với những biện pháp giáo dục tương ứng.
- Trường hợp học sinh yếu kém do tác động mặt trái của việc đổi mới phương
pháp dạy học. Trường hợp này, giáo viên phải chú ý điều chỉnh cho phù hợp. Giáo
viên cần tăng cường quan tâm hơn đối với những học sinh năng lực còn hạn chế. Ví
dụ như: trong hoạt động nhóm, khi giao nhiệm vụ cho học sinh, giáo viên bắt buộc tất
cả các cá nhân phải làm việc, học sinh khá hơn giúp đỡ học sinh yếu hơn. Khi báo cáo
kết quả làm việc của nhóm, giáo viên chú ý giành cơ hội ( mời ) cho học sinh yếu
trình bày, coi kết quả trình bày này là kết quả của cả nhóm (có thể giáo viên cho điểmđó là điểm chung của cả nhóm). Làm như vậy, tính đồng đội, tính tập thể trong nhóm
sẽ tăng lên, buộc các em học khá phải có trách nhiệm giúp đỡ các em học yếu ( nếu
không, tất cả sẽ cùng chịu điểm thấp). Hiệu quả của việc “ Học thày không tày học
bạn ” được phát huy.
- Trường hợp học sinh “ngồi nhầm lớp” do việc “đẩy” học sinh yếu lên lớp để
đảm bảo công tác phổ cập giáo dục đạt tỷ lệ cao và đúng độ tuổi. Đối với trường hợp
này, yêu cầu nhà quản lý giáo dục phải quan tâm hơn đối với thước đo chất lượng thật
của công tác phổ cập giáo dục. Phải có những biện pháp chống chạy đua thành tích,
chạy đua về số lượng ( huy động, duy trì sỹ số, tỷ lệ đẹp với yêu cầu tiêu chuẩn phổ
cập …) mà ảnh hưởng đến chất lượng học sinh, ảnh hưởng đến cả uy tín của sự
nghiệp giáo dục. Nếu thực sự học sinh lên lớp mà kiến thức trỗng rỗng thì đừng lừa
dối mình, lừa dối các em và cả xã hội mà trở thành có tội. Hãy thẳng thắn chỉ rõ cho
các em và phụ huynh các em nhìn đúng thực tế. Cái gì cũng có cái giá của nó. Hãy để
các em học lại. Học lại thì phải cố gắng vươn lên, đừng mặc cảm, hãy biến hành vi
mặc cảm thành hành vi tích cực phấn đấu. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hiện tượng
“ngồi nhầm lớp” này, phải tiến hành dần dần từng bước theo lộ trình.
13
thấy có hiệu quả rõ rệt thì đề xuất cho phép nhân rộng, áp dụng đại trà.
- Bước 4 : Nhân rộng đại trà với các phương án hiệu quả đã chọn.
Khi thấy chuyên đề có giá trị thiết thực, được nhà trường cho phép thì các tổ triển
khai nhân rộng theo các phương án đã lựa chọn. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng,
phải thường xuyên chú ý bổ sung hoặc điều chỉnh để chuyên đề tiếp tục được hoàn
thiện hơn.
14
Hồ sơ chuyên đề gồm có :
1. Báo cáo lí thuyết chuyên đề của nhóm bộ môn kèm biên bản thảo luận phần
báo cáo lí thuyết của chuyên đề ( để biết ý kiến từng giáo viên trong nhóm). Nếu kèm
thêm tham luận của giáo viên càng tốt.
2. Giáo án tiết dạy thể nghiệm.
3. Phiếu đánh giá tiết dạy thể nghiệm.
4. Biên bản đánh giá, rút kinh nghiệm tiết dạy thể nghiệm.
Trên cơ sở kết quả của chuyên đề, nhà trường tiến hành tổ chức dạy học.
Hiện nay, tại các nhà trường, để có thể tổ chức mở lớp phụ đạo cho tất cả các
môn của bậc THCS, THPT là rất khó thực hiện do khó bố trí về thời gian, nhân sự. Ở
trường chúng tôi, thành lập lớp phụ đạo cơ bản tập trung vào các môn Toán, Ngữ văn,
Ngoại ngữ. Lịch cố định thời gian là vào sánh thứ 2 các lớp THPT, chiều thứ 2 các lớp
THCS hàng tuần. Mỗi tuần chỉ học một môn luân phiên nhau cho tất cả các khối. Vì
có những học sinh phải đi học phụ đạo nhiều môn, xếp như vậy để các em được tham
gia nhiều môn và nhà trường dễ theo dõi quản lí. Mỗi học kỳ tổ chức được 15 buổi
tập trung cho mỗi khối ( Mỗi môn 5 buổi ).
Sau khi thống nhất số buổi, căn cứ năng lực, chất lượng, trình độ của học sinh,
nhóm chuyên môn xây dựng khung chương trình phụ đạo phù hợp, sát đối tượng.
Trên cơ sở đó, định hướng giáo viên thiết kế bài lên lớp đảm bảo hiệu quả nhất.
Các môn không thành lập được lớp thì triến khai cho giáo viên bộ môn nắm
vững đối tượng học sinh yếu kém của môn mình để có biện pháp tác động thích hợp.
được có tư tưởng bỏ mặc, buông trôi, đến đâu thì đến. Vì vậy, Ban Giám hiệu phải có
biện pháp về công tác tư tưởng, xây dựng niềm tin, động viên khuyến khích đối với
giáo viên trong việc bồi dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém. Giáo viên tin tưởng làm
được thì nhẩt định sẽ có kết quả làm được.
Đối với học sinh, xây dựng niềm tin ở các em cũng có vai trò hết sức quan
trọng, góp phần quyết định sự thành công, sự tiến bộ của các em. Giáo viên phải hết
sức chú ý đến yếu tố tâm lý mà tác động đến tư tưởng tình cảm, và động viên khuyến
khích kịp thời. Công việc này đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, không nóng vội. Giáo
viên phải hiểu được học sinh, căn cứ vào trình độ năng lực thực tế của các em để đề
ra những bài tập hợp lý, vừa sức, đi từ dễ đến khó. Phải cho các em thực hiện nhiều
lần đến khi thành thạo. Phải gây sự hứng thú và niềm tin ở các em, làm sao để các em
thấy được: “ Mình ngày càng tiến bộ, ngày càng làm được nhiều bài tập khó”… thậm
chí, “còn có khả năng học giỏi nữa là khác ”…
Việc xây dựng lòng tin phải kết hợp với sự tận tình, quan tâm chăm sóc giúp
đỡ. Sự giúp đỡ bắt đầu từ những cử chỉ thân thiện, gần gũi, thấu hiểu, từ cách biết gây
hứng thú đến động viên khuyến khích...Việc giúp đỡ kết hợp giữa tình cảm với động
viên vật chất như sách, vở, bút, giấy… Làm được như vậy thì hiệu quả nhất định sẽ
đến sớm hơn. Thực tế, việc vận dụng của chúng tôi đã chứng minh điều đó.
4. Thường xuyên chú ý động viên, biểu dương, khen thưởng:
16
Biện pháp này áp dụng cho cả giáo viên và học sinh dựa trên cơ sở kết quả
đánh giá tổng kết công tác một cách trung thực và đúng đắn.
Đối với giáo viên, nếu hoàn thành tốt với những kết quả cụ thể trong công tác
bồi dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém thì phải động viên khen thưởng ngay. Vì trên
thực tế, nhiều khi việc chọn giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém còn khó hơn cả việc
chọn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi. Công sức giáo viên đổ ra thì nhiều nhưng
hiệu quả thu được rất khó khăn so với bồi dưỡng học sinh giỏi. Vậy mà, nhiều khi
những người góp phần làm nên chất lượng đại trà, song song với chất lượng mũi nhọn
thời, qua kết quả kiểm tra, khảo sát để đánh giá hiệu quả của giáo viên trong công tác
phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém. Đánh giá chất lượng học sinh qua báo cáo của
giáo viên kết hợp với việc khảo sát thực tế của nhà trường để đảm bảo tính khách
quan, trung thực.
Đối với Chi đoàn giáo viên, nhà trường cũng triển khai Chi đoàn giao nhiệm vụ
cụ thể như Công đoàn và phối hợp với Công đoàn để làm tốt công tác bồi dưỡng phụ
đạo học sinh yếu kém. Có thể phân ra các nhóm phụ trách các khối lớp. Trong mỗi
nhóm, đều có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng .
Ví dụ : Một số đồng chí chuyên trách giảng dạy trên lớp, số khác cung cấp
thông tin ( như tìm hiểu tận các gia đình học sinh vv…) hỗ trợ sách vở, tài liệu và
những vấn đề liên quan để đảm bảo cho công tác có hiệu quả cao.
Đối với công tác Đoàn - Đội trong trường học : cần đưa công tác này thành một
mặt của phong trào thi đua toàn diện trong trường học. Thường xuyên cập nhật thông
tin từ bộ phận chuyên môn để có hình thức biểu dương, khen – chê - thưởng – phạt
kịp thời. Muốn vậy, nhà trường và Đoàn - Đội cần phối hợp với nhau để thống nhất
chương trình hành động, để triển khai trong kế hoạch chung của các chi đoàn các lớp
và của Liên đội và từng Chi đội. Ưu thế đặc biệt của Đoàn, Đội là công tác thi đua,
công tác động viên khuyến khích bằng hình thức biểu dương, khen thưởng, giúp đỡ
lẫn nhau trong các “ Nhóm bạn cùng tiến”… Phối hợp giữa chuyên môn và Đoàn Đội
duy trì tốt việc hỏi bài cũ dưới cờ trong các buổi chào cờ đầu tuần.
Đối với các đoàn thể ngoài nhà trường :
Cần bám sát chương trình kế hoạch xã hội hoá giáo dục của địa phương để phối
hợp hành động tuỳ theo đặc trưng từng đoàn thể mà linh hoạt thực hiện cho hợp lý,
chú ý thông tin hai chiều từ nhà trường đến gia đình nơi cư trú để có sự điều chỉnh các
giải pháp một cách phù hợp, kịp thời và hiệu quả.
Đặc biệt chú ý tới các đoàn thể ở cấp xóm. Chúng tôi đã đề xuất, mỗi xóm cần
có một Ban chuyên trách giáo dục. Trưởng ban chuyên trách phải là xóm trưởng.
Xóm trưởng - trong chừng mực nhất định, phải được coi như là một ông “Hiệu
trưởng” ở xóm. Xóm trưởng cùng với Ban chuyên trách phải có chương trình, kế
Ban Giám hiệu nhà trường và các xóm có lịch tiếp xúc thường kỳ để trao đổi thông tin
hai chiều ( Một năm ít nhất là 2 lần: đầu năm để triển khai kế hoạch; cuối học kỳ I để
sơ kết và triển khai kế hoạch tiếp theo ). Khi cần về các xóm, phải có sự chuẩn bị nội
dung, chương trình, nhân sự thật chu đáo, có sức thuyết phục để tiếp xúc với phụ
huynh. Đây là việc làm đem lại hiệu quả nhiều mặt, thuận lợi cho công tác giáo dục
nhưng đòi hỏi người thực hiện phải thực sự tâm huyết, nhiệt tình và có khả năng công
tác tốt.
6. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, đôn đốc.
Công tác quản lí ở lĩnh vực này bao gồm nội dung như: kế hoạch chỉ đạo, quản
lí tổ chức thời gian, điều hành nhân sự, quản lí chương trình, hồ sơ, chất lượng…
Để thực hiện tốt “ Giảỉ pháp giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém ” phải có kế hoạch khả
thi. Kế hoạch phải đánh giá đúng thực trạng, phải đưa ra được các giải pháp phù hợp,
hiệu quả. Sau khi có kế hoạch, nhà trường cần tổ chức quán triệt thực hiện tốt. Hàng
tháng, hàng tuần, cần cập nhật tình hình kịp thời. Vào các buổi sinh hoạt chuyên môn
và họp Hội đồng sư phạm, cần bổ sung mục: “ Báo cáo về tình hình học sinh yếu kém
19
” để từ đó có cơ sở xử lý các tình huống xẩy ra và đề ra kế hoạch tiếp nối phù hợp.
Lúc đầu, đề xuất mục này có thể hơi gượng ép, nhưng qua một quá trình sẽ trở thành
quen và đem lại hiệu quả công tác tốt hơn.
Công tác bố trí thời gian dạy học phải hợp lí, tránh chồng chéo. Đã tổ chức dạy
học phụ đạo, không thể tổ chức dạy học thêm đại trà. Bởi vì, danh sách học sinh yếu
kém phải tập hợp từ tất cả các lớp gộp lại. Mỗi khối thường tổ chức thành một lớp.
Một lớp có khoảng 20 em. Lịch học phụ đạo của trường chúng tôi là vào thứ 2 hàng
tuần, theo sự thỏa thuận giữa nhà trường và phụ huynh học sinh. Làm như vậy để cha
mẹ học sinh biết được ngày đó là con em mình đi học phụ đạo, để thuận tiện trong
việc theo dõi, quản lí.
Điều hành phân công nhân sự phải trên cơ sở công bằng lao động, thực hiện
đúng quy chế. Ở trường chúng tôi, giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém được cộng
viên tính điểm trung bình cộng của cả lớp học, lấy giá trị điểm số trung bình đó thể
hiện lên biểu đồ. Mỗi tháng ta sẽ có một điểm thể hiện. Nối các điểm đó qua các
tháng chúng ta sẽ được một biểu đồ đường biểu diễn sinh động. Biểu đồ này được
ghim lên bảng theo dõi chất lượng. Mỗi môn học của mỗi lớp trong cả năm học chỉ
cần một biểu đồ được bắt đầu vẽ từ tháng đầu tiên ( thường là tháng 9 đầu năm học
mới ), mỗi tháng tiếp theo, căn cứ vào kết quả học tập đạt được, chúng ta vẽ thêm một
đoạn, hết năm học chúng ta có một biểu đồ hoàn chỉnh, đánh giá diễn biến của một
lớp học theo một bộ môn nào đó.
IV: HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
1. Kết quả:
Trong thời gian gần hai năm học, chúng tôi đã áp dụng các giải pháp, các kinh
nghiệm nêu trên và đã thu được những kết quả khá. Chất lượng đại trà được nâng lên
rõ rệt. Nhiều học sinh yếu kém đã vươn lên đạt yêu cầu. Một số em đạt học lực loại
khá. Cụ thể kết quả xếp loại học lực trước và sau khi thể nghiệm đề tài như sau:
Giỏi
Tổng
Thời điểm
số SL %
Khá
TB
Yếu
Kém
Dưới.TB
SL
12,
6
5
0,89 76
13.
5
Trước khi
áp dụng,
năm học
2014-2015
568
65
11,
4
98
17,
3
269
47,4
là một thành tích đáng khích lệ của cả một sự phấn đấu rất lớn của tập thể cán bộ, giáo
viên dưới sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu để thực hiện những giải pháp của đề tài .
Đối với chất lượng đầu ra của trường, sau khi áp dụng đề tài đã góp phần tích
cực trong việc cải thiện thứ hạng chất lượng tốt nghiệp trung học phổ thông. Cụ thể,
xếp thứ 36 năm 2014, xếp hạnh 28 năm 2015, xếp hạnh 20 năm 2016, nhà trường
đứng ở Kết quả này đã bước đầu chứng tỏ các giải pháp nêu trên là có giá trị thiết
thực. Từ cơ sở những kết quả đạt được, chúng tôi sẽ tiếp tục áp dụng và phát huy, phát
triển để các giải pháp tiếp tục hoàn thiện và hiệu quả hơn nữa. Nhất định, chất lượng
đào tạo của đơn vị chúng tôi sẽ có những tiến bộ mới.
2. Bài học kinh nghiệm.
Bài học chúng tôi rút ra được qua nghiên cứu thể nghiệm đề tài là:
- Khi có những vấn đề mang tính cấp thiết thì cần tìm cách giải quyết thoả đáng ngay
để tránh những kết quả không tốt. Như vấn đề chúng tôi đề cập ở đây, nếu không tìm
biện pháp khắc phục ngay từ khi đang còn có thể để giúp đỡ cho học sinh thì hậu quả
sẽ rất lớn cho thế hệ tương lai với một hành trang vào đời không được trang bị tốt, sẽ
rất khó khăn trong thời đại phát triển như vũ bão của xã hội hiện nay.
- Đối với vấn đề giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém này, Ban Giám hiệu nhà trường phải
thực sự hết sức quan tâm. Phải chủ động đánh giá đúng thực trạng, tìm hiểu sâu
nguyên nhân để từ đó để ra kế hoạch cụ thể và khả thi, đề ra các giải pháp tương ứng
phù hợp, hiệu quả. Phải thực sự hiểu được đối tượng và tạo lòng tin cho đối tượng
cũng như ngay cả bản thân mình. Hiểu và tin, ấy là mấu chốt để hoàn thành nhiệm vụ.
- Phải phát huy tổng hợp các yếu tố, các nguồn lực trong và ngoài trường cùng tham
gia để giải quyết vấn đề.
V. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Vấn đề “Một số giải pháp quản lí nhằm giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém về học
lực tại trường THPT Đắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai ” đã được chúng tôi
đề xuất, nghiên cứu và đưa vào thể nghiệm thực tế. Trước đòi hỏi cấp bách của việc
Người thực hiện.
23
Hết
24
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT ĐÁC LUA
Mã số: ................................
(Do HĐTĐSK Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ
NHẰM GIẢM DẦN TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM
VỀ HỌC LỰC TẠI TRƯỜNG THPT ĐẮC LUA,
HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Người viết: LÊ MINH TUYẾN.
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục