1
ĐỀ TÀI :
“ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HỖ TRỢ TRẺ KHUYẾT TẬT HỌC
HÒA NHẬP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC”.
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật (TKT) đang là mối quan tâm của nhiều
Quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đây là vấn đề thể hiện tính nhân văn
cao cả trong quan hệ giữa con người với con người. Theo điều tra của tổ chức Y tế
thế giới (WHO) có khoảng 10% dân số thế giới là người khuyết tật. Ở Việt Nam theo
điều tra của Trung tâm nghiên cứu tật học- Viện Chiến lược và Chương trình giáo
dục, TKT chiếm 1,2 dân số trong cả nước. Việc chăm sóc giáo dục TKT đang là mối
quan tâm của Đảng, Nhà nước và đã trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Điều
này thể hiện rõ nước ta là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á đã
kí phê chuẩn công ước quyền trẻ em (20/2/1990) cam kết trước thế giới thực hiện
quyền trẻ em. Trong điều 23, Công ước đã ghi rõ: “ TKT về tinh thần hay vật chất
cần được hưởng một cuộc sống trọn vẹn và đầy đủ trong những điều kiện đảm bảo
phẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lập và tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực
vào cộng đồng”.
Phương châm giáo dục TKT hiện nay là cho trẻ sớm hòa nhập cộng đồng,
giúp các em có cuộc sống càng bình thường càng tốt; môi trường giúp các em phát
triển tốt nhất là môi trường giáo dục hòa nhập (GDHN) , một môi trường phù hợp
với hoàn cảnh và điều kiện ở Việt nam. Mặc dù GDHN đã được triển khai thực hiện
trên phạm vi cả nước song hiệu quả chưa cao. Một số trường, một số giáo viên còn
rất lúng túng về phương thức tổ chức và phương pháp dạy học hòa nhập. Bên cạnh
đó, còn không ít trình trạng lãnh đạo nhà trường và giáo viên trực tiếp dạy TKT
( nhất là trường ở vùng nông thôn) còn coi nhẹ, thiếu sự quan tâm giúp đỡ kịp thời
TKT. Có tư tưởng cho rằng: học sinh khuyết tật không thể học được, không cần đòi
hỏi chất lượng học tập, thậm chí không cần đưa các em vào danh sách lớp, không có
hồ sơ theo dõi giúp đỡ và đặc biệt quan trọng hơn, nhiều TKT còn ngoài nhà trường
Quan niệm ngày nay mang tính tích cực và khách quan hơn: Trước hết phải
thừa nhận trẻ khuyết tật là trẻ em, như mọi trẻ em khác - Mỗi đứa trẻ đều có khả
năng nhất định và những hạn chế nhất định trong hoạt động - Mỗi trẻ em có những
khó khăn trong quá trình phát triển. Những khó khăn đó có cái nằm bên trong đứa
trẻ, có cái nằm bên ngoài đứa trẻ (môi trường, cơ hội, hình thức, nội dung và phương
pháp giáo dục... chưa phù hợp).
Đến nay, đã có 3 hình thức giáo dục TKT: giáo dục chuyên biệt, giáo dục hội
nhập, giáo dục hòa nhập. Hình thức giáo dục hòa nhập ra đời muộn hơn, nhưng giải
quyết mâu thuẩn nội tại của các hình thức trước đó và dần thay thế các hình thức
giáo dục cũ bị lạc hậu.
GDHN cho trẻ khuyết tật là loại hình cơ bản mà Bộ GD & ĐT khẳng định
trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2000-2010 của nước ta. Muốn thực
hiện GDHN cần phải làm tốt công tác hỗ trợ TKT. Hỗ trợ TKT là một khởi đầu sớm
cho sự thành công của GDHN. Hỗ trợ TKT là một quá trình bao gồm việc điều tra
thực trạng, phát hiện, phân loại, tư vấn kiến thức, kĩ năng, xây dựng môi trường, xác
định mục tiêu bài dạy, cách đánh giá kết quả giáo dục TKT. Thực hiện tốt hỗ trợ
TKT sẽ tạo điều kiện thuận lợi để TKT học hòa nhập đạt kết quả tốt.
III/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trường tiểu học Thái Phiên xã Tam Đại huyện Phú Ninh nằm trên địa bàn
vùng nông thôn, hiện có 4 cơ sở; gồm 22 lớp với 477 học sinh.
Qua điều tra, thống kê thực trạng TKT trên địa bàn toàn trường hiện có 16 trẻ
khuyết tật, trong đó:
- 02 trẻ khó khăn về nhìn ( kiếm thị)
- 04 trẻ khó khăn về nghe ( kiếm thính )
- 07 trẻ khó khăn về học và hoặc vận động
3
- 03 trẻ khó khăn về nói ( tật ngôn ngữ)
sót đối tượng. Cán bộ làm công tác điều tra cần được tập huấn và có trách nhiệm thu
thập thông tin cần thiết có liên quan đến TKT ( thu thập từ đối tượng, từ PHHS
khuyết tật, từ những người xung quanh), đồng thời ghi đầy đủ các yêu cầu vào phiếu
điều tra theo mẫu ( xem phụ lục 1).
Trên cơ sở điều tra, thống kê trẻ khuyết tật, nhà trường phối hợp với Trung
tâm y tế địa phương tiến hành phân chia ra các nhóm khuyết tật chính:
- Trẻ khó khăn về nhìn ( kiếm thị)
- Trẻ khó khăn về nghe ( kiếm thính )
- Trẻ khó khăn về học và hoặc vận động
4
- Trẻ khó khăn về nói ( tật ngôn ngữ)
- Trẻ có những khó khăn khác ( gồm cả trẻ đa tật)
Sau khi phân chia các nhóm khuyết tật chính, nhà trường bố trí vào học hòa
nhập ở các lớp theo sự sắp xếp như sau: Các em cùng loại khuyết tật vào học một
lớp, mỗi lớp không quá 2 em, được bố trí ngồi gần học sinh khá, giỏi và bàn học
thuận lợi nhất .
3.Biện pháp 3 :Xây dựng môi trường phù hợp, tổ chức các hoạt động ở
lớp hòa nhập có TKT.
Xây dựng môi trường GDHN trong điều kiện hiện nay ở nhà trường là một
trong những yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo sự thành công của GDHN
cho TKT. Nếu không có tương tác môi trường, không thích nghi môi trường thì dẫn
đến kìm hãm sự phát triển. Tạo môi trường phù hợp đem lại thuận lợi tốt đối với trẻ,
kể cả trẻ khuyết tật và trẻ bình thường. Môi trường đó vừa là điều kiện, vừa là cơ hội
tốt nhất để trẻ khuyết tật cùng chơi, cùng tham gia hoạt động và được gần gũi bên
các bạn để phát triển các kĩ năng, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ và giao tiếp. Giáo
viên cần tổ chức tốt môi trường giáo dục cho TKT bao gồm: môi trường vật chất và
môi trường tinh thần.
mục tiêu đề ra.
- Thiết kế các hoạt động được diễn ra trong nhiều môi trường khác nhau nhằm
tăng số lượng kiến thức cũng như tăng mức độ thành thạo các kĩ năng cho TKT.
- Xây dựng kế hoạch chuyển tiếp về thời gian như: giữa hai học kì, các
tháng... hay chuyển tiếp về kiến thức,KN mang tính củng cố và lĩnh hội tri thức mới
thể hiện trong những hoạt động phong phú, hứng thú trẻ tham gia.
KHGD cá nhân TKT trước khi được thực hiện, cần phải được thông qua tổ
chuyên môn, BGH nhà trường và đặc biệt là cha mẹ TKT. Bằng cách này sẽ gắn kết
được các thành viên có trách nhiệm chung, góp phần làm cho KHCN dễ dàng thực
hiện và tính khả thi cao.
Quy trình xây dựng KHGD cá nhân:
- Tìm hiểu nhu cầu và năng lực của trẻ: Quá trình phát triển của trẻ, KN giao
tiếp của trẻ
- Xác định mục tiêu giáo dục trẻ: xác định bước phát triển tiếp theo của trẻ,
xác định kiến thức và KN cần hình thành cho trẻ.
- Xác định thời gian, nội dung và tổ chức các hoạt động: phân bổ thời gian cho
từng hoạt động, chia nhỏ nhiệm vụ học tập, xác định mức độ tham gia của trẻ trong
các hoạt động
- Đánh giá việc thực hiện kế hoạch: đánh giá thường xuyên và điều chỉnh kịp
thời, KN thực hiện những công việc kế hoạch đề ra.
6. Biện pháp 6: Đánh giá kết quả giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập
Trong giáo dục TKT việc đánh giá kết quả giáo dục là rất cần thiết bởi vì việc
đánh giá kết quả giáo dục TKT có một ý nghĩa rất lớn giúp cho trẻ phát triển. Qua
đánh giá thấy được mặt tích cực, mặt mạnh mà trẻ đạt được trong quá trình giáo dục,
đồng thời cũng phản ánh những hạn chế mà trẻ còn gặp phải. Đề xuất các biện pháp
giúp trẻ phát triển
Đánh giá kết quả giáo dục TKT theo kết quả nhiều mặt, không nên chỉ đánh
giá theo một khía cạnh, phương diện nào. Mỗi đứa trẻ đề có mặt mạnh, mặt yếu,
không ai hoàn thiện “ mười phân vẹn mười”. Với TKT điều này thể hiện rất rõ. Tuy
trẻ có những mặt yếu hơn nhưng trẻ cũng có những mặt mạnh so với trẻ khác cùng
GV cần có KN, thói quen và nhiêm túc thực hiện công tác nầy, mặc dù để đạt được
KH thực sự như mong muốn nó đòi hỏi một sự nỗ lực lớn, có tâm huyết cao của GV.
Vì vậy, bên cạnh ý thức trách nhiệm nghề nhiệp, GV cần được bồi dưỡng thường
xuyên để nâng cao năng lực sư phạm nói chung, năng lực GDHN trẻ KT nói riêng.
GV cần tuân thủ chặt chẽ quy trình lập kế hoạch GD cá nhân
V/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Qua áp dụng một số biện pháp hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường
tiểu học Thái Phiên huyện Phú Ninh kết quả đạt được như sau:
Đã điều tra và huy động 16/16 trẻ khuyết tật tham gia học lớp hòa nhập.
Duy trì đến cuối năm học đạt tỉ lệ 100%
Hầu hết các em được hội nhập dễ dàng, giao tiếp nhanh, phát triển tính độc
lập, tư duy tốt và đặc biệt quan trọng hơn các em đã xóa bỏ được mặc cảm, có nhiều
bạn bè và được bạn bè giúp đỡ.
Chất lượng học tập và hạnh kiểm có những chuyển biến tích cực ( xem phụ
lục 2)
- Về Chất lượng học tập:
+ Giỏi : 1 tỉ lệ : 6,5 %
+ Khá : 4 tỉ lệ : 25 %
+ TB : 9 tỉ lệ : 56 %
+ Yếu : 2 tỉ lệ : 12,5 %
- Về Hạnh kiểm:
+ Hoàn thành tốt
: 5 tỉ lệ : 31,5%
7
+ Hoàn thành
: 9 tỉ lệ : 56 %
+ Chưa hoàn thành
VII/ ĐỀ NGHỊ
- Cung cấp các thiết bị dạy học hòa nhập TKT.
- Nhà nước cần dành một nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác dạy và học hòa
nhập
- Ngành giáo dục cần chỉ đạo sâu sát, có tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm
việc tổ chức học hòa nhập trẻ KT
- Gia đình, cộng đồng và xã hội cần quan tâm để trẻ khuyết tật có đủ điều kiện
tham gia GDHN, sớm hòa nhập cùng cộng đồng.
8
Trên đây, là một số biện pháp nhằm hỗ trợ GDHN trẻ KT tại trường tiểu học
Thái Phiên. Qua một năm tổ chức thực hiện những thành quả cùng với bài học thực
tế đã giúp nhà trường vững tin hơn trong GDHN trẻ KT một cách có hiệu quả và
cũng là cơ sở vững chắc để nhà trường làm tốt công tác tham mưu, đề nghị với các
cấp trong việc tổ chức thực hiện GDHN trẻ KT . Đề tài này xin được là một đóng
góp nhỏ trong công tác GDHN trẻ KT ở vùng nông thôn, sẽ không tránh khỏi những
hạn chế, thiếu sót rất mong sự góp ý của các đồng nghiệp./.
Người thực hiện
Phan Đình Quyến
9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/Tài liệu bồi dưỡng giáo viên về GDHN trẻ KT- NXB Giáo dục
2/ Pháp lệnh về người tàn tật 30/7/1998
3/ Luật bảo vệ và Chăm sóc trẻ em 16/8/1991
----------********------------
trang 7
VII. Đề nghị
VIII.Tài liệu tham khảo
IX . Phụ lục
X. Mục lục
-----------*********------------
11
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN PHÚ NINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC THÁI PHIÊN
PHIẾU ĐIỀU TRA TRẺ KHUYẾT TẬT
TT
Họ và tên
Năm
sinh
Loại
khuyết
tật
Họ và
tên Cha
(mẹ)