SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: THPT ĐIỂU CẢI
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ LỚP 12 THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH
Người thực hiện: Lê Thị Huyền Trân
Lĩnh vực nghiên cứu:
Phương pháp day học Ngữ văn
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Đĩa CD (DVD)
Phim ảnh
Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Thị Huyền Trân
nước ta đang thực hiện đổi mới từ chương trình giáo dục nội dung sang tiếp cận
năng lực của người học, chuyển đổi từ phương pháp dạy “truyền thụ một chiều”
sang dạy cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực. Định
hướng chương trình sách giáo khoa mới khẳng định phải đổi mới phương pháp dạy
học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lưc.
Từ năm 2015 đến nay, ngành giáo dục nói chung và bộ môn Ngữ văn nói
riêng đã tiến hành kiểm tra, đánh giá giáo dục theo định hướng năng lực, đã tổ
chức các buổi tập huấn chuyên môn cho giáo viên về dạy học theo định hướng
năng lực, tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học. Tuy nhiên, các
buổi tập huấn chủ yếu thiên về lí thuyết, chú trọng vào soạn đề kiểm tra, đánh giá
theo hướng phát triển năng lực, chứ chưa có nhiều tiết dạy vận dụng các phương
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào những bài học cụ thể nhằm phát huy năng lực
cần thiết mà môn học hướng đến cho học sinh.
Trong thực tế giảng dạy tại trường THPT Điểu Cải, vẫn còn nhiều giáo viên
vẫn còn dạy theo phương pháp cũ, chưa chú trọng đổi mới phương pháp. Đối với
việc dạy tác phẩm thơ, giáo viên tuy đã tiến hành dạy đọc hiểu thơ nhưng chỉ xây
dựng các bài tập đọc hiểu văn bản thơ trong hoặc ngoài sách giáo khoa và cho học
sinh luyện tập trong các tiết tự chọn, chứ chưa chú trọng dạy kĩ năng đọc hiểu thơ
và tích hợp liên môn trong thực hành dạy các bài thơ trong giờ dạy chính khóa.
Do đó, để đáp ứng được yêu cầu đổi mới, để chuẩn bị tâm thế dạy học theo
chương trình sách giáo khoa mới và gần hơn là giúp học sinh có được năng lực đọc
hiểu và viết văn, thực hành tốt bài thi tốt nghiệp THPT, thiết nghĩ giáo viên ngữ
văn chúng ta cần tiến hành dạy học ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực
học sinh. Đây cũng chính là lí do tôi thực hiện chuyên đề: Dạy học tác phẩm thơ
lớp 12 theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
1.1/ Dạy Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Một số năng lực chung cốt lõi mà học sinh cần có để thích ứng với nhu cầu
phát triển xã hội như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng
- Dạy học đọc hiểu: Giáo viên hướng đến việc cung cấp cho học sinh cách
đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản,
từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động. Học
sinh khi đọc – hiểu cần tìm kiếm thông tin từ văn bản, giải thích, cắt nghĩa, phân
loại, so sánh, kết nối…thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản, đánh giá
văn bản và vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại
văn bản khác nhau.
- Dạy học tích hợp: Giáo viên tổ chức nội dung dạy học sao cho học sinh có
thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm
giải quyết các nhiệm vụ học tập. Trong môn học Ngữ văn, dạy học tích hợp là việc
tổ chức phối hợp ba nội dung của các phân môn văn học, tiếng Việt, làm văn trong
bài học nhằm hướng đến mục đích là hình thành cho HS năng lực sử dụng tiếng
Việt trong tiếp nhận và tạo lập văn bản, từ đó hướng tới năng lực phân tích, bình
giá cảm thụ văn học nghệ thuật. Mặt khác, tính tích hợp của môn Ngữ văn còn thể
hiện ở mối liên thông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống, giữa kiến thức,
kĩ năng của môn Ngữ văn với các môn học thuộc ngành khoa học xã hội nhân văn
nhằm giúp HS có được kiến thức và kĩ năng thực hành toàn diện, góp phần giáo
dục đạo đức công dân, kĩ năng sống, hiểu biết xã hội,…
4
Bên cạnh đó, giáo viên cần sử dụng phối hợp có hiệu các phương pháp dạy
học tích cực như thảo luận nhóm, đóng vai, nghiên cứu tình huống, dạy học theo
dự án… và các kĩ thuật dạy học tích cực như chia nhóm, đặt câu hỏi, khăn trải bàn,
phòng tranh, mảnh ghép, hỏi chuyên gia, bản đồ tư duy…
Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực, giáo viên cần thiết kế bài
học hướng đến các hoạt động học tập của học sinh, lấy hoạt động học của học sinh
làm trung tâm. Trong mỗi đơn vị kiến thức hay một chủ đề của bài học, giáo viên
cần tổ chức hoạt động học của học sinh theo các bước sau (theo mô hình VNEN):
hoạt động trải nghiệm, hoạt động hình thành kiến thức mới, hoạt động thực hành,
Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy
việc dạy học các tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm thơ nói riêng vẫn còn
truyền thụ một chiều chưa hướng tới phát huy năng lực của học sinh. Giáo viên
vẫn chủ yếu giảng bình, đọc chép nội dung thơ mà chưa dạy học sinh cách đọc
hiểu văn bản thơ theo đặc trưng thể loại, chưa phối kết hợp tốt ba phân môn văn
học, tiếng Việt và làm văn trong dạy văn bản thơ. Phần đông học sinh hiện nay
chưa có kĩ năng đọc hiểu và viết bài văn nghị luận về thơ.
Về sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy tác phẩm
thơ, tuy có vận dụng nhưng vẫn chưa vận dụng hiệu quả bởi nhiều lí do như: Học
sinh vốn lười học, ham chơi và thụ động khiến các em không tích cực học tập.
Giáo viên vẫn e ngại vận dụng phương pháp mới vì áp lực chương trình, vì thái độ
học tập của học sinh, vì phải mất nhiều thời gian nghiên cứu ứng dụng CNTT và
làm đồ dùng dạy học.
III.TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Tổ chức các hoạt động học theo định hướng phát triển năng lực trong
dạy một số tác phẩm thơ lớp 12
1.1 Hoạt động trải nghiệm
Mục đích của hoạt động trải nghiệm là tạo hứng thú, huy động kiến thức đã có
để tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới. Giáo viên có thể tổ chức cho hoc sinh xem
tranh, ảnh, nghe nhạc liên quan đến bài học hoặc tổ chức thi đọc thơ, tổ chức trò
chơi…
Ví dụ:
Đối với bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc, giáo viên sưu tầm các đoạn phim, hình
ảnh liên quan đến cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc, những bài hát như
Đoàn vệ quốc quân, Chiến thắng Điện Biên…, trình chiếu cho học sinh xem để dẫn
dắt học sinh vào không khí của cuộc kháng chiến, thấy được những gian khổ cũng
như những chiến công, tình thần chống giặc của chiến sĩ cùng tình đồng chí đồng
đội. Từ đó, khơi gợi niềm tự hào của học sinh về cuộc kháng chiến của dân tộc,
khả năng liên hệ sinh động, tự nhiên giữa văn bản tác phẩm với cuộc sống.
Ví dụ:
Hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn thơ đầu của bài thơ Tây Tiến, GV cho học
sinh thảo luận nhóm, sử dụng các kĩ thuật như mảnh ghép, thuyết trình, hỏi đáp với
những yêu cầu cụ thể sau:
- Nêu cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ? Cảm xúc đó được thể hiện qua những
từ ngữ nào? Nhận xét về nghệ thuật thể hiện cảm xúc?
- Xác định ý nghĩa của cụm từ “hoa về trong đêm hơi”? Nhận xét cách dùng
từ của tác giả.
- Xác định các biện pháp tu từ và hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng
trong các câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm …. Nhà ai Pha Luông mưa
xa khơi”, từ đó nêu bật bút pháp nghệ thuật miêu tả chủ yếu của nhà thơ. (lưu ý học
sinh về biện pháp điệp thanh)
- Tìm đọc những câu thơ miêu tả người lính Tây Tiến trong đoạn thơ và cho
biết tinh thần và thái độ của người lính Tây Tiến đối diện với gian khổ, cái chết
như thế nào?
- Cảm xúc nhớ nhung trào dâng của Quang Dũng được thể hiện qua câu thơ
nào? Nỗi nhớ hướng đến hình ảnh gì? Cảm nhận của em về cách sử dụng từ ngữ
tạo hình ảnh của tác giả?
Sau khi cho học sinh đọc hiểu ý nghĩa ngôn từ, ý nghĩa hình tượng trong đoạn
thơ đầu của bài Tây Tiến, giáo viên yêu cầu học sinh trình bày bằng hình thức
thuyết trình, thiết lập sơ đồ, hỏi đáp…, hoặc, viết một đoạn văn ngắn khoảng (710) dòng nêu cảm nhận về thiên nhiên núi rừng Tây bắc và vẻ đẹp của người lính
Tây Tiến trên con đường hành quân gian khổ.
7
Ở đoạn thơ thứ hai của bài Tây Tiến, GV có thể cho học sinh làm việc nhóm,
thảo luận, vẽ sơ đồ tư duy hoặc đóng chuyên gia nghiên cứu văn học giải đáp, làm
rõ ý nghĩa đoạn thơ qua các câu hỏi/nhiệm vụ sau:
- Phân tích ý nghĩa biểu đạt của từ “bừng”.
luận và trữ tình, một trong những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ, đồng thời rèn
luyện cho học sinh kĩ năng nhận diện phong cách ngôn ngữ tiếng Việt.)
Lưu ý: Thay vì cho học sinh soạn bài trước ở nhà theo câu hỏi hướng dẫn của
sách giáo khoa, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện những bài tập/ nhiệm
vụ này ở nhà trước khi lên lớp.
1.3/ Hoạt động thực hành
8
Mục đích của hoạt động thực hành là học sinh phải vận dụng những kiến thức
vừa mới học được để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, hình thành kĩ năng. Thông
qua đó, giáo viên xem học sinh đã nắm được kiến thức ở mức độ nào. Ở hoạt động
này, giáo viên xây dựng câu hỏi, bài tập hướng hình thành các kĩ năng đọc hiểu,
tiếng việt và làm văn. Đây là hoạt động gắn với thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ
như: trình bày, viết văn… Kết thúc hoạt động này học sinh sẽ trao đổi với giáo viên
để được bổ sung, uốn nắn những nội dung chưa đúng. Giáo viên có thể hướng dẫn
học sinh giải quyết các bài lập luyện tập trong sách giáo khoa, cũng có thể ra
những bài tập tương tự để phát triển năng lực vận dụng ở học sinh.
Ví dụ:
Sau khi tiến hành đọc hiểu xong bài thơ Việt Bắc, giáo viên có thể:
- Yêu cầu HS viết một đoạn văn ngắn hoặc một bài văn nêu cảm nhận về tình
nghĩa thủy chung giữa người dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng. Hay, chỉ rõ biểu
hiện của tính dân tộc trong đoạn thơ/bài thơ.
- Hoặc, chọn trong đoạn trích hai đoạn tiêu biểu:
+ Một đoạn về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc.
+ Một đoạn về khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến.
Phân tích một trong hai đoạn thơ đó.
Ví dụ về mộtvài bài tập thực hành cho bài thơ Đất Nước (Nguyễn Khoa
Điềm):
- Phân tích một đoạn thơ cụ thể trích từ bài thơ.
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
(Sóng – Xuân Quỳnh)
“Khăn thương nhớ ai,
Khăn rơi xuống đất.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn vắt lên vai.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn chùi nước mắt.
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt.
Mắt thương nhớ ai,
Mắt ngủ khóng yên.”
(Ca dao)
Từ bài thơ Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), hãy viết một đoạn văn, bài văn
trình bày suy nghĩ về trách nhiệm, bổn phận của cá nhân mình đối với đất nước.
1.5/ Hoạt động bổ sung
Mục đích là giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng. GV thiết kế
bài tập giúp học sinh có thể đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan. Hoạt
động này chủ yếu là thiết kế cho học sinh tự làm việc ở nhà. Để mở rộng kiến thức,
kỹ năng, học sinh có thể tìm đọc trên sách, báo, mạng; tham quan thực tế; trao đổi
với người thân,…
Chẳng hạn, sau khi học bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc, giáo viên có thể yêu cầu
học sinh viết bài nghiên cứu, giới thiệu về chân dung người lính trong kháng chiến
chống Pháp và Mĩ ở địa phương bằng hoạt động trải nghiệm là tổ chức theo nhóm,
tới thăm gia đình cựu chiến binh ở địa phương nơi học sinh sinh sống để trò
chuyện về những trận đánh mà họ từng trải qua, về cuộc sống người lính ở chiến
Vào bài: Chúng ta tạm chia tay với những vầng thơ giản dị, mang khuynh sử
thi và lãng mạn của thơ ca kháng chiến để đến với những vầng thơ thời hậu chiến
có những đổi mới về nội dung và nghệ thuật với phương châm nhìn thẳng vào sự
thật. Thời gian qua, chúng ta chưa từng được nghe những vầng thơ như:
“Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30(...)
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!” (Ai, Chế Lan Viên)
Hay những vầng thơ lạ lẫm:
“nhấp cần câu
câu giấc mơ ngày cũ
những giấc mơ
tớp dưới bóng lục bình
xanh buồn bã” (Không đề, Thanh Thảo)
11
Trong công cuộc đổi mới đầy cam go của nghệ thuật thơ ca, Thanh thảo là
những người đi đầu, là người có những suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống, về văn học
nghệ thuật. Chúng ta sẽ nhìn thấy điều đó qua bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca”?
Hoạt động của GV-HS
TIẾT 1
Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- GV phân chia lớp thành các
nhóm và yêu cầu các nhóm
tìm hiểu tác giả và tác phẩm
(cuộc đời, phong cách thơ,
hoàn cảnh sáng tác, thể loại,
cuộc
kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước.
- Ngòi bút hướng nội
giàu suy tư, trăn trở về
cuộc sống của nhân
dân, dất nước và thời
đại; luôn tìm tòi những
hình thức biểu đạt mới.
2) Tác phẩm:
a/ Xuất xứ, hoàn
cảnh sáng tác:
- Bài thơ in trong tập
thơ “Khối vuông rubich” (1985)
-Tác giả ngưởng mộ
tài năng của Lorca
(1898-1936), một nhà
thơ thiên tài của TBN,
người có khát vọng tự
do và khát vọng cách
tân nghệ thuật mãnh
liệt, đã bị chính quyền
phản động thân phát
xít bắt giam và giết
hại.
b/ Thể loại: thơ hiện
đại viết theo phong
cách tượng trưng, siêu
thực.
c/ Chủ đề: Bài thơ là
- GV yêu cầu học sinh tìm
hiểu ở nhà ý nghĩa của các từ
ngữ, hình ảnh, các biện pháp
nghệ thuật trong từng câu thơ;
sưu tầm những hình ảnh mà
bài thơ gợi ra.
Các hoạt động trên lớp:
- HS đọc văn bản và nêu cảm
nhận chung về bài thơ.
- HS giải thích ý nghĩa tên đề.
- GV hỏi: 6 câu thơ đầu mang
đến cho em những hình ảnh
nào?
HS trả lời; GV dán những tấm
hình đã sưu tầm liên quan đến
đoạn thơ lên bảng:
+ đàn ghi ta
1. Ý nghĩa tên đề
Hình ảnh hoán dụ cho:
- Con người và nghệ
thuật của Lorca
- Tình yêu của Lorca
dành cho đất nước.
2. Nội dung và nghệ
thuật của bài thơ
a/ Hình ảnh Lor-ca
trong bối cảnh chính
-GV hỏi: Kết nối những hình
ảnh này gợi cho em cảm nhận
gì về đất nước TBN và Lorca?
- HS trả lời cá nhân.
-GV chia HS hành các nhóm
nhỏ (4hs), tổ chức cho HS
hoạt động nhóm, với nhiệm vụ
cụ thể:
1. Cảm nhận về ý nghĩa biểu
tượng của âm thanh tiếng đàn
và hình ảnh bọt nước trong
câu “những tiếng đàn bọt
nước” và cho biết câu thơ đã
sử dụng biện pháp tu từ gì?
Hiệu quả?
2. Hình ảnh “áo choàng đỏ”
gợi cho em liên tưởng đến
điều gì về đất nước TBN và
Lorca? Phân tích hiệu quả của
tính từ “gắt” trong câu thơ
“Tây Ban Nha áo choàng đỏ
gắt”.
3. Nêu cảm nhận về nhịp điệu,
nhạc điệu của câu thơ “lilalila-lila”. Nhạc điệu đó gợi
cho em liên tưởng đến điều
gì?
4. Trong ba câu thơ cuối khổ
1, hãy nêu ý nghĩa ẩn dụ của
hình ảnh “vầng trăng, yên
ngựa” và xác định các từ láy
ghi ta da diết tiếng
thơ, tiếng nhạc của
Lorca.
- “đi lang thang về
miền đơn độc”: không
gian hoang vắng,Lorca
đơn độc.
-với vầng trăng chếnh
choáng”: vầng trăng
xô lệch, tâm thế thăng
hoa, ngả nghiêng say
với nghệ thuật.
-trên yên ngựa mỏi
mòn”: thời gian dằng
dặc, hành trình chiến
đấu không điểm dừng.
Năng lực hợp tác
Năng lực tự quản bản
thân
Năng lực sáng tạo
Năng lực giao tiếp
tiếng Viêt
Năng lực cảm thụ
thẩm mĩ
Lorca là một nghệ sĩ
dân gian, đơn độc.
Ông là một tâm hồn
lãng mạn, tài hoa hoa,
xây dựng chân dung người
chiến sĩ kiên cường”. Trình
bày suy nghĩ của em về ý kiến
trên. HS trình bày ý kiến trên
lớp và viết thành bài văn ở
nhà.
Năng lực tự học
* Luyện tập
Năng lực giải quyết
1.
vấn đề
- Sự sáng tạo trong học Năng lực tự quản bản
tập.
thân
- Tinh thần đấu tranh
Năng lực sáng tạo
chống cái xấu, cái ác
Năng lực sử dụng và
và những tư tưởng lỗi giao tiếp tiếng Viêt
thời lạc hậu.
Năng lực cảm thụ
2.
thẩm mĩ
MB: Giới thiệu tác giả,
tác phẩm, giới thiệu ý
kiến
TB:
- Phân tích đoạn thơ
làm rõ hai khía cạnh:
hình tượng Lora đối
với văn học và đời
sống.
PHIẾU HỌC TẬP
Bài : ĐÀN GHI TA CUA LORCA (TIẾT 1)
Hoạt động của học sinh
Nội dung học sinh ghi
(Học sinh chuẩn bị ở nhà, đến lớp trả lời
cá nhân hoặc thảo luận nhóm )
Giới thiệu vài nét về tác giả:
I. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
Cuộc đời:
1. Tác giả
…………………………………………
…………………………………………
Đặc điểm sáng tác:
…………………………………………
…………………………………………
………………………………………
…………………………………………
Tác phẩm chính:
Giới thiệu tác phẩm:
2. Bài thơ
Xuất xứ
a/ Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác
………………………………………… …………………………………………………
………………………………………… …………………………………………………
………………………………………
………………………………………………
…………………………………………………
…………………………………………………
…………………………………………………
…………………………………………………
c/ Chủ đề:
…………………………………………………
………………………………………………..
…………………………………………………
…………………………………………………
d/ Bố cục: 4 phần
II. Đọc hiểu văn bản
Ý nghĩa tên đề: Đàn ghi ta của Lorca
…………………………………………………
…………………………………………………
…………………………………………………
…………………………………………………
- Sáu câu thơ đầu mang đến cho em 2. Nội dung và nghệ thuật của bài thơ
những hình ảnh nào?
…………………………………………
………………………………………
………………………………………
- Kết nối những hình ảnh này gợi cho em
cảm nhận gì về đất nước TBN và Lorca?
………………………………………
………………………………………
………………………………………
- Cảm nhận về ý nghĩa biểu tượng của
âm thanh tiếng đàn và hình ảnh bọt nước
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
- Nêu cảm nhận về nhịp điệu, nhạc điệu
của câu thơ “lila-lila-lila”. Nhạc điệu đó
gợi cho em liên tưởng đến điều gì?
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
………………………………………
- Trong ba câu thơ cuối khổ 1, hãy nêu
ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh “vầng trăng,
yên ngựa” và xác định các từ láy và nêu
sắc thái ý nghĩa của chúng.
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
- Cả đoạn thơ gợi cho em cảm nhận thế
nào về chân dung Lorca? Viết một đoạn
văn khoảng 5 dòng trình bày cảm nhận
của mình.
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………………
-Lập dàn ý trình bày ý kiến về: Đoạn
thơ cho thấy Lora là nghệ sĩ vĩ đại hay
một chiến sĩ ngoan cường?
BÀI: SÓNG – XUÂN QUỲNH
I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:
- Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn và niềm khao khát hạnh phúc của người phụ
nữ đang yêu;
18
- Thấy được đặc sắc nghệ thuật trong cấu tứ, xây dựng hình ảnh, nhịp điệu,
ngôn từ.
II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG:
1. Kiến thức:
- Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng “sóng”.
- Đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết, sôi
nổi, nồng nàn, nhiều suy tư, trăn trở.
2. Kĩ năng:
- Đọc - hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.
- Rèn kĩ năng cảm thụ thơ.
3. Năng lực hình thành:
+ Năng lực tự học
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực giao tiếp tiếng Viêt
+ Năng lực hợp tác
thường.
đề “Nếu ngày mai”
- GV yêu cầu HS đọc một số
Năng lực tự học
câu thơ của XQ và GV đọc
Năng lực giải
thêm một số câu thơ tiêu biểu
quyết vấn đề
của XQ, từ đó khái quát phong
19
cách thơ Xuân Quỳnh.
2) Văn bản:
- GV cho HS nghe bài hát
- Sáng tác năm 1967, trong
“Sóng” của Xuân Quỳnh do
chuyến đi công tác tại vùng
Diễm Phương phổ nhạc.
biển Diêm Điềm, được in
- GV Yêu cầu HS giới thiệu về trong tập thơ Hoa dọc chiến
hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ hào ( 1968 )
của bài thơ.
- Tiêu biểu cho hồn thơ của
- GV yêu cầu HS chia bố cục
Xuân Quỳnh.
của bài thơ.
- Bố cục: chia làm 3 phần
- HS trả lời cá nhân.
nhịp của sóng.
đề:
+ Thanh điệu: T- B/ B- T: âm
Tổ 1, 2 thảo luận vấn đề 1:
hưởng lên xuống thất thường
của sóng.
+ Bốn tính từ: dữ dội, dịu êm,
ồn ào, lặng lẽ: phức tạp, đa
dạng, thất thường của sóng.
+ Liên từ “và”: sự bao hàm
Năng lực giao
tiếp tiếng Viêt
Năng lực giải
quyết vấn đề
Năng lực giao
tiếp tiếng Viêt
Năng lực tự học
Năng lực giải
quyết vấn đề
Năng lực giao
tiếp tiếng Viêt
Năng lực tự học
Năng lực giải
quyết vấn đề
Năng lực tự quản
bản thân
Năng lực sáng tạo
GV định hướng nội dung.
b. Khổ 2
+ Quy luật của sóng:Sóng:
ngày xưa, ngày sau: vẫn thế
sự trường tồn của sóng
trước thời gian: vẫn dạt dào,
sôi nổi.
+ Quy luật của tình cảm:
“Khát vọng tình yêu - bồi hồi
* Gv hướng dẫn HS tìm hiểu trong ngực trẻ”
Tình yêu là khát vọng lớn
khổ 2:
lao, vĩnh hằng của tuổi trẻ và
GV: Hãy chỉ ra quy luật của
sóng và quy luật của tình yêu? nhân loại.
*Xuân Quỳnh đã liên hệ tình
- HS trả lời.
yêu tuổi trẻ với con sóng đại
- GV định hướng nội dung
dương. Cũng như sóng, tình
yêu luôn phức tạp, thất
thường, khát khao tri âm, khát
khao cái rộng lớn bao dung;
con người đã đến và mãi mãi
đến với tình yêu. Đó là quy
Năng lực giao
tiếp tiếng Viêt
Năng lực giải
quyết vấn đề
GV cho HS trình bày sơ đồ tư
duy mà HS về nhà làm trong
tiết 1. HS trình bày sản phẩm
ở nhà.
GV hướng dẫn HS phân tích
các khổ thơ còn lại để đối
chiếu với sơ đồ mà HS trình
bày.
* Khổ 3, 4
GV: Điệp từ “em nghĩ” nói lên
được điều gì trong nhận thức
tình yêu của em?
GV: Xuân Quỳnh đã đưa ra
những câu hỏi nào? Mục đích
của các câu hỏi đó là gì?
HS trả lời
GV định hướng
Năng lực tự học
Năng lực giải
quyết vấn đề
Năng lực sáng tạo
2. Sóng- suy tư về những
biểu hiện của tình yêu
a. Khổ 3-4: Đi tìm khởi
nguồn của tình yêu
Điệp từ: “em nghĩ” (anh, em;
biển lớn= tình yêu) nhà thơ
tự nhìn lại để nhận thức và
ngày đêm, trong mơ còn thức.
So sánh với cách thể hiện khác
trong văn học về nỗi nhớ.
HS thảo luận và trình bày
GV định hướng
+ Thao thức trong mọi thời
gian : “ngày đêm không ngủ
được”
+ Em nhớ anh - cả trong mơ
còn thức.
* Ngữ âm: Phép đối, điệp từ
con sóng với vị trí thay đổi từ
ngoài vào trong gợi âm
hưởng những con sóng dồn
dập, xu thế vào bờ, giọng thơ
dào dạt, náo nức, mãnh liệt.
Sóng nhớ bờ mãnh liệt, tha
thiết, còn em nhớ anh đắm
say hơn bội phần. Cách nói
cường điệu nhưng hợp lí :
nhằm tô đậm nỗi nhớ (choáng
ngợp cõi lòng không chỉ
trong ý thức mà thấm sâu vào
trong tiềm thức).
Năng lực giao
tiếp tiếng Viêt
Năng lực tự học
Năng lực giải
Năng lực giao
em : vẫn Hướng về anh một
tiếp tiếng Viêt
phương
Năng lực giải
→ Lời thề thủy chung tuyệt
quyết vấn đề
đối trong tình yêu : dù đi đâu
về đâu vẫn hướng về người
mình đang thương nhớ đợi
chờ.
+ Các điệp ngữ: dẫu xuôi về,
dẫu ngược về + điệp từ
phương + các từ em cũng
nghĩ, hướng về anh
Khẳng định niềm tin đợi
chờ trong tình yêu. Với em,
chỉ có 1 phương duy nhất là
23
phương trời có anh.
d. Khổ 7: Niềm tin
- Quy luật tất yếu của sóng:
Trăm ngàn con sóng ở ngoài
đại dương, con nào cũng tới
bờ.
- Quy luật tình yêu: Lòng
thủy chung trong tình yêu là
* Khổ 7
+ Làm sao được tan ra thành
* Khổ 9
trăm con sóng: sự hy sinh
GV liên hệ với bài thơ Tự hát dâng hiến cho tình yêu.
“Em trở về đúng nghĩa trái
+ Giữa biển lớn tình yêu…
tim em (...)
ngàn năm còn vỗ: Khát vọng
Vẫn ngừng đập khi cuộc đời
sống mãi trong tình yêu, để
không còn nữa;
tình yêu bất tử.
Nhưng biết yêu anh cả khi
III. Kết luận
chết đi rồi.”
1.Nghệ thuật:
Để tình yêu bất tử, Xuân
- Thể thơ 5 chữ truyền thống,
Quỳnh đã lựa chọn cho mình
cách ngắt nhịp , gieo vần độc
cách sống nào? Lí giải.
đáo, gợi liên tưởng (nhịp thơ
HS trình bày cá nhân
phù hợp vói nhịp sóng).
GV định hướng
- Xây dựng hình ảnh ẩn dụ,
Hướng dẫn HS tổng kết
giọng thơ tha thiết.
Năng lực giao
Củng cố: GV củng cố bằng sơ đồ tư duy
Trăn trở về khởi
nguồn Ty
Nỗi nhớ da diết
Thủy chung
Niểm tin
Vĩnh hằng
Triết lí cuộc đời
Hy sinh
IV. HIỆU QUẢ
Trong năm học vừa qua, sau khi thực hiện dạy học ngữ văn nói chung và tác
phẩm thơ nói riêng theo định hướng phát triển năng lực học sinh, bản thân tôi nhận
thấy kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh nâng lên rõ rệt. Cụ thể, năm học
2015-2016, kết quả thi THPT Quốc gia môn ngữ văn ở các lớp tôi dạy, tỉ lệ hs đạt
điểm trung bình trở lên là 81,65 %. Tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình trở lên của
bộ môn ngữ văn của trường THPT Điểu Cải: 57.9%. Học sinh đã bước đầu có
những năng lực cần thiết để có thể đọc hiểu được những văn bản thơ ngoài chương
trình giáo khoa. Trong năm học này, ở các kì kiểm tra tập trung, các lớp tôi dạy đều
có tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình trở lên đứng đầu khối lớp 12.
Bảng thống kê điểm kiểm tra với đề bài:
I. Phần Đọc - hiểu (4 điểm):
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
“Hữu Thỉnh cũng như Nguyễn Khoa Điềm đưa thơ từ hướng ngoại trong
những năm chiến tranh trở về hướng nội, khi cuộc chiến tranh kết thúc và cuộc
sống mới đặt ra bao vấn đề ngổn ngang, phức tạp. Giờ đây thơ không thể khích lệ,
động viên cho một trách nhiệm bức xúc với thời cuộc, mà là lời tâm sự, giãi bày