Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy phần lịch sử thế giới cận đại (lớp 10 chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh ở trường phổ thông - Pdf 51

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======

TRỊNH THỊ THƯƠNG

VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI
(LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======

TRỊNH THỊ THƯƠNG

VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI
(LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình. Những
số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa được
công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên

Trịnh Thị Thương


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

STT

CÁCH VIẾT TẮT

NGHĨA

1

BHLS

Bài học lịch sử

2

DHLS

Dạy học lịch sử


8

THPT

Trung học phổ thông

9

KTDH

Kĩ thuật dạy học

10

LS

Lịch sử

11

NLHT

Năng lực hợp tác


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3

1.1.7. Vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng KTDH tích cực nhằm phát triển
năng lực hợp tác cho HS ở trường THPT.
1.1.7.1. Vai trò
1.1.7.2. Ý nghĩa
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................................ 43
1.2.1. Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT. .................................... 43
1.2.2. Thực trạng vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học lịch sử
ở trường THPT. ............................................................................................... 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................. 56
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (SGK LỊCH SỬ 10,
CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN). ......................................................................... 57
2.1. Vị trí, mục tiêu nội dung phần lịch sử thế giới cận đại ............................ 57
2.1.1. Vị trí ...................................................................................................... 57
2.1.2. Mục tiêu................................................................................................. 58
2.1.3. Nội dung cơ bản .................................................................................... 60
2.2. Nguyên tắc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực
hợp tác cho học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại (sgk lịch sử
10, chương trình chuẩn) .................................................................................. 64
2.2.1. Đảm bảo được mục tiêu môn học ......................................................... 64


2.2.2. Đảm bảo tính vừa sức............................................................................ 64
2.2.3. Đảm bảo tính thực tiễn .......................................................................... 65
2.2.4. Hình thức, biện pháp sử dụng phải giúp học sinh lĩnh hội được kiến
thức cơ bản. ..................................................................................................... 65
2.2.5. Hình thức, biện pháp sử dụng phải linh hoạt, sáng tạo ......................... 66
2.3. Các KTDH tích cực có thể áp dụng trong phần Lịch sử thế giới cận đại
nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh ............................................... 66

đặc trưng có ưu thế và sở trường trong giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử dân tộc,
truyền thống dân tộc, hình thành thế giới quan khoa học… Song do đặc thù
của bộ môn lịch sử, do một số GV còn chưa thực sử hiểu sâu về phương pháp
dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào SGK, chưa làm chủ được kiến thức dẫn
đến giờ học khô khan nhàm chán và nặng nề. Tình trạng này đã làm mất đi
tính hấp dẫn của môn lịch sử. Hơn nữa do tư tưởng coi lịch sử là môn phụ
cùng những quan niệm sai lầm cho rằng học lịch sử chỉ cần trí nhớ không phải
tư duy động não, không có bài tập thực hành nên nhiều học sinh đã quay lưng
lại với môn lịch sử.
Trước tình hình mới, đặt ra yêu cầu cho giáo dục nước nhà những
thách thức nhất định, đặc biệt trong đó là phải bắt kịp với xu thế phát triển
chung của nhân loại và giáo dục thế giới, trong đó yêu cầu đổi mới vận dụng
một số phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại trở nên bức thiết hơn bao
giờ hết. Đổi mới giáo dục cần đổi mới một cách đồng bộ từ chương trình đến
nội dung dạy học, phương pháp và kĩ thuật dạy học.
Phương pháp dạy học nói chung và cụ thể là việc vận dụng các kĩ thuật

1


dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực cho HS là rất cần thiết
đối với mọi GV và người làm công tác giáo dục lịch sử nói riêng. Nghiên cứu
các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với nội dung, đặc trưng bộ
môn, tâm lý của học sinh và mục tiêu của nhà trường phổ thông. Do vậy để
giúp cho nhận thức lịch sử của học sinh trở nên đúng đắn chúng ta cần phải có
những phương pháp cụ thể được xây dựng trên cơ sở khoa học.
Trong khung năng lực cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông,
năng lực hợp tác được coi là một trong những năng lực quan trọng. Bởi hợp
tác không chỉ là nhu cầu tăng thêm sức lực hoặc trí tuệ để hoàn thành mục
tiêu chung, mà quan trọng hơn mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đang ngày càng

nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lý. Phương châm sống của
ông là “…sự tự nhận thức, nhận thức chính mình…”[19; tr.29]
Khổng Tử (551 - 479), nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc thời cổ đại
đã chú ý kích thích suy nghĩ của học sinh. Ông đòi hỏi học trò phải biết rèn
luyện, say mê, ham hiểu biết, tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tiếp nhận kiến
thức một cách chủ động, sáng tạo. Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì
không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật
có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy
nữa” [17; tr.15].
Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin
đã nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân
chủ. “Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách cư xử trong nhóm và xây
dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác. Sau đó, Morton Deutsch đã phát
triển lí luận hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở những lí luận nền tảng của
Lewin”[39; tr.57]. Năm 1940, Morton Deutsch đưa ra lý thuyết về các tình
huống hợp tác và cạnh tranh”.
“Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian cho rằng người
học sẽ có lời nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu”

3


[40; tr.68]. Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel và Joseph
Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, họ chia HS thành
từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau
trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả
học tập tốt.
B.P. Exipop trong cuốn “Những cơ sở lý luận dạy học” (1971), tập 3
NXB Giáo dục, “nhấn mạnh đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo, độc
lập, ham hiểu biết của HS trong quá trình học tập, đồng thời nêu rõ nhiệm vụ

Đó là, đánh giá dựa trên quan điểm lịch sử kết hợp với quan điểm giai cấp,
tránh hiện đại hóa, bóp méo lịch sử.
Trong cuốn “Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học” của dự án Việt – Bỉ NXB Đại học sư phạm Hà Nội. Giới thiệu một số
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực hiện đang được thực hiện tại nhiều
nước trên thế giới và các nước trong khu vực, nhằm giúp cho giáo viên, cán
bộ quản lý giáo dục Việt Nam tiếp cận với một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực của học sinh như: Phương pháp học góc, học theo hợp đồng,
học theo dự án và các kĩ thuật khăn phủ bàn, mảnh ghép và bể cá.
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (2010), NXB ĐHSP Hà
Nội, (Phan Ngọc Liên chủ biên) đề cập vấn đề “Việc phát triển năng lực nhận
thức và hành động cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm
cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn luyện tập cho các em trở thành
người có tư duy độc lập, chủ động tích cực trong suy nghĩ và hành động”[15;
tr.59].
Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo
dục (2010), tác giả Thái Duy Tuyên tiếp tục đề cập đến phương pháp dạy học

5


hiện đại, trình bày những cơ sở lí luận và hệ thống các phương pháp dạy học
hiện đại. Thái Duy Tuyên quan niệm rằng những phương pháp dạy học như:
dạy học nêu vấn đề, dạy học theo lí thuyết kiến tạo, dạy học theo quan điểm
sư phạm học tương tác, các phương pháp tích cực trong dạy học, là các hệ
thống PPDH hiện đại bởi vì các hệ thống PPDH này còn tương đối mới ở Việt
Nam và chúng cũng là xu thế chung của thế giới hiện nay.
Tác giả cũng dành một phần “Những vấn đề cấp thiết” trình bày về nội
dung đổi mới phương pháp dạy học - tái hiện và sáng tạo trong dạy học, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh,... và nhấn mạnh “Điều quan trọng

dụng qua dạy học lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến thế kỉ XVI lớp 10, chương
trình chuẩn)” là công trình đầu tiên, nghiên cứu tập trung, chuyên biệt và hệ
thống về tổ chức hoạt động nhóm cho HS trong dạy học phần lịch sử cụ thể ở
trường THPT. “Đồng thời luận án đã thiết kế một số dạng tổ chức hoạt động
nhóm và đề xuất biên pháp tổ chức hoạt động nhóm đa dạng, linh hoạt theo
một quy trình khoa học trong dạy học phần Lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến
giữa thế kỉ XVI”. [37; tr.68]
Liên quan đến sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong DHLS ở trường
phổ thông, tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng đã công bố một số bài viết và tài liệu
trong chuyên đề tập huấn, bối dưỡng GV như: tài liệu bồi dưỡng chuyên đề
“Về định hướng ứng dụng công nghệ thông tin và vận dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực theo hướng phát triển năng lực người học” (2014).
Trong các tài liệu này, tác giả đã trình bày một số kĩ thuật dạy học hiện đại,
trong đó có kĩ thuật khăn trải bàn, mảnh ghép, bể cá…Tài liệu này đã chỉ ra
khái niệm, ưu-nhược điểm và cách tiến hành của mỗi kĩ thuật. Đây là cơ sở
quan trọng về mặt lý thuyết của các kỹ thuật để tôi thực hiện đề tài.
Cuốn “Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường
phổ thông” (2015), của Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier đã đề cập tới một

7


số phương pháp dạy học tích cực cũng như các năng lực cho học sinh như:
dạy học nhóm, dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề, đóng vai.
Một số bài viết trên tạp chí như: “Dạy học hợp tác và vấn đề xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” của tác giả Nguyễn Thành Kỉnh
(Tạp chí Giáo dục số tháng 7/2009); “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”
của tác giả Đỗ Hương Trà (Tạp chí Giáo dục số tháng 7/2009); “Một số vấn
đề về dạy học theo góc và bước đầu triển khai áp dụng ở Việt Nam” của tác
giả Cao Thị Thặng (Tạp chí Giáo dục số tháng 4/2010)…đưa ra quan niệm về

Vận dụng một số KTDH tích cực như: khăn trải bàn, mảnh ghép, bể cá
theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS ở trường THPT.
Đề xuất một số KTDH tích cực có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch
sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực hợp
tác cho HS ở trường PT.
Đề xuất một số biện pháp sử dụng các KTDH tích cực trong phần Lịch
sử thế giới cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn) góp phần hình thành năng lực
hợp tác cho HS.
4.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích kể trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau:
Tìm hiểu lý luận về các kĩ thuật dạy học tích cực và năng lực hợp tác
trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
Điều tra thực trạng về việc sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy
học bộ môn Lịch sử ở trường THPT.
Nguyên tắc vận dụng các KTDH tích cực nhằm phát triển năng lực hợp
tác cho HS trong dạy học phần Lịch sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình
chuẩn).

9


Đề xuất các kĩ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng vào phần Lịch sử
thế giới cận đại từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII (SGK Lịch sử lớp
10, chương trình chuẩn).
Đề xuất một số biện pháp vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong
dạy học phần Lịch sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn).
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những
đề xuất đưa ra.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề xuất biện pháp sử dụng các KTDH tích cực như: khăn trải bàn, mảnh
ghép, bể cá trong phần Lịch sử thế giới cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn)
theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú lí luận dạy học
bộ môn về vấn đề vận dụng các KTDH tích cực ở trường THPT.
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp bản thân nắm vững hơn kiến thức
lịch sử, kiến thức lí luận dạy học bộ môn, đặc biệt là việc vận dụng các
KTDH tích cực trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
9. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận
bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng kĩ thuật dạy học
tích cực nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trường THPT.
Chương 2: Biện pháp vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát
triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại
( lịch sử 10, chương trình chuẩn).

11


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG KĨ THUẬT
DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực
1.1.1.1 Phương pháp dạy học

sự phận biệt giữa phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học đôi khi không thật
rõ ràng bởi vì cũng có những kĩ thuật được coi là phương pháp dạy học.
Chính vì thế các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau về kĩ
thuật dạy học.
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, Hoàng Phê định nghĩa: “Kĩ thuật là
tổng thể nói chung những phương tiện, phương thức và tư liệu hoạt động của
con người, được tạo ra để thực hiện quá trình sản xuất và phục vụ các nhu
cầu phi sản xuất của xã hội” [21; tr.801].
Trong cuốn “Dạy học hiện đại lí luận, biện pháp, kĩ thuật” của tác giả
Đặng Thành Hưng cho rằng kĩ thuật dạy học (áp dụng khi tiến hành các giờ
học hoặc hoạt động giáo dục khác nên còn gọi là kĩ thuật dạy học vi mô) “là
những thủ thuật và kĩ năng dạy học chung cho nhiều biện pháp, phương pháp
dạy học cụ thể được thiết kế và tiến hành trong quá trình dạy học trên lớp,
ngoài lớp, trong học trình các môn học và ngoài môn học” [13; tr.229].
Trong tài liệu “Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở
trường THPT” của tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier định nghĩa
rằng: “kĩ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của GV và
HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá
trình dạy học” [6; tr.54].

13


Trong cuốn “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học” của Dự án Việt – Bỉ cho rằng “kĩ thuật dạy học là những biện pháp,
cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống/hoạt động nhằm
thực hiện giải quyết một nhiệm vụ/nội dung cụ thể” [28; tr.45].
Trong lí luận dạy học việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động của HS cũng là biện pháp quan trọng trong
quá trình dạy học. Vậy ta có thể hiểu KTDH tích cực là “những động tác,

học. Xác định mục tiêu môn học rõ ràng sẽ là định hướng đúng đắn trong dạy
học ở trường phổ thông.
Mục tiêu về kiến thức: cung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về
lịch sử phát triển của dân tộc và xã hội loài người trên cơ sở củng cố phát
triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở trung học cơ sở.
Mục tiêu về kỹ năng: rèn luyện kỹ năng tư duy, kỹ năng thực hành và
định hướng phát triển các kỹ năng sống cho HS.
Mục tiêu về thái độ: giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị
với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa
bình, dân chủ; niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và
dân tộc dù trong tiến trình lịch sử có những lúc quanh co, khúc khuỷu. Đồng
thời giáo dục cho HS có ý thức làm nghĩa vụ công dân, hình thành những
phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng.
Với mục tiêu của môn Lịch sử GV cần phải trang bị cho mình những tri
thức khoa học về quá trình dạy học lịch sử và những kỹ năng thao tác về
nghiệp vụ sư phạm nhằm đảm bảo cung cấp kiến thức, phát triển kỹ năng và
giáo dục thái độ cho học sinh qua môn học. Cụ thể là việc nghiên cứu và vận
dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo hướng phát triển
năng lực cho HS nhằm giúp HS phát triển toàn diện.

15


1.1.3. Đặc trưng của kiến thức Lịch sử
Đặc trưng của kiến thức môn Lịch sử bao gồm: tính quá khứ, tính không
lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thống nhất giữa “sử” và “luận”.
Thứ nhất là tính quá khứ: “Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật
của xã hội loài người từ lúc con người và xã hội hình thành đến nay. Tất cả
những sự kiện và hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những

càng cụ thể, sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu. Nếu tách sự kiện
ra khỏi không gian, thời gian và nhân vật thì không thể hiểu được lịch sử, các
sự kiện lịch sử sẽ chỉ là tập hợp tư liệu ngổn ngang không có ý nghĩa. Việc sử
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như khăn trải bàn hay bể cá sẽ giúp cho
không khí bài học sôi nổi, giúp các em tích cực hơn có thể đưa ra quan điểm ý
kiến của mình để các sự kiện lịch sử trở nên rõ ràng cụ thể hơn.
Thứ tư là tính hệ thống: Lịch sử diễn ra trong một không gian, thời gian
rộng lớn ở nhiều thời đại khác nhau, ở nhiều nước khác nhau. Nội dung kiến
thức trong môn Lịch sử rất phong phú, “đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội loài người, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - nghệ
thuật, khoa học - kĩ thuật...” [15; tr.178]. Các nội dung đó được sắp xếp trong
một hệ thống. Việc cung cấp kiến thức mới cũng như ôn tập kiến thức đã học
cần làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa các sự kiện đồng đại (xảy ra cùng thời),
lịch đại (xảy ra trước và sau), làm rõ tính logic, tất yếu của Lịch sử.
Kiến thức lịch sử còn mang tính hệ thống (logic lịch sử). Không có sự
kiện nào là tồn tại đơn lẻ, riêng rẽ mà nó có mối liên hệ với những sự kiện
trước nó, sau đó và đồng thời với nó. Do đó, giúp HS thấy được một cái nhìn
toàn diện, hệ thống về các sự kiện, hiện tượng lịch sử với tất cả những đặc
trưng kinh tế, chính trị văn hóa – xã hội của từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử.
Thứ năm là tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: Trong quá trình học
tập, HS cần lĩnh hội hai phần cơ bản của kiến thức Lịch sử: phần “sử” và phần
“luận”. “Phần “sử” là các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong xã hội loài

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status