Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy phần lịch sử thế giới cận đại (lớp 10 chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh ở trường phổ thông - Pdf 53

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
===
===

TRỊNH THỊ THƯƠNG

VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI
(LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO
HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
===
===

TRỊNH THỊ THƯƠNG

VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI
(LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) NHẰM

Trịnh Thị Thương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình. Những
số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa được
công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên

Trịnh Thị Thương


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

STT

CÁCH VIẾT TẮT

NGHĨA

1

BHLS

Bài học lịch sử

2

DHLS


Sách giáo khoa

8

THPT

Trung học phổ thông

9

KTDH

Kĩ thuật dạy học

10

LS

Lịch sử

11

NLHT

Năng lực hợp tác


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1

1.1.6.1. Khái niệm năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử ...........................
31
1.1.6.2. Nội dung của năng lực hợp tác cần phát triển cho HS trong DHLS ở
trường THPT. .................................................................................................. 33
1.1.7. Vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng KTDH tích cực nhằm phát triển
năng lực hợp tác cho HS ở trường THPT.
1.1.7.1. Vai trò
1.1.7.2. Ý nghĩa
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................................ 43
1.2.1. Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT. .................................... 43
1.2.2. Thực trạng vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học lịch sử
ở trường THPT. ............................................................................................... 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................. 56
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (SGK LỊCH SỬ 10,
CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN).......................................................................... 57
2.1. Vị trí, mục tiêu nội dung phần lịch sử thế giới cận đại............................ 57
2.1.1. Vị trí ...................................................................................................... 57
2.1.2. Mục tiêu................................................................................................. 58
2.1.3. Nội dung cơ bản .................................................................................... 60
2.2. Nguyên tắc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực
hợp tác cho học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại (sgk lịch sử
10, chương trình chuẩn) .................................................................................. 64
2.2.1. Đảm bảo được mục tiêu môn học ......................................................... 64


2.2.2. Đảm bảo tính vừa sức............................................................................ 64
2.2.3. Đảm bảo tính thực tiễn .......................................................................... 65
2.2.4. Hình thức, biện pháp sử dụng phải giúp học sinh lĩnh hội được kiến

Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia
bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong
đếm được.
Ở cấp THPT, mỗi môn học đều góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm
vụ giáo dục mà Đảng đề ra. Bộ môn Lịch sử ở trường THPT là môn học với
đặc trưng có ưu thế và sở trường trong giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử dân tộc,
truyền thống dân tộc, hình thành thế giới quan khoa học… Song do đặc thù
của bộ môn lịch sử, do một số GV còn chưa thực sử hiểu sâu về phương pháp
dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào SGK, chưa làm chủ được kiến thức dẫn
đến giờ học khô khan nhàm chán và nặng nề. Tình trạng này đã làm mất đi
tính hấp dẫn của môn lịch sử. Hơn nữa do tư tưởng coi lịch sử là môn phụ
cùng những quan niệm sai lầm cho rằng học lịch sử chỉ cần trí nhớ không phải
tư duy động não, không có bài tập thực hành nên nhiều học sinh đã quay lưng
lại với môn lịch sử.
Trước tình hình mới, đặt ra yêu cầu cho giáo dục nước nhà những
thách thức nhất định, đặc biệt trong đó là phải bắt kịp với xu thế phát triển
chung của nhân loại và giáo dục thế giới, trong đó yêu cầu đổi mới vận dụng
một số phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại trở nên bức thiết hơn bao
giờ hết. Đổi mới giáo dục cần đổi mới một cách đồng bộ từ chương trình đến
nội dung dạy học, phương pháp và kĩ thuật dạy học.
Phương pháp dạy học nói chung và cụ thể là việc vận dụng các kĩ thuật

1


dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực cho HS là rất cần thiết
đối với mọi GV và người làm công tác giáo dục lịch sử nói riêng. Nghiên cứu
các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với nội dung, đặc trưng bộ
môn, tâm lý của học sinh và mục tiêu của nhà trường phổ thông. Do vậy để
giúp cho nhận thức lịch sử của học sinh trở nên đúng đắn chúng ta cần phải có

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực có nguồn gốc sâu xa từ
dạy học tích cực. Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hi Lạp Sôcrat (470 – 399
TCN), đã từng dạy học trò của mình bằng cách luôn đặt ra các câu hỏi gợi mở
nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lý. Phương châm sống của
ông là “…sự tự nhận thức, nhận thức chính mình…”[19; tr.29]
Khổng Tử (551 - 479), nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc thời cổ đại
đã chú ý kích thích suy nghĩ của học sinh. Ông đòi hỏi học trò phải biết rèn
luyện, say mê, ham hiểu biết, tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tiếp nhận kiến
thức một cách chủ động, sáng tạo. Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì
không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật
có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy
nữa” [17; tr.15].
Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin
đã nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân
chủ. “Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách cư xử trong nhóm và xây
dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác. Sau đó, Morton Deutsch đã phát
triển lí luận hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở những lí luận nền tảng của
Lewin”[39; tr.57]. Năm 1940, Morton Deutsch đưa ra lý thuyết về các tình
huống hợp tác và cạnh tranh”.
“Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian cho rằng người
học sẽ có lời nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu”


[40; tr.68]. Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel và Joseph
Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, họ chia HS thành
từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau
trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả
học tập tốt.
B.P. Exipop trong cuốn “Những cơ sở lý luận dạy học” (1971), tập 3
NXB Giáo dục, “nhấn mạnh đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo, độc

tránh hiện đại hóa, bóp méo lịch sử.
Trong cuốn “Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học” của dự án Việt – Bỉ NXB Đại học sư phạm Hà Nội. Giới thiệu một số
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực hiện đang được thực hiện tại nhiều
nước trên thế giới và các nước trong khu vực, nhằm giúp cho giáo viên, cán
bộ quản lý giáo dục Việt Nam tiếp cận với một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực của học sinh như: Phương pháp học góc, học theo hợp đồng,
học theo dự án và các kĩ thuật khăn phủ bàn, mảnh ghép và bể cá.
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (2010), NXB ĐHSP Hà
Nội, (Phan Ngọc Liên chủ biên) đề cập vấn đề “Việc phát triển năng lực nhận
thức và hành động cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm
cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn luyện tập cho các em trở thành
người có tư duy độc lập, chủ động tích cực trong suy nghĩ và hành động”[15;
tr.59].
Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo
dục (2010), tác giả Thái Duy Tuyên tiếp tục đề cập đến phương pháp dạy học


hiện đại, trình bày những cơ sở lí luận và hệ thống các phương pháp dạy học
hiện đại. Thái Duy Tuyên quan niệm rằng những phương pháp dạy học như:
dạy học nêu vấn đề, dạy học theo lí thuyết kiến tạo, dạy học theo quan điểm
sư phạm học tương tác, các phương pháp tích cực trong dạy học, là các hệ
thống PPDH hiện đại bởi vì các hệ thống PPDH này còn tương đối mới ở Việt
Nam và chúng cũng là xu thế chung của thế giới hiện nay.
Tác giả cũng dành một phần “Những vấn đề cấp thiết” trình bày về nội
dung đổi mới phương pháp dạy học - tái hiện và sáng tạo trong dạy học, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh,... và nhấn mạnh “Điều quan trọng
nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học là Thầy dạy thế nào để học sinh
động não, để làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát
triển trí thông minh, trí sáng tạo của họ. Đó là bản chất của vấn đề, là sự vận

một quy trình khoa học trong dạy học phần Lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến
giữa thế kỉ XVI”. [37; tr.68]
Liên quan đến sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong DHLS ở trường
phổ thông, tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng đã công bố một số bài viết và tài liệu
trong chuyên đề tập huấn, bối dưỡng GV như: tài liệu bồi dưỡng chuyên đề
“Về định hướng ứng dụng công nghệ thông tin và vận dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực theo hướng phát triển năng lực người học” (2014).
Trong các tài liệu này, tác giả đã trình bày một số kĩ thuật dạy học hiện đại,
trong đó có kĩ thuật khăn trải bàn, mảnh ghép, bể cá…Tài liệu này đã chỉ ra
khái niệm, ưu-nhược điểm và cách tiến hành của mỗi kĩ thuật. Đây là cơ sở
quan trọng về mặt lý thuyết của các kỹ thuật để tôi thực hiện đề tài.
Cuốn “Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường
phổ thông” (2015), của Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier đã đề cập tới một


số phương pháp dạy học tích cực cũng như các năng lực cho học sinh như:
dạy học nhóm, dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề, đóng vai.
Một số bài viết trên tạp chí như: “Dạy học hợp tác và vấn đề xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” của tác giả Nguyễn Thành Kỉnh
(Tạp chí Giáo dục số tháng 7/2009); “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”
của tác giả Đỗ Hương Trà (Tạp chí Giáo dục số tháng 7/2009); “Một số vấn
đề về dạy học theo góc và bước đầu triển khai áp dụng ở Việt Nam” của tác
giả Cao Thị Thặng (Tạp chí Giáo dục số tháng 4/2010)…đưa ra quan niệm về
phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể cũng như quy trình thiết kế bài học, ưu
nhược điểm của phương pháp, KTDH đó.
Tìm hiểu các nguồn tài liệu ở trong và ngoài nước có thể thấy việc vận
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong DHLS ngày càng được quan tâm,
nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về việc vận
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại
(SGK lịch sử 10 chương trình chuẩn) theo hướng phát triển năng lực hợp tác

Để thực hiện mục đích kể trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau:
Tìm hiểu lý luận về các kĩ thuật dạy học tích cực và năng lực hợp tác
trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
Điều tra thực trạng về việc sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy
học bộ môn Lịch sử ở trường THPT.
Nguyên tắc vận dụng các KTDH tích cực nhằm phát triển năng lực hợp
tác cho HS trong dạy học phần Lịch sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình
chuẩn).


Đề xuất các kĩ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng vào phần Lịch sử
thế giới cận đại từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII (SGK Lịch sử lớp
10, chương trình chuẩn).
Đề xuất một số biện pháp vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong
dạy học phần Lịch sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn).
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những
đề xuất đưa ra.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận là: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về giáo dục và đào tạo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lí thuyết: Đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu sách báo,
tạp chí, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS, vấn
đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường phổ thông; phân tích nội
dung chương trình, SGK lớp 10 hiện hành.
Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học
sinh, điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo ở trường trung học phổ thông; Thực nghiệm sư phạm nhằm

tích cực nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trường THPT.
Chương 2: Biện pháp vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát
triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại
( lịch sử 10, chương trình chuẩn).


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG KĨ THUẬT
DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực
1.1.1.1 Phương pháp dạy học
Theo các nhà giáo dục học trên thế giới và các nhà giáo dục học Việt
Nam, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về phương
pháp dạy học.
Theo I. Ia Lence cho rằng: “PPDH là một hệ thống những hành động
có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của học
sinh, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn” [14; tr.46] .
Theo GS Đặng Vũ Hoạt – PGS Hà Thị Đức: “PPDH là tổng hợp cách
thức hoạt động của GV và SV nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề
ra” [11; tr.45].
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “PPDH là cách thức làm việc của thầy
và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho
trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học” [23; tr.23].
Theo Nguyễn Như An: “PPDH là tổng hợp tất cả các cách thức hoạt
động phối hợp thống nhất của giảng viên và giáo sinh nhằm thực hiện các
nhiệm vụ dạy học” [1; tr.79].

HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá
trình dạy học” [6; tr.54].


Trong cuốn “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học” của Dự án Việt – Bỉ cho rằng “kĩ thuật dạy học là những biện pháp,
cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống/hoạt động nhằm
thực hiện giải quyết một nhiệm vụ/nội dung cụ thể” [28; tr.45].
Trong lí luận dạy học việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động của HS cũng là biện pháp quan trọng trong
quá trình dạy học. Vậy ta có thể hiểu KTDH tích cực là “những động tác,
cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học nhằm mục đích
thay đổi vai trò, vị trí của HS từ chỗ thụ động tiếp thu kiến thức sang chủ
động lĩnh hội kiến thức, phát huy tính tích cực, tư duy độc lập, hình thành các
năng lực cá nhân và năng lực xã hội của các em” [44; tr.19].
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường THPT
Mục tiêu của giáo dục phổ thông theo Luật giáo dục (2005, sửa đổi
2009,2010) là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản” [3; tr.87]. Như vậy mục tiêu của giáo dục
phổ thông không phải là đào tạo ra những con người công cụ, mà là đào tạo
những con người có bản lĩnh, năng lực hành động, tự do và sáng tạo.
Môn lịch sử không chỉ trang bị vốn kiến thức cần thiết về lịch sử dân tộc
và lịch sử thế giới, mà quan trọng hơn là góp phần bồi dưỡng lòng yêu quê
hương xứ sở, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, tinh thần tôn trọng các
giá trị lịch sử văn hóa nhân loại; trong hình thành nhân cách và bản lĩnh con
người, ý thức trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Việc thực hiện chương trình giáo dục nói chung, chương trình môn Lịch
sử nói riêng được tiến hành qua các khâu:
- Xác định mục tiêu đào tạo


1.1.3. Đặc trưng của kiến thức Lịch sử
Đặc trưng của kiến thức môn Lịch sử bao gồm: tính quá khứ, tính không
lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thống nhất giữa “sử” và “luận”.
Thứ nhất là tính quá khứ: “Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật
của xã hội loài người từ lúc con người và xã hội hình thành đến nay. Tất cả
những sự kiện và hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những
chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ. Bởi vậy, người ta không thể trực
tiếp quan sát được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một cách
gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại”[15; tr.139]. Chính vì vậy, việc
giảng dạy cũng có khó khăn nhất định song bên cạnh đó cũng góp phần phát
triển trí tưởng tượng của học sinh.
Thứ hai là tính không lặp lại: Mỗi sự kiện, hiện tượng Lịch sử chỉ xảy
ra trong một thời gian và không gian nhất định, trong thời gian và không gian
khác nhau. Không có một sự kiện, hiện tượng Lịch sử nào xảy ra cùng thời
điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống
nhau, không lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp
lại.
Kiến thức lịch sử không mang tính lặp lại về thời gian và cả không gian.
Chính điều này đặt ra yêu cầu khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó
trong lịch sử phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không gian làm nảy
sinh sự kiện, hiện tượng đó. Qua đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể, riêng
biệt song có mối quan hệ kế thừa.
Thứ ba là tính cụ thể: Trong cuốn “Phép biện chứng của tự nhiên”, Ph.
Ăngghen viết: “Trong bất cứ lĩnh vực khoa học nào - trong lĩnh vực tự nhiên
cũng như trong lĩnh vực xã hội - phải xuất phát từ những sự kiện mà chúng ta
biết được” [21; tr.32]. Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể
của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó. Học Lịch sử HS được



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status