BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ NIỆM TƯỜNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THÍ ĐIỂM THỰC HIỆN VĂN PHÒNG
ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT MỘT CẤP TẠI 4 TỈNH
THÀNH PHỐ (HẢI PHÒNG, ĐÀ NẴNG, HÀ NAM, ĐỒNG NAI)
VÀ NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
KHI TRIỂN KHAI ĐỒNG LOẠT
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
VÕ NIỆM TƯỜNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THÍ ĐIỂM THỰC HIỆNVĂN PHÒNG
ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT MỘT CẤP TẠI 4 TỈNH
THÀNH PHỐ (HẢI PHÒNG, ĐÀ NẴNG, HÀ NAM, ĐỒNG NAI)
VÀ NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
KHI TRIỂN KHAI ĐỒNG LOẠT
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402
Tôi đặc biệt tri ân quý Thầy Cô trong Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, những
Người Thầy tuyệt vời, xuất chúng và tận tụy, đã giúp tôi lĩnh hội được nhiều kiến thức quý
báu và hữu ích, đã mở mang cho tôi những tầm nhìn rộng lớn và sâu sắc hơn.
Tôi xin gửi lời cám ơn riêng đến Thầy Phạm Duy Nghĩa, người đã truyền cho tôi niềm đam
mê với những điều luật, làm cho tôi bị cuốn hút vào thế giới luật pháp khô cứng bằng một
phương pháp truyền thụ rất nhẹ nhàng và tinh tế. Những gì tôi thể hiện trong luận văn này là
Lời cám ơn chân thành nhất đến Thầy.
Cuối cùng, tôi xin cám ơn những người sáng lập và điều hành Chương trình Giảng dạy kinh
tế Fulbright Việt Nam, những người đã cho tôi cơ hội gia nhập vào một “Ngôi nhà nhỏ” thân
thiện và trí tuệ, nơi tôi thấy mình trưởng thành hơn với những kiến thức trung thực và rộng
mở.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Võ Niệm Tường
iii
TÓM TẮT
Sau gần 10 năm thực hiện Luật Đất đai 2003, cơ quan Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng
đất đã được thành lập ở 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở 563/698 huyện, thị,
thành phố thuộc tỉnh (số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường vào tháng 9/2012).
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan thực hiện nhiệm vụ đăng ký sử dụng đất,
chỉnh lý biến động về sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính; là nơi tiếp nhận, thẩm định hồ
sơ, thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trình cấp có thẩm
quyền ký giấy và là nơi thực hiện xác nhận các quyền theo luật định của người sử dụng đất
sau khi đã được cấp giấy chứng nhận.
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoạt động theo Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLTBTNMT-BNV ngày 15/07/2008 của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ về hướng
dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài
v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................... i
LỜI CÁM ƠN ........................................................................................................................ ii
TÓM TẮT .............................................................................................................................iii
MỤC LỤC ............................................................................................................................. v
DẪN NHẬP ........................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT HAI CẤP, HIỆN
TRẠNG VÀ NHỮNG TỒN TẠI .......................................................................................... 4
1.1.
Mô hình văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hai cấp ............................................ 6
1.2.
Hiện trạng hoạt động các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của 4 tỉnh, thành
phố trước khi thực hiện thí điểm ................................................................................ 7
1.3.
Những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện mô hình văn phòng đăng ký quyền sử
dụng đất hai cấp ......................................................................................................... 9
1.3.1. Thuận lợi .................................................................................................................... 9
1.3.2. Khó khăn .................................................................................................................... 9
1.4.
3.2.
Kết quả thí điểm văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp ở 4 tỉnh, thành phố . 17
3.2.1. Thành phố Đà Nẵng ................................................................................................. 17
3.2.2. Thành phố Hải Phòng .............................................................................................. 17
3.2.3. Tỉnh Hà Nam ............................................................................................................ 18
3.2.4. Tỉnh Đồng Nai ......................................................................................................... 18
3.3.
Những ưu điểm của mô hình Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất một cấp so với
hai cấp ...................................................................................................................... 20
3.4.
Những vướng mắc khi chuyển đổi mô hình văn phòng đăng ký thành một cấp ..... 21
CHƯƠNG 4. NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ ....................................................................... 22
4.1.
Về quy trình thí điểm văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp tại 4 tỉnh, thành
phố ............................................................................................................................ 22
4.2.
Về việc quyết định triển khai mô hình văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp
trong hệ thống pháp luật đất đai mới, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2014 ................ 24
4.3.
quy định.
Theo Luật này, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất có hai cấp, một thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường ở cấp tỉnh và một thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường ở cấp
huyện. Và cho đến nay đã hoạt động cơ bản ổn định trong cả nước. Tuy nhiên, sau hơn 10
năm tồn tại mô hình này đã phần nào bộc lộ một số khiếm khuyết và cần thay đổi cho phù
hợp với điều kiện và tình hình mới.
Từ những vấn đề đó, ngày 17/4/2012 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 447/QĐ-TTg
triển khai thực hiện Đề án “Thí điểm kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử
dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường”. Theo đó, Đề án này sẽ
triển khai thực hiện thí điểm mô hình Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất từ hai cấp
thành một cấp tại 04 tỉnh, thành trong cả nước gồm: tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng,
thành phố Hải Phòng và tỉnh Hà Nam đến hết ngày 31/12/2013.
Với mô hình một cấp thí điểm, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất sẽ hoàn toàn trực
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và có chi nhánh tại các huyện.
Sau khi sơ kết một năm việc thực hiện thí điểm, Thủ tướng đã có văn bản số 5335/VPCPKTN ngày 02/7/2013 gia hạn việc thí điểm đến hết tháng 6/2014.
Kết quả thí điểm sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thay đổi toàn diện mô hình văn phòng
đăng ký một cấp trong Luật Đất đai vừa được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ
01/7/2014.
2
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tìm hiểu thực trạng của hệ thống văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất hai cấp hiện nay và kết quả thí điểm mô hình văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất một cấp tại 4 địa phương là Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nam và Đồng Nai.
Trên cơ sở đó, báo cáo phân tích những ưu điểm cũng như khuyết điểm của mô hình hai
cấp so với mô hình một cấp trong Đề án thí điểm qua những kết quả thực hiện bước đầu tại
4 tỉnh, thành. Báo cáo cũng lược dẫn một số mô hình văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất hiện nay tại một số quốc gia trên thế giới.
cấp ở các địa phương liên quan.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng thực hiện đối với các đối tượng liên quan như: Sở Tài nguyên
và Môi trường; UBND các cấp; Tổng Cục Quản lý Đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được gói gọn trong 4 địa phương thực hiện thí điểm thí
điểm mô hình văn phòng đăng ký sử dụng đất một cấp, đó là: tỉnh Hà Nam (Đề án được thí
điểm trong phạm vi thành phố Phủ Lý và 2 huyện Lý Nhân, Kim Bảng); thành phố Hải
Phòng (Đề án được thí điểm trong phạm vi quận Ngô Quyền và huyện Thủy Nguyên);
thành phố Đà Nẵng (Đề án được thí điểm trong phạm vi toàn thành phố ) và Đồng Nai (Đề
án được thí điểm trong phạm vi toàn tỉnh).
6. Bố cục luận văn
Luận văn được thực hiện gồm 5 chương:
Chương 1: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất hai cấp: hiện trạng và những tồn tại.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Tổng quan các bài nghiên cứu trước.
Chương 3: Mô hình văn phòng đăng ký sử dụng đất một cấp theo kết quả thí điểm.
Chương 4: Đánh giá và nhận xét.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
4
CHƯƠNG 1.
VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT HAI CẤP, HIỆN TRẠNG VÀ
NHỮNG TỒN TẠI
Đất đai từ lâu đã được xác định là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh
tế và ổn định xã hội cho mọi quốc gia. Vì thế, quản lý đất đai luôn được đặt lên vị trí hàng
đầu trong công việc quản lý Nhà nước của các chính phủ, bất kể chính phủ đó đang theo
chế độ xã hội nào. Xã hội càng phát triển, quyền sử dụng hay quyền sở hữu đất đai lại càng
trở nên quan trọng đối với mọi tổ chức, mọi cá nhân.
Ngày nay, giải quyết những quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan đến đất đai luôn là nhiệm
triển nhanh và nóng.
Công tác quản lý nhà nước về đất đai là hàng loạt các nhiệm vụ nặng nề, liên quan trực tiếp
đến quyền và lợi ích của người dân và bao gồm từ những công việc vĩ mô như thiết lập hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất; xác định và quản lý địa giới
hành chính; xác lập bản đồ địa chính và quản lý biến động; lập và quản lý quy hoạch sử
dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai… đến những công việc vi mô, nhỏ lẻ, như: giải quyết
tranh chấp về đất đai; thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai cho các tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân (gồm: giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất,
đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất…).
Với quá nhiều nhiệm vụ như thế, bộ máy giản đơn không thể nào đảm nhiệm được. Trong
khi để quản lý tốt đất đai, vấn đề mấu chốt là thiết lập một hệ thống dữ liệu về đất đai nhất
quán, được cập nhật, chỉnh lý kịp thời. Mà điều này đòi hỏi phải tổ chức cho được một hệ
thống đăng ký đất đai thống nhất trên toàn quốc, toàn tỉnh, toàn huyện và toàn xã.
Cho nên, sau 10 năm thực hiện, Luật Đất đai được cập nhật, chỉnh sửa và bổ sung nhằm
đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Và với Luật Đất đai 2003, Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất được hình thành theo khoản 2 Điều 64 Luật Đất đai 2003 quy định: “cơ quan
quản lý đất đai ở địa phương có Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất”, có chức năng
quản lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, và thực hiện các thủ tục
hành chính để phục vụ người sử dụng đất trong các quyền và nghĩa vụ của họ. Ngoài ra,
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là đơn vị giúp cơ quan tài nguyên và môi trường
cùng cấp tiếp nhận hồ sơ đăng ký và thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất để trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
6
1.1. Mô hình văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hai cấp
Theo Luật Đất đai 2003, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là một đơn vị hành chính
công theo mô hình hai cấp, nghĩa là thuộc hai cấp quản lý, tương ứng với thẩm quyền cấp
của người sử dụng đất phải được quản lý, giám sát trong suốt quá trình sử dụng đất.
Sơ đồ số 1: Sơ đồ tổ chức văn phòng đăng ký quyền sử đất hai cấp
Sở Tài nguyên và Môi
trường
UBND huyện A
Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất cấp
tỉnh
Phòng Tài nguyên và
Môi trường huyện A
Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất huyện
A
UBND huyện B
Phòng Tài nguyên và
Môi trường huyện B
Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất huyện
B
: Chỉ đạo trực tiếp
: Hướng dẫn về chuyên môn.
Riêng tại 2 quận, huyện thí điểm, tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận đạt cao hơn và tại quận Ngô
Quyền đã hoàn thành việc đo vẽ bản đồ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và thực
hiện khai thác sử dụng tương đối hiệu quả.
(3) Thành phố Đà Nẵng: Đã hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận, nhưng cũng chủ
yếu dựa trên tài liệu đo đạc tạm thời; dữ liệu thuộc tính, dữ liệu bản đồ chưa được tập trung
nhất quán thành bộ cơ sở dữ liệu địa chính theo chuẩn quốc gia.
(4) Tỉnh Đồng Nai: Đã hoàn thành cơ bản công tác cấp giấy chứng nhận. Đã thực hiện đo
đạc bản đồ địa chính chính quy trên địa bàn toàn tỉnh (171 xã, phường, thị trấn). Đã xây
dựng bộ cơ sở dự liệu địa chính phục vụ công tác cấp giấy và sử dụng chúng từ năm 2006,
năm thành lập văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Về tình hình xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính: ngoài tỉnh Đồng Nai đã
và đang quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu đất đai khi thực hiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận,
còn lại 3 tỉnh, thành kia vẫn chưa xây dựng, hoàn thiện hạ tầng cơ sở dữ liệu, mà cốt yếu là
đo đạc bản đồ địa chính từng thửa đất để có thể xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. Riêng Đà
Nẵng vẫn còn tình trạng cấp giấy trên bản đồ quy hoạch chi tiết xây dựng các dự án khu
dân cư, khu đô thị.
9
Như vậy, trong 4 tỉnh, thành phố thí điểm mô hình Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất
một cấp không có sự tương đồng nhau về các điều kiện cơ sở hạ tầng và cũng không giống
nhau về cách thức thực hiện. Theo chủ ý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, điều này sẽ
cho thấy nhiều cái nhìn khác nhau về việc thực hiện đề án, từ đó rút ra được những kết luận
tương ứng với từng cấp độ quy mô các văn phòng đăng ký hiện hữu trong cả nước.
1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện mô hình văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất hai cấp
Từ thực tế triển khai đề án thí điểm tai 4 tỉnh thành, tại cuộc họp sơ kết 1 năm thực hiện
cho thấy việc thực hiện mô hình một cấp có những thuận lợi và khó khăn sau:
1.3.1. Thuận lợi
Kết quả là, văn phòng đăng ký hai cấp về lâu dài tạo nên một khoảng hở trong việc minh
bạch thông tin về thửa đất, làm cho quá trình quản lý đất đai bị gián đoạn và đôi khi làm
cho những tiêu cực về đất đai có cơ hội phát triển, khó kiểm soát được.
1.4. Một số mô hình văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trên thế giới
Hầu hết các nước trên thế giới đang theo mô hình văn phòng đăng ký đất đai một cấp. Tuy
nhiên, có đôi chút khác nhau giữa việc tổ chức các văn phòng này và cơ quan chủ quản của
chúng:
Xét về góc độ quy mô, trên thế giới đang thực hiện hai loại hình văn phòng đăng ký đất đai
một cấp, hầu hết trong số chúng là mô hình văn phòng đất đai cấp trung ương, trực thuộc
Bộ chủ quản, có chi nhánh tại các bang, tỉnh hay liên bang.
Một số khác, là mô hình văn phòng đăng ký đất đai một cấp ở từng bang, từng tỉnh trực
thuộc chính quyền địa phương.
Xét về góc độ cơ quan chủ quản, hiện nay cơ quan đăng ký đất đai một cấp tại các nước có
nơi trực thuộc cơ quan tư pháp là Tòa án hoặc Bộ Tư pháp (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức
và Nga), có nơi trực thuộc Tổng cục Thuế (thuộc Bộ Kinh tế – Tài chính) như Pháp; nhiều
nước có văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc cơ quan quản lý đất đai trung ương như
Thụy Điển, Hà Lan, Anh, Singapore...; trong khi một số nước khác chỉ thành lập văn
phòng đăng ký đất đai tại địa phương (tỉnh, bang) như Hoa Kỳ, Thái Lan, Malaysia, Đan
Mạch, Phần Lan,….
11
Sơ lược qua một số mô hình văn phòng đăng ký đất đai một cấp được người viết sưu tầm
như sau:
1.4.1. Thụy Điển
Cơ quan quản lý đăng ký đất đai là đơn vị thống nhất trong cả nước, được gọi là
Lantmateriet, trực thuộc Bộ Môi Trường Thụy Điển. Cả 21 hạt của Thụy Điển đều có một
văn phòng địa chính của Trung ương và các văn phòng trực thuộc ở địa phương.
1.4.2. Hà Lan, Anh, Đức, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản
thể được bố trí theo phạm vi địa bàn hay một khu vực.
Văn phòng đăng ký một cấp thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của
văn phòng đăng ký cấp tỉnh và nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký cấp huyện theo quy định
của pháp luật hiện hành trong phạm vi địa bàn thí điểm.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký có chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của văn phòng đăng
ký một cấp trong phạm vi địa bàn được giao quản lý, bao gồm thực hiện thủ tục đăng ký,
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất và đăng ký biến động đối với tất cả các đối tượng cần đăng ký.
Như vậy, mô hình một cấp không làm thay đổi chức năng nhiệm vụ của văn phòng đăng
ký, chủ yếu chỉ là sự điều chỉnh về cơ cấu tổ chức của chúng.
2.2. Cơ sở lý thuyết
2.2.1. Đề án thí điểm được phê duyệt theo quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 17/4/2012
của Thủ tướng Chính phủ
Đề án có mục tiêu “Kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành một
cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường nhằm khắc phục hạn chế của hệ thống Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở hai cấp hiện nay và tiến tới chuẩn hoá hệ thống Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo mô hình của các nước trên thế giới, phù hợp với
điều kiện công nghệ hiện đại”.
Với phạm vi thực hiện thí điểm tại 4 tỉnh thànn phố như đã nêu trên.
Quy cách thực hiện là thành lập “Văn phòng đăng ký một cấp là Văn phòng đăng ký cấp
tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có các chi nhánh trực thuộc, được bố trí theo
13
phạm vi địa bàn (mỗi chi nhánh phụ trách một huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh), được
thành lập trên cơ sở chuyển nguyên trạng từ các Văn phòng đăng ký trực thuộc Phòng Tài
nguyên và Môi trường của các thành phố, thị xã, quận, huyện thí điểm. Các chi nhánh chịu
sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Văn phòng đăng ký cấp tỉnh; không hạch toán
độc lập mà do Văn phòng đăng ký cấp tỉnh thống nhất quản lý, nhưng có con dấu riêng để
Những mô hình văn phòng đăng ký được sưu tầm nêu trong chương trước mặc dù chưa
đầy đủ cũng cho thấy, các nước trên thế giới ngày nay hầu hết đang thực hiện theo mô hình
văn phòng đăng ký một cấp. Và đã có một số nước tách bạch hẳn công tác quản lý Nhà
nước về đất đai với hoạt động của các văn phòng này.
2.3. Tổng quan các bài nghiên cứu trước
Ở Việt Nam, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là hệ thống tổ chức được hình thành
theo Luật Đất đai năm 2003. Đa phần các tỉnh, thành mới thành lập Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất sau khi Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV ngày
31/12/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ
chức phát triển quỹ đất được ban hành; Thậm chí, cho đến nay, ở một một số tỉnh vẫn chưa
thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện;
Và tất cả đều là văn phòng đăng ký đều là hai cấp theo Luật 2003. Còn về văn phòng đăng
ký một cấp theo đề án thí điểm thì đến nay chưa có nghiên cứu nào về đề tài này. Ngoại trừ
một luận văn thạc sỹ của Lê Văn Tân viết năm 2013 khi đề án thí điểm vừa mới manh nha
thực hiện có đề cập đến việc triển khai đề án, chưa có số liệu thực tiễn để minh chứng.
Người viết xin điểm qua một số tài liệu có liên quan đến bài viết của mình như sau:
(1) Luận án tiến sĩ Luật học của Đặng Anh Quân (năm 2011), Hệ thống đăng ký đất đai
theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển.
(2) Công trình nghiên cứu - Đề tài độc lập cấp nhà nước của TS. Nguyễn Đình Bồng - Ủy
viên Hội đồng khoa học, Bộ Tài nguyên và Môi trường; “Nghiên cứu đổi mới hệ thống
quản lý đất đai để hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam” mã số
2002/15.
15
(3) Tài liệu về Đề án thí điểm kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt tại Quyết định 447/QĐ-TTg ngày 17/4/2012.
khối lượng giao dịch tại các địa phương không phát sinh đáng kể.
Trở thành một mắt xích trong toàn hệ thống cơ quan quản lý địa chính của tỉnh, các chi
nhánh văn phòng cấp huyện là những phần tử linh động và hiệu quả, có chung một quy
trình xử lý công việc và được đào tạo chuẩn hóa.
Sơ đồ số 2: Sơ đồ tổ chức văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp
Sở Tài nguyên và Môi trường
Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất cấp tỉnh
Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất huyện A
Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất cấp huyện B
Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất cấp huyện C
17
3.2. Kết quả thí điểm văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp ở 4 tỉnh, thành
phố
3.2.1. Thành phố Đà Nẵng
Sau khi chuyển đổi theo Đề án, hệ thống văn phòng đăng ký một cấp của Đà Nẵng có 185
người gồm 27 người tại văn phòng tỉnh và tại 158 người tại các chi nhánh.
Theo báo cáo của Đà Nẵng, kết quả quan trọng đạt được khi thực hiện mô hình một cấp
cho văn phòng đăng ký sự thống nhất cao về chuyên môn và trình tự giải quyết hồ sơ theo