Đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thanh hóa) - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ HNG THI

ĐồNG PHạM TRONG TộI CƯỡNG ĐOạT TàI SảN
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ HNG THI

ĐồNG PHạM TRONG TộI CƯỡNG ĐOạT TàI SảN
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN KHC HI

H NI - 2017


cưỡng đoạt tài sản .............................................................................. 8

1.1.1. Nhận thức về đồng phạm ..................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản ........................... 10
1.2.

Dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm
theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 ............... 17

1.2.1. Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm.......................... 18
1.2.2. Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm ................ 19
1.2.3. Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm ............................. 23
1.2.4. Mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản............................................ 24
1.3.

Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong
tội cưỡng đoạt tài sản ....................................................................... 26

1.3.1. Trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản.... 26
1.3.2. Hình phạt đối với đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản ............... 30
Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN CÓ
ĐỒNG PHẠM TẠI TỈNH THANH HÓA .............................................33


2.1.

Một vài nét về tình hình kinh tế chính trị ảnh hưởng tới tội
cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ...... 33

2.2.

các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về đồng phạm đối
với tội cưỡng đoạt tài sản................................................................. 78

3.3.

Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của BLHS
Việt Nam về đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản .................. 89

KẾT LUẬN .................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 98


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

TAND:

Tòa án nhân dân

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

THPT:

Trung học phổ thông

UBND:

38
39

Bảng 2.4. Bảng thống kê chế tài hình sự áp dụng đối với các bị cáo
đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản
Bảng 2.5. Bảng thống kê kết quả xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo
trong các vụ án cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm

40
44


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự Việt Nam ngày càng tiến bộ, đầy đủ và đáp ứng được
yêu cầu của thực tiễn trong việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản với tính chất là
quyền thiết thân quan trọng của mỗi cá nhân, tổ chức. Chương XIV Bộ luật
hình sự năm 1999 về “Các tội phạm xâm phạm sở hữu” và hiện nay là
Chương XVI Bộ luật hình sự năm 2015 chính là hành lang pháp lý, căn cứ
quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý những tội xâm phạm quyền
sở hữu tài sản, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản.
Tội phạm có thể do một người thực hiện, nhưng cũng có thể do hai
hoặc nhiều người cùng tham gia thực hiện. Khi những người phạm tội cùng
chung hành động và cùng cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể thì sự kiện đó
gọi là đồng phạm. Như vậy khi có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện
hành vi cưỡng đoạt tài sản thì đó được coi là vụ án đồng phạm đối với tội
cưỡng đoạt tài sản. Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của những vụ án
đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản bao giờ cũng tăng lên đáng kể so với
những vụ án được thực hiện bởi chủ thể đơn lẻ. Do vậy tính chất phức tạp của
loại án đồng phạm này cũng tăng hơn nhiều so với các án thông thường, đơn

sự năm 2015 vừa được Quốc hội thông qua để đưa ra kiến nghị giải pháp thi
hành là yêu cầu quan trọng. Từ những căn cứ trên cho thấy việc lựa chọn đề
tài “Đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)” làm đề tài luận văn thạc sĩ
luật học có tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta đã có các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp về đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt
Nam ở các góc độ khác nhau, chuyên sâu hoặc khái quát hóa đã được công bố
trên các sách, tạp chí, luận văn luận án, tiêu biểu là:
2


* Dưới góc độ sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình… liên
quan đến vấn đề định tội danh về tội cưỡng đoạt tài sản, có thể kể đến các
công trình sau: 1) PGS.TS. Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề lý luận về định
tội danh và hướng dẫn giải bài tập về định tội danh, Nxb. Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1999; 2) GS.TSKH. Lê Văn Cảm, PGS.TS. Trịnh Quốc Toản, Định
tội danh (Lý luận, Lời giải mẫu và 500 bài tập thực hành), Nxb. Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2011; 3) PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội
xâm phạm sở hữu, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các
tội phạm), Tập thể tác giả do GS.TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2001, tái bản năm 2003, 2007; 4) ThS. Đoàn Tấn Minh, Phương
pháp định tội danh và hướng dẫn định tội danh đối với các tội phạm trong Bộ
luật hình sự hiện hành, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010; 5) ThS. Đinh Văn Quế,
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Phần các tội phạm, Tập II - Các tội xâm
phạm sở hữu, Nxb. thành phố Hồ Chí Minh, 2002; v.v... Gần đây nhất, cuốn
sách chuyên khảo của PGS.TS. Cao Thị Oanh chủ biên, Các tội xâm phạm sở
hữu có tính chất chiếm đoạt, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015 đã phân tích cả
nhóm tội phạm (trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản) trong Bộ luật hình sự và

học ĐHQGHN: Luật học, Tập 33, Số 1 (2017) v.v…
Như vậy, nghiên cứu cho thấy chỉ có một số công trình đề cập riêng lẽ
đến vấn đề trách nhiệm hình sự, phân tích dấu hiệu pháp lý hình sự và hình
phạt; việc định tội danh hoặc về tội cưỡng đoạt tài sản hoặc đấu tranh phòng,
chống tội phạm này chứ chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến đồng
phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam và trên một địa
bàn cụ thể là tỉnh Thanh Hóa. Do đó, việc nghiên cứu tội cưỡng đoạt tài sản
trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 05 năm (2012 - 2016), đề xuất kiến nghị tiếp tục hoàn thiện Bộ luật
hình sự nước ta về tội phạm này trong các trường hợp đồng phạm, cũng như
các giải pháp bảo đảm thi hành là cần thiết.

4


3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất kiến nghị
tiếp tục hoàn thiện các quy định về đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản
theo Bộ luật hình sự năm 2015 và một số giải pháp bảo đảm áp dụng pháp
luật được thống nhất.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận, pháp lý và quy định
của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan
đến đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng
pháp luật hình sự và thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 05 năm (2012 - 2016), chỉ ra một số tồn tại,
hạn chế và các nguyên nhân cơ bản.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về giới hạn vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về đồng

phương pháp xã hội học,... để qua đó đưa ra được những kết luận khoa học
mang tính thuyết phục cao, đề xuất các phương án cụ thể sao cho phù hợp
nhằm hoàn thiện và hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật hình sự có
liên quan đến vấn đề đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản.
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
5.1. Ý nghĩa khoa học
Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân, cũng như phục vụ Hiến pháp
năm 2013 và các văn kiện của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, triển khai thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, thì việc nghiên cứu để làm
sáng tỏ một số vấn đề lý luận, pháp lý một cách có hệ thống và tương đối toàn
diện về đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản ở cấp độ một luận văn thạc sĩ

6


luật học góp phần bổ sung vào kho tàng lý luận về tội phạm và hình phạt
trong luật hình sự Việt Nam nói chung, các tội xâm phạm sở hữu nói riêng.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng đặc
biệt là Tòa án trong việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ
và đúng pháp luật. Ngoài ra, luận văn còn là cơ sở để đưa ra những kiến nghị
tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến
đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản và nâng cao hiệu quả công tác phòng,
chống tội phạm này tại Tòa án nhân dân hai cấp cấp tỉnh Thanh Hóa, qua đó,
phòng, chống oan, sai, định tội danh và quyết định hình phạt không chính xác
và vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự.
Đặc biệt, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên
cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự - tố tụng hình sự và
Tội phạm học tại các cơ sở đào tạo luật trên cả nước.

mặc dù không có sự bàn bạc, thống nhất nhưng có sự tiếp nhận về mặt ý chí
giữa những người phạm tội để nhằm thực hiện tội phạm [13, tr.48].
Như vậy để xác định vụ án đồng phạm thì cần dựa vào các căn cứ
khách quan và các căn cứ chủ quan. Căn cứ khách quan gồm số lượng người
tham gia trong vụ án phải từ hai người trở lên mà hành vi của họ có tính liên
kết nhằm mục đích thực hiện tội phạm với hậu quả chung do vụ án đồng
phạm gây ra. Số lượng người phải có từ hai người trở lên và những người này
đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tính liên kết về hành vi thể hiện các
chủ thể phải cùng nhau thực hiện tội phạm. Hành vi của người đồng phạm này

8


liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia và tất cả đều phải
hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện một
tội phạm thuận lợi, tức là hành vi của người đồng phạm này là tiền đề cho
hành vi của người đồng phạm kia. Nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại
chung của tội phạm là do hành vi của tất cả những người đồng phạm hợp nhất
tạo ra. Hậu quả của tội phạm trong đồng phạm là hậu quả chung do toàn bộ
những người đồng phạm gây ra. Hành vi của mỗi người đồng phạm đều là
nguyên nhân gây ra hậu quả chung ấy. Điều này thể hiện mối quan hệ nhân
quả trong vụ án đồng phạm. Căn cứ chủ quan chính là yếu tổ lỗi. Toàn bộ
những người đồng phạm đều phải có hình thức lỗi cố ý trong việc tham gia
thực hiện tội phạm. Họ đều nhận thức rõ hành vi của mình và của những
người đồng phạm khác là nguy hiểm cho xã hội. Mỗi người đồng phạm đều
thấy trước hành vi của mình và hành vi của người đồng phạm khác trong vụ
án đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hành vi của tất cả những
người đồng phạm khác là nguyên nhân dẫn đến hậu quả và mong muốn hoặc
có ý thức để mặc hậu quả xảy ra.

Trên cơ sở đặc điểm tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, để đưa ra khái niệm tội cưỡng đoạt tài
sản cần nghiên cứu, phân tích và làm rõ một số khái niệm và đặc điểm của
hành vi chiếm đoạt.
Khái niệm "quản lý" có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc
gì" [80, tr.1363], "chủ tài sản" được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc
người được giao quản lý tài sản đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo
quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản). Theo đó, cụm từ
"chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang
thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình [68, tr.366]; hoặc
"hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác
thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà
mình quan tâm" [3, tr 230].
10


Hành vi chiếm đoạt tài sản bao hàm trong nó các yếu tố khách quan và
chủ quan. Về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài
sản (người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn
khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và
tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt trái pháp luật tài sản đó. Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là
quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có
tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất
quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền
cụ thể của quyền sở hữu. Bên cạnh đó, tài sản là đối tượng tác động của hành
vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là vẫn còn nằm trong sự chiếm hữu, sự
quản lý, kiểm soát của chủ tài sản. Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu,
sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng
của hành vi chiếm đoạt. Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì

hình phạt của những người đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản.
Về mặt khoa học pháp lý hình sự có thể định nghĩa đồng phạm trong
tội cưỡng đoạt tài sản là việc hai hay nhiều người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cố ý cùng tham gia vào việc thực
hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác gây tác động mạnh
đến ý chí của chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan
nhằm chiếm đoạt tài sản.
Từ định nghĩa trên cho thấy đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản thể
hiện ở những dấu hiệu khách quan và chủ quan của những người cùng tham
gia thực hiện tội phạm như sau:
Dấu hiệu khách quan thể hiện sự tham gia của hai người trở lên có đủ
điều kiện chủ thể của tội phạm. Hành vi của những người tham gia vào việc
phạm tội là cùng chung hành động. Người đồng phạm tham gia thực hiện tội
cưỡng đoạt tài sản với một trong bốn hành vi là: hành vi trực tiếp thực hiện,
hành vi tổ chức thực hiện, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội và hành

13


vi giúp sức người khác thực hiện việc đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy
hiếp tinh thần gây tác động mạnh đến ý chí của chủ sở hữu, người quản lý tài
sản hoặc người khác có liên quan nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong đó, hành vi
thực hiện tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi cốt lõi trong mối liên hệ với các
hành vi đồng phạm khác. Những người đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài
sản tham gia thực hiện một tội phạm bằng ít nhất một trong bốn hành vi nêu
trên và chúng có mối liên kết thống nhất với nhau. Hành vi của mỗi người là
một khâu cần thiết cho hoạt động phạm tội chung, "nhằm thực hiện một tội
phạm nhất định và để đạt được một kết quả phạm tội thống nhất" [47, tr.196].
Hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung và là điều kiện cho hành vi của người
khác, ảnh hưởng đến hành vi đó làm cho thay đổi và hiệu quả hơn. Như vậy

Dấu hiệu chủ quan chủ quan của đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài
sản thể hiện ở việc những những người đồng phạm có cùng nhận thức và
chung ý định phạm tội, tức là sự cùng cố ý của những người tham gia thực
hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản. Nếu thiếu dấu hiệu này sẽ không có đồng
phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản mà chỉ là trường hợp nhiều người cùng
phạm tội này. "Sự cùng cố ý này thể hiện sự liên kết thống nhất về ý chí của
những người đồng phạm được thống nhất với nhau và hành động phạm tội
của mỗi người đều thống nhất trong sự chi phối chung của sự cùng cố ý
phạm tội" [12, tr. 255]. Mỗi người đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản
không chỉ cố ý tham gia vào việc thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của
mình mà còn nhận thức và mong muốn sự cố ý tham gia của những người
đồng phạm khác. Sự cùng cố ý này được thể hiện bằng lý trí và ý chí. Về lý
trí, sự cùng cố ý đòi hỏi mỗi người đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản
phải nhận thức hay thấy trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cưỡng
đoạt tài sản của mình, biết được có người khác cùng thực hiện hành vi
cưỡng đoạt tài sản với mình. Tính chất hành vi phạm tội chung là hành vi
cưỡng đoạt tài sản được thể hiện trong hành vi của người trực tiếp thực hiện

15


hành vi cưỡng đoạt. Những người phạm tội cũng nhận thức được hậu quả
chung của hành vi cưỡng đoạt tài sản mà họ tham gia thực hiện. Nếu mỗi
người đồng phạm chỉ biết mình có hành vi cưỡng đoạt tài sản mà không biết
người khác cũng có hành vi này cùng với mình thì chưa thỏa mãn dấu hiệu
lỗi cố ý trong đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản nên không thể có đồng
phạm trong tội này. Do đó, hành vi xúi giục (ngụy trang), giúp sức bí mật
không thỏa mãn dấu hiệu chủ quan của đồng phạm. Người xúi giục, người
giúp sức một chiều phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi xúi
giục phạm tội hoặc giúp sức phạm tội của mình [48, tr.42-43]. Pháp luật hình

Dấu hiệu pháp lý hay dấu hiệu cấu thành tội phạm "có tính chất đặc
trưng và điển hình cho loại tội phạm ấy, nó phản ánh đầy đủ bản chất và
dùng để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác" [6, tr.292]. Do đó, việc
làm rõ khái niệm và phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội cưỡng đoạt
tài sản được thực hiện bởi một chủ thể hay nhiều chủ thể qua bốn yếu tố cấu
thành tội phạm - khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ
thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng, góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng định tội danh, quyết
định hình phạt và xét xử được cụ thể, chính xác và đúng pháp luật. Dấu hiệu
pháp lý hình sự của tội cưỡng đoạt tài sản là đặc điểm chung về mặt lập
pháp cụ thể của các thuộc tính điển hình và chủ yếu hơn cả, đặc trưng cho
tội cưỡng đoạt tài sản. Cũng như các tội phạm khác, tội cưỡng đoạt tài sản
cũng có đầy đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm - Khách thể của tội cưỡng
đoạt tài sản, mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản, chủ thể của tội
cưỡng đoạt tài sản, mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản. Nói một cách
khác, mỗi tội phạm (trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản) đều khác các tội
phạm khác về đặc điểm cấu trúc của bốn yếu tố cấu thành tội phạm, "nhưng
tất cả các tội phạm thuộc một tội danh đều có những đặc điểm chung về bốn
yếu tố đó. Những đặc điểm chung này được phản ánh trong các cấu thành
tội phạm cụ thể" [28, tr.54].
17


Theo Điều 135 BLHS năm 1999 thì tội cưỡng đoạt tài sản được ghi
nhận như sau: “Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy
hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm
đến năm năm”. Điều 20 BLHS năm 1999 quy định “Đồng phạm là trường
hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”, do đó đồng
phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trường hợp có hai người trở lên
cố ý cùng thực hiện hành vi cưỡng đoạt đoạt tài sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status