Tên SKKN: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC AN
TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH LỚP CHỦ NHIỆM”
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, an toàn giao thông đang là vấn đề lớn được cả xã
hội quan tâm. Đi khắp các nẻo đường, câu khẩu ngữ “An toàn giao thông là hạnh
phúc cho mọi nhà” như lời nhắc nhở, cũng là lời cảnh báo với những người tham
gia giao thông rằng hãy nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông để đem lại an toàn
cho chính mình, cho gia đình và cho xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất con người càng được nâng cao,
đi kèm với vấn đề đó là sự phát triển vượt bậc của các loại phương tiện giao thông.
Hàng ngày, chúng ta vẫn thấy tin tức về những vụ tai nạn đáng tiếc xảy ra, tai nạn
giao thông đang trở thành vấn nạn của toàn thế giới nói chung và của Việt Nam nói
riêng. Mỗi năm ở Việt Nam, trung bình có khoảng gần 10.000 người chết vì tai nạn
giao thông và với hơn 20.000 vụ tai nạn, va chạm giao thông, các vụ tai nạn giao
thông không chỉ để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe, tính mạng của con
người mà còn đem lại nỗi đau tinh thần không bao giờ quên được cho người thân
trong gia đình các nạn nhân. Theo thống kê của Cục Giao thông đường bộ Việt
Nam, có rất nhiều nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn thương tâm đó, tuy nhiên một
trong những nguyên nhân phổ biến nhất đó là do ý thức của con người khi tham gia
giao thông.
Học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi đang dần hình thành, hoàn thiện ý
thức, kỹ năng và hành động. Do thiếu hiểu biết về Luật Giao thông và hạn chế về
kỹ năng khi tham gia giao thông nên không ít vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng
xảy ra mà người gây ra tai nạn hoặc nạn nhân chính là những học sinh đang ngồi
trên ghế nhà trường. Chính vì vậy, việc cung cấp cho học sinh THPT những hiểu
biết cơ bản về Luật ATGT, giáo dục học sinh tham gia giao thông an toàn, có văn
hóa là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, tuy nhiên, chương trình giáo dục phổ thông
của nước ta vẫn chưa có bộ môn nào dành riêng cho vấn đề này. Do đó, những năm
gần việc tích hợp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh các cấp đặc biệt là cấp
THPT luôn luôn được chú trọng.
Trường THCS & THPT Bàu Hàm là một ngôi trường thuộc vùng sâu, vùng xa
an toàn giao thông.
+ Kiên quyết cưỡng chế thi hành pháp luật trật tự an toan giao thông
thông và nâng cao năng lực cho lực lượng cảnh sát, thanh tra giao thông vận tải Chú trọng về kết cấu hạ tầng giao thông.
+ Tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng an toàn kỹ thuật của
phương tiện giao thông vận tải.
+ Đề ra các giải pháp đối với người điều khiển phương tiện.
+ Giảm thiểu tai nạn giao thông trước tình hình về tai nạn giao thông xảy
ra ngày càng nhiều.” [2]
Trong những năm sau đó, các Chỉ thị, Nghị quyết, Nghị định của Chính
phủ đã được ban hành. Nhiều giải pháp để giảm tai nạn giao thông. Năm 2010,
Chính phủ ban hành Nghị quyết 34/2010 NĐ-CP ngày 02/4/2010 về quy định ban
hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nhằm hạn
chế tai nạn giao thông. Nhìn chung, Chính phủ, các bộ và ban An toàn giao thông
đã có nhiều giải pháp tích cực để chỉ đạo việc thực hiện an toàn giao thông trong cả
nước.
Thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông
đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông, Nghị
quyết số 88/NQ-CP ngày 24/8/2011 của Chính phủ; gắn nhiệm vụ đảm bảo trật tự
an toàn giao thông với kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, giáo
viên, nhân viên và học sinh, đặc biệt là người đứng đầu, người trực tiếp thực hiện
nhiệm vụ trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông.
Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục an toàn giao thông
(ATGT) trong các cơ sở giáo dục, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ và giải pháp của
ngành Giáo dục, Bộ GD-ÐT đã ban hành Kế hoạch số 110/KH-BGDÐT về việc
triển khai công tác giáo dục ATGT trong trường học năm 2017.
Xác định an toàn giao thông (ATGT) là một trong những nhiệm vụ quan
trọng, thời gian qua ngành GD-ÐT Ðồng Nai đã chủ động phối hợp với Công an
- Học sinh trường đa số là con gia đình nông dân, công nhân đi làm xa nên
việc phối hợp với nhà trường giáo dục con em chưa được quan tâm đúng mức. Một
số học ở cách xa trường, đường đến trường chủ yếu là đường rẫy nên việc đi lại
học tập của các em chưa được theo dõi sâu sát. Một bộ phận Cha mẹ học sinh
(CMHS) kiến thức về luật giao thông còn hạn chế, vô tư vi phạm luật giao thông
như không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, chở 3, chở 4 hoặc có thái độ không
kiên quyết nên đã để con em sử dụng phương tiện đi học không đúng quy định vô
hình chung đã tiếp tay cho các em vi phạm pháp luật.
- Kiến thức luật giao thông và ý thức chấp hành luật giao thông của học sinh
còn hạn chế: đi xe hàng ngang, không đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp điện, đi xe
máy, thậm chí không đội mũ bảo hiểm chở ba ...
- Lớp 10A5 do tôi chủ nhiệm có 40 học sinh, 87,5% học sinh là con em dân
tộc thiểu số ở Việt Nam; đang ở độ tuổi 15, 16 nên các em còn non nớt trong nhận
thức, tâm lý của các em chỉ thích tìm hiểu những vấn đề mới mẻ, trẻ, sôi động,
thích xem những kênh ca nhạc, giải trí hơn xem các clip về giáo dục ATGT. Vào
đầu năm học, khi được khảo sát (Phụ lục 2), đa số các em học sinh lớp tôi chủ
nhiệm – 10A5 - đều cho rằng ý thức tham gia giao thông của những người xung
quanh còn thấp, 90% học sinh cho rằng việc giáo dục ATGT là cần thiết và đa số
các em đã từng vi phạm ít nhất 1 lỗi khi tham gia giao thông mặc dù chưa có em
nào bị công an giao thông trực tiếp bắt lỗi; 75% các em sử dụng xe đạp điện hoặc
xe máy để đến trường nên việc giáo dục an toàn giao thông cho các em là vấn đề
tôi rất quan tâm.
Với những thực trạng nêu trên, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp để
nâng cao hiệu quả giáo dục ATGT cho học sinh lớp chủ nhiệm, các giải pháp này là
hoàn toàn mới tại đơn vị nơi tôi đang công tác.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
III.1.Giải pháp 1: Đổi mới các tiết sinh hoạt chủ nhiệm lồng ghép GDATGT
III.1.1. Mô tả cách thức thực hiện giải pháp:
tôi có thể dễ dàng lựa chọn, lồng ghép vào các tiết sinh hoạt chủ nhiệm để nâng
cao ý thức cho học sinh trong quá trình tham gia giao thông.
Từ những thuận lợi nói trên, thay vì ngồi tại phòng học của lớp, nhận xét
tuần học qua có những ưu điểm, nhược điểm gì, phê bình những ai, cách khắc phục
ra sao... rồi cho học sinh ngồi chơi, nói chuyện phiếm như những tiết sinh hoạt
bình thường khác, thì tôi đổi mới giờ sinh hoạt chủ nhiệm, chủ động đưa lớp chủ
nhiệm của mình lên Hội trường, phòng học đa chức năng để có thể tổ chức trò
chơi, các cuộc thi thuyết trình về an toàn giao thông hoặc cho các em xem các
video clip, hình ảnh có tính giáo dục, đặc biệt là chú trọng giáo dục về an toàn giao
thông. Cụ thể:
* Lồng ghép giáo dục an toàn giao thông qua các hình ảnh, video clip
Trước hết, tôi cho rằng ngoài việc giáo dục cho các em những hiểu biết cơ
bản về Luật giao thông đường bộ Việt Nam, tôi cần giáo dục các em tham gia giao
thông có văn hóa thông qua các hình ảnh. Tôi đưa ra các hình ảnh nên và không
nên khi tham gia giao thông, để các em lựa chọn hành động đúng cho mình.
Sau khi cho học sinh quan sát các hình ảnh trên, Nguồn: Một số hình ảnh vi
phạm ATGT [3], tôi đặt câu hỏi: “Theo các em, những hình ảnh trên, hình ảnh nào
đúng, hình ảnh nào sai? Nếu sai, em hãy chỉ ra những lỗi mà các bạn trong hình đã
vi phạm.”
Đa phần học sinh sẽ xác định hai hình trên là đúng, hai hình dưới là sai, do
các bạn đi xe đạp, xe máy dàn hàng ngang khi lưu thông trên đường và không đội
mũ bảo hiểm khi đi xe đạp điện.
Tôi chuẩn xác, khen ngợi ý kiến của học sinh, và khẳng định: cả 4 hình đều
sai, hình 1 và hình 2, mặc dù các bạn có đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp điện nhưng
dàn hàng ngang từ 2 đến 4 hàng, như vậy là vi phạm luật giao thông; hình 3, các
bạn đi xe đạp dàn hàng ngang gây mất an toàn giao thông; hình 4 các bạn vừa
không đội mũ bảo hiểm vừa dàn hàng ngang khi tham gia giao thông.
- 3 bảng to.
- 15 biển báo chưa hoàn chỉnh.
- 1 số các chi tiết
VD :
+ Các biển báo chưa hoàn chỉnh :
+ Các biển báo đã hoàn chỉnh :
+ 3 bàn học hoặc 9 vòng tròn.
Cách chơi :
- Cách 1 :
HS đứng tại bàn. Khi có hiệu lệnh, HS phải nhặt thật nhanh các chi tiết gắn vào
biển báo sao cho thành biển báo có ý nghĩa. Sau khi ghép xong , lần lượt từng HS
của từng đội sẽ lên giới thiệu về biển báo mà mình vừa ghép. Đội nào ghép nhanh,
giới thiệu đúng biển báo hơn đội đó sẽ chiến thắng.
- Cách 2 :
Trên bảng cô gắn rất nhiều các biển báo chưa được hoàn thiện. Khi có hiệu lệnh ,
HS phải xoay người 3 vòng và lên nhặt các chi tiết gắn thành biển báo có ý nghĩa.
Sau đó, lần lượt từng HS của từng đội sẽ lên giới thiệu về biển báo mà mình vừa
ghép. Đội nào ghép nhanh, giới thiệu đúng biển báo hơn đội đó sẽ chiến thắng.
=> Trò chơi ghép biển báo này giúp HS rèn luyện kỹ năng phản ứng nhanh, ghi
nhớ các biển báo và có những hiểu biết nhất định về các loại biển báo giao thông.
Trò chơi 2: “Cộng hay trừ”
- Bước 1: Xác định nội dung tổ chức trò chơi: “Làm gì để tham gia giao thông an
toàn”
- Bước 2: Xây dựng luật chơi: Mỗi dãy bàn hình thành một đội chơi, mỗi đội cử ra
các thành viên tham gia trò chơi, luân phiên nhau lên bảng để ghi dấu (+) vào phía
sau hành động nên làm tham gia giao thông an toàn và dấu (-) vào phía sau hành
động không nên làm, đội nào hoàn thành trước, chính xác hơn, đội đó thắng cuộc.
- Bước 3: Tổ chức trò chơi
- Đội mũ bảo hiểm khi
ngồi trên xe mô tô, xe gắn
máy, xe đạp điện.
- Mang áo phao khi tham
gia giao thông đường
thủy.
Bước 4: GV đưa phần giấy ghi kết quả:
Các hành động
Kết quả
- Đội mũ bảo hiểm khi đi xe ô tô
-
- Thắt dây an toàn khi đi ô tô
+
- Lạng lách, đánh võng
-
- Đi đúng làn đường, phần đường.
+
-Tuyên truyền văn hóa giao thông
+
Yêu cầu cả lớp cùng nhận xét xem đội nào đúng nhiều hơn và nhanh hơn. GV nhận
xét kết quả, thái độ tham gia trò chơi của các đội, những ai làm tốt, ai chưa tốt để
cùng nhau rút kinh nghiệm.
=> Như vậy, việc tổ chức trò chơi “cộng hay trừ” đã giúp cho HS chủ động lựa
chọn các hành động hợp lý khi tham gia giao thông hoặc những hoạt động mà học
sinh nên tham gia để có thể đảm bảo an toàn giao thông và cùng nhau tuyên truyền
giáo dục an toàn giao thông cho mọi người cùng thực hiện.
*Lồng ghép giáo dục an toàn giao thông qua cuộc thi “HS với an toàn
giao thông cấp lớp”
- Mục đích:
Nhằm hưởng ứng năm ATGT 2016, tưởng niệm các nạn nhân do tai giao
thông gây ra, thực hiện theo kế hoạch của Đoàn trường.
Tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
ATGT cho học sinh trong lớp.
Nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về luật ATGT để vận dụng khi tham
gia giao thông, góp phần hạn chế tai nạn giao thông đồng thời vận động gia đình,
người thân, cộng đồng tham gia học tập và chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao
thông.
Tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích học sinh trong lớp, thắt chặt mối đoàn kết,
rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
- Địa điểm: tại hội trường trường THCS&THPT Bàu Hàm
- Nội dung:
Tìm hiểu Luật giao thông đường bộ; hiểu biết của học sinh về luật ATGT,
thực hiện văn hóa khi tham gia giao thông.
- Hình thức cuộc thi:
Mỗi đội sẽ trải qua 3 phần thi: chào hỏi; xem và trả lời các hành động, hình
ảnh, ký hiệu…(được các đội thể hiện không bằng lời nói) và phần thi thuyết trình.
- Số lượng tham gia:
Mỗi tổ cử 5 người thành lập 1 đội.
pháp; Ý kiến của đội về vấn đề trên, lời khuyên của đội chơi dành cho các bạn khi
tham gia giao thông.
Thời gian trình bày không quá 05 phút và bài thuyết trình chính là cơ sở để đánh
giá kết quả chung cuộc của các đội chơi.)
- Hình thức chấm điểm:
Thang điểm cho phần thi giới thiệu về đội là 10 điểm; phần thi tình huống là 20
điểm và phần thi thuyết trình là 30 điểm.
Phần thi quá thời gian quy định từ 1 phút trở lên… bị trừ từ 2 trở lên, tùy vào thời
gian vượt quá so với quy định.
=> Kết quả cuộc thi:
Sau mỗi phần thi, giám khảo nhận xét về nội dung, ý nghĩa, tác dụng tuyên
truyền của các đội; khen ngợi sự chuẩn bị chu đáo của các đội chơi; nhắc nhở các
đội thực hiện thiếu nghiêm túc.
Đa số các em tham gia của các đội đều có ý thức, làm việc nhóm nghiêm túc
và đưa ra các nội dung hay, có hiệu quả cao trong tuyên truyền về Luật an toàn
giao thông, kêu gọi mọi người cùng thực hiện văn hóa khi tham gia giao thông.
Các thành viên trong lớp và các khách mời từ các lớp khác đều đến dự, cổ
vũ nhiệt tình, hào hứng.
Kết quả cụ thể:
Phần thi
Chào hỏi,
giới thiệu
về đội
Xem và đoán tình
huống, hình ảnh,
14
25
46.5
Giải nhất: Đội 2
Giải nhì: Đội 1 và đội 3: giải 3.
Và sau đây là một số hình ảnh minh chứng cho việc tổ chức cuộc thi
“Học sinh với an toàn giao thông” do tôi tổ chức cho học sinh lớp chủ nhiệm:
Phần thi chào hỏi, giới thiệu về đội chơi của Đội 1
Các đội thi trong phần thi “Xem và đoán hình ảnh, tình huống... giao thông”
Phần thi thuyết trình về vấn đề không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông của Đội 2
III.1.3. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp đã thực hiện:
Sau quá trình thực hiện lồng ghép giáo dục an toàn giao thông cho học sinh
qua các giờ sinh hoạt chủ nhiệm, tôi nhận thấy:
- Học sinh có những hiểu biết cơ bản về Luật giao thông, về văn hóa khi tham gia
giao thông.
- Học sinh hiểu được thực trạng về tình hình giao thông ở địa phương, trong nước
và trên thế giới.
- HS có thái độ không đồng tình với việc không tôn trọng pháp luật nhất là luật
GTĐB thông qua các hình ảnh và các bài thuyết trình của các đội chơi, từ đó, các
em dần dần hình thành nên thói quen mới khi tham gia giao thông, tuân thủ luật
giao thông và rèn luyện những hành vi lịch sự, có văn hóa khi lưu thông trên
đường.
lớp và đảm bảo lớp thực hiện tốt nhất trong khả năng của học sinh.
Tôi luôn tâm niệm dù ở vị trí nào, cũng phải cố gắng hết mình để thực hiện
hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Điều này đã thôi thúc tôi tìm tòi, đề xuất những
ý kiến để giáo dục đạo đức học sinh, trong đó có công tác giáo dục an toàn giao
thông cho học sinh toàn trường nói chung và lớp tôi chủ nhiệm nói riêng.
Ngay vào đầu năm học, dưới sự chỉ đạo của Chi bộ Đảng, BGH nhà trường,
BCH Đoàn trường đã tổ chức cho học sinh học nội quy, quy định của nhà trường,
những điều cấm học sinh không được làm và yêu cầu học sinh ký cam kết thực
hiện. Các điều cấm đối với học sinh bao gồm:
“- Không vô lễ, xúc phạm danh dự nhân phẩm của cán bộ, giáo viên, công
nhân viên trong nhà trường.
- Không đánh nhau.
- Không quay copy, sử dụng tài liệu trong kiểm tra, thi cử.
- Không tàng trữ, vận chuyển, sử dụng các chất gây nghiện.
- Không mang vũ khí, các vật sắc, nhọn khi đến trường.
- Không vi phạm pháp luật đặc biệt là Luật giao thông đường bộ.” [7]
Nội quy nhà trường còn quy định, “nếu học sinh nào vi phạm một trong những
điều cấm nêu trên sẽ xếp Hạnh kiểm Yếu cả năm và đi lao động rèn luyện trong hè.
Lớp nào có HS vi phạm một trong những điều cấm sẽ Khống chế thi đua tháng đó,
học kỳ đó”. [7]
=> Với vai trò là một GVCN, là cầu nối giữa nhà trường với gia đình học sinh, là
người tiếp xúc gần gũi nhất với học sinh lớp mình, tôi đã đánh máy và dán những
điều cấm học sinh không được làm vào bảng phụ cuối lớp, lượng hóa trừ điểm thi
đua đối với từng lỗi vi phạm nội quy, học tập để HS cố gắng tu dưỡng, rèn luyện,
tôi luôn luôn nhắc nhở, động viên kịp thời các em, có mặt bên cạnh học sinh lớp
mình trong các hoạt động do Đoàn trường tổ chức như: thi đố vui, diễn tiểu phẩm
về ATGT trong các giờ chào cờ đầu tuần, triển khai và phát động học sinh hưởng
ứng Tháng ATGT- tháng 9/2016, nhắc nhở 100% học sinh lớp mình tham gia bài
Luật giao thông. Các em kiểm tra và ghi nhận các trường hợp học sinh vi phạm nội
quy, vi phạm các điều cấm, báo cáo lại cho cán bộ Đoàn trực hằng ngày, Cán bộ
Đoàn tổng hợp và thông báo lên hệ thống loa truyền thanh ngay trong giờ ra chơi
để học sinh toàn trường rút kinh nghiệm.
Nhận thấy Đội Thanh niên xung kích là bộ phận rất quan trọng trong việc
theo dõi việc chấp hành nội quy, nề nếp và luật ATGT của học sinh toàn trường nói
chung, tôi đưa cho các em danh sách học sinh lớp tôi sử dụng xe đạp điện và xe
gắn máy đến trường, đề nghị các em theo dõi tình hình chấp hành luật GTĐB của
các học sinh đó, có đội mũ bảo hiểm hay không, có chở quá số người quy định
không? Chạy xe lạng lách đánh võng hay không? .... Hằng ngày, tôi gặp gỡ, trao
đổi với các em trong Đội Thanh niên xung kích để nắm bắt kịp thời các trường hợp
học sinh lớp mình chủ nhiệm vi phạm (nếu có), nhắc nhở ngay, liên hệ với phụ
huynh học sinh để chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, hoặc có biện pháp mạnh để xử lý
các trường hợp cố tình làm sai. Thật may mắn, trong năm học 2016 – 2017, lớp tôi
không có trường hợp vi phạm ATGT hay bất kỳ lỗi cấm nào đối với học sinh.
*Phối hợp với phụ huynh học sinh trong công tác giáo dục ATGT cho HS:
Ai trong chúng ta cũng có thể nhìn thấy tầm quan trọng của mối quan hệ mật
thiết giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Nhưng điều đáng buồn là sự gắn kết, phối
hợp ấy đến nay vẫn chưa mang lại hiệu quả cao. Vì thế, vai trò của giáo viên chủ
nhiệm là vô cùng quan trọng trong việc gắn kết mối quan hệ thiết yếu trên, GVCN
không chỉ giáo dục học sinh tại lớp, mà còn phải thiết lập mối quan hệ với gia
đình, xã hội nhằm giúp từng học sinh giải quyết những khó khăn, vướng mắc cụ
thể, tạo điều kiện thuận lợi để các em thoải mái cắp sách đến trường.
Phụ huynh lớp tôi chủ nhiệm chiếm đến 87,5% là người dân tộc thiểu số, đa
số là nông dân, trình độ học vấn còn thấp, có phụ huynh còn không biết đọc, biết
viết, hiểu biết của phụ huynh về Luật giao thông đường bộ còn rất hạn chế, nhiều
phụ huynh khi đến trường còn không đội mũ bảo hiểm. Điều này ảnh hưởng không
nhỏ đến công tác giáo dục an toàn giao thông cho học sinh của lớp, vì phụ huynh
sẽ vô tình tiếp tay cho con em mình vi phạm luật giao thông mà không nhận thức
rõ. Một số phụ huynh còn nuông chiều con, cho con đi xe phân khối lớn trong khi
nhắc nhở, giáo dục con em ở nhà, tránh trốn học la cà các quán cà phê, quán
Internet, ảnh hưởng tới kết quả học tập. Nội dung bản cam kết (xem phụ lục 3).
=>Kết quả: 100% học sinh và phụ huynh học sinh tham gia ký cam kết thực
hiện và đến cuối năm, không có trường hợp nào vi phạm các nội dung cam kết nói
trên.
*Phối kết hợp với công an địa phương để theo dõi, nhắc nhở học sinh kịp thời,
giảm thiểu tình trạng vi phạm Luật giao thông đường bộ: Đầu mỗi năm học,
BGH nhà trường thường tổ chức hội nghị giao ban, ký kết Quy chế phối hợp giữa
nhà trường với công an Huyện Trảng Bom, công an xã Bàu Hàm, xã Sông Thao và
xã Hưng Thịnh... Thông qua Quy chế phối hợp này, công an sẽ tích cực tuần tra,
kiểm soát, ghi nhận và lập biên bản gửi về trường nếu có học sinh vi phạm tai tệ
nạn xã hội, vi phạm an ninh trật tự, vi phạm an toàn giao thông...; sẵn sàng cử các
thành viên đến giúp đỡ nhà trường trong các dịp tổ chức sự kiện các ngày lễ lớn
như ngày Khai giảng năm học mới, 20/11, 26/03,... để đảm bảo an ninh trật tự, an
toàn xã hội, tránh những điều đáng tiếc xảy ra.
Tôi chính là thư ký hội đồng nên cũng là thư ký của hội nghị, tôi đã ghi nhận
số điện thoại đường dây nóng của Ban thường trực Công an Huyện Trảng Bom,
Ban thường trực Công an Xã Bàu Hàm, Sông Thao, Hưng Thịnh và các xã lân cận,
sau đó, lập văn bản gồm những nội dung cơ bản của quy chế phối hợp, kèm theo số
điện thoại các cơ qua công an, gửi về các lớp để các em học sinh tiện liên hệ, tố
giác tội phạm, tố giác các hành vi vi phạm Luật giao thông... và mục đích thứ 2 là
để các em nắm bắt, tự giác chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, tránh
bị Công an xử phạt, gửi biên bản về trường, ảnh hưởng đến hạnh kiểm của các em.
Hằng tháng, tôi chủ động liên lạc với thường trực công an các xã trên cương
vị là Thư ký hội đồng trường để kịp thời nắm bắt tình hình vi phạm Luật ATGT của
học sinh, tổng hợp báo cáo cho BGH có biện pháp xử lý, giáo dục học sinh.
III.2.3.Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp:
Với giải pháp chủ động phối hợp với các bộ phận trong và ngoài nhà trường để
III.3.2.Các dữ liệu minh chứng quá trình thực nghiệm, đối chứng giải pháp:
Bản thân tôi là một giáo viên Địa lý, được phân công giảng dạy chuyên môn
tại 4 lớp 10A4, 10A5, 10A6 và 10A7. Nội dung bộ môn Địa lý cũng có nhiều phần
tích hợp các nội dung giáo dục Kỹ năng sống, giáo dục Biến đổi khí hậu, giáo dục
Bảo vệ môi trường, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả,... đặc biệt
trong chương trình Địa lý 10, học kỳ II, có bài 36: “Vai trò, đặc điểm, các nhân tố
ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải” và bài 37: “Địa
lý các ngành giao thông vận tải” có khả năng tích hợp giáo dục ATGT.
Tận dụng những thuận lợi nêu trên, tôi xác định mục tiêu tích hợp giáo dục
ATGT như sau:
*Trong bài 36 “Vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển
và phân bố ngành giao thông vận tải”:
- HS cần nhận thức được ngành GTVT đóng vai trò to lớn trong sự phát triển kinh
tế – văn hóa – xã hội của một quốc gia và toàn thế giới.
- Nắm bắt được “sản phẩm quan trọng nhất của ngành GTVT là chuyên chở người
và hàng hóa, chất lượng của sản phẩm dịch vụ GTVT được đo bằng tốc độ chuyên
chở, sự tiện nghi và sự an toàn cho hành khách và hàng hóa” [8, 138-139]. Chính
vì vậy, khi tham gia giao thông, HS cần lưu ý đảm bảo an toàn cho chính mình và
cho mọi người, khi lựa chọn phương tiện giao thông HS cần lựa chọn các phương
tiện có tốc độ, tiện nghi và mức an toàn cao.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành GTVT bao gồm 2 nhóm: nhân tố tự nhiên và
nhân tố kinh tế – xã hội, trong đó, “điều kiện thời tiết và khí hậu có ảnh hưởng sâu
sắc đến hoạt động của các phương tiện vận tải”[8, 138-139]. Do vậy:
+ Trong điều kiện thời tiết xấu, khi tham gia giao thông trên đường, HS cần cảnh
giác, giảm tốc độ, đi đúng làn đường, phần đường quy định, quan sát kỹ trước khi
chuyển hướng hay qua đường vì những lúc này, đường trơn, các lái xe khó phanh
kịp nếu các em chuyển hướng đột ngột, dễ gây ra tai nạn giao thông, ách tắc giao
thông.
khiển giao thông, “nhanh một giây, chậm cả đời” đó là câu khẩu ngữ mà các em
cần ghi nhớ để tham gia giao thông an toàn.
- Không chạy nhảy, không chơi đùa, không buôn bán, họp chợ ở khu vực hai
bên đường sắt, không xây dựng các mái nhà che khuất tầm nhìn của người lái tàu
gây mất an toàn giao thông đường sắt.
- Có ý thức tốt, tuyên truyền, nhắc nhở bạn bè, người thân, người đi đường
cùng nhau thực hiện các nguyên tắc để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông
đường sắt.
+ Đối với ngành ô tô:
Với sự bùng nổ trong việc sử dụng phương tiện ô tô đã gây ra các vấn đề nghiêm
trọng về môi trường, ách tắc giao thông và đặc biệt là tai nạn giao thông.
Trong phần này, ngoài việc cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về ưu, nhược
điểm, tình hình phát triển, phân bố ngành ô tô, tôi giáo dục các em học sinh, những
người hàng ngày tham gia giao thông đến trường bằng xe đạp, xe đạp điện, xe máy
và kể cả ngồi trên ô tô một số nguyên tắc chính như sau:
- Khi ngồi trên ô tô, tuyệt đối không thò đầu, thò tay ra ngoài cửa sổ, thắt
dây an toàn, không nô nghịch, đùa giỡn quá trớn trên xe, tránh bị rơi ra khỏi xe;
khi lên xuống xe phải quan sát kỹ, tránh gây ra tai nạn đáng tiếc.
- Đi xe đạp, xe máy trên đường không dàn hàng ngang, không lạng lách,
đánh võng, không chở quá số người quy định, đội mũ bảo hiểm đối với người ngồi
trên xe đạp điện, xe máy... đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông. Khi chuyển
hướng phải quan sát, có tín hiệu sớm cho người đi đường kịp thời xử lý, tránh gây
tai nạn đáng tiếc. Không đi ngược chiều, không vượt đèn đỏ, phải luôn nhớ rằng
tham gia giao thông thể hiện bản chất và trình độ văn hóa của con người.
- Đi bộ các em cần đi đúng phần đường, qua đường đúng nơi quy định.
- Không tổ chức đua xe trái phép. Không chơi đùa, đá bóng... dưới lòng lề
đường để không xảy ra các tình huống tai nạn giao thông đáng tiếc.
+ Đối với ngành đường sông và đường biển: Tôi lồng ghép giáo dục học sinh đảm
bảo an toàn khi tham gia giao thông đường thủy bằng việc chú ý mang áo phao khi
ngồi trên tàu thủy, đi thuyền.... Khi du lịch đến miền sông nước, cần lựa chọn
luật.
- Tính tới thời điểm này (cuối năm 2016 - 2017), không có học sinh nào vi
phạm các điều cấm của nhà trường, không có hiện tượng học sinh vi phạm Luật
giao thông, có thể nói học sinh trong lớp đã thực hiện Luật giao thông rất tốt, tỉ lệ
xếp loại hạnh kiểm khá, tốt chiếm 100%, trong đó, có 37/40 học sinh đạt hạnh
kiểm tốt chiếm 92,5%; 03/40 học sinh hạnh kiểm Khá chiếm 7,5%, không có học
sinh nào hạnh kiểm trung bình và yếu.
- Thông qua việc đổi mới các tiết sinh hoạt chủ nhiệm bằng hình thức tổ
chức trò chơi, cuộc thi quy mô nhỏ, tôi đã góp phần giáo dục kỹ năng sống cho các
em, khả năng diễn đạt trước đám đông của một bộ phận học sinh trước đây rất
nhút nhát, rụt rè khi phát biểu trong lớp, trong các buổi sinh hoạt tập thể nay tự tin
hơn, dạn dĩ hơn, đã dám phát biểu nhận xét một cách khá đầy đủ, lưu loát suy nghĩ
của mình khi được yêu cầu phát biểu ý kiến.
- Phụ huynh lớp tôi chủ nhiệm đã có mối liên hệ mật thiết với GVCN trong
giáo dục con em mình, đặc biệt là giáo dục an toàn giao thông, biết thay đổi thói
quen xấu, làm gương tốt cho con bằng việc đội mũ bảo hiểm khi đưa đón con đi
học, mang theo mũ bảo hiểm cho con, không còn hiện tượng đỗi mũ bảo hiểm chỉ
để đối phó với công an như trước.
- 100% học sinh tham gia các hoạt động tập thể, các bài dự thi tìm hiểu kiến
thức về Luật giao thông đường bộ, về văn hóa khi tham gia giao thông.
- 100% học sinh và phụ huynh ký cam kết thực hiện Luật giao thông và
không vi phạm các điều cấm do BGH nhà trường quy định.
- Để đánh giá thực tế hiệu quả của đề tài, tôi tổ chức khảo sát trên 40 học sinh
+ Đầu năm học (khi chưa áp dụng giải pháp): Khi được hỏi: “Em đã tằng
vi phạm lỗi nào sau đây?”. Tôi nhận được kết quả:
STT
Lỗi vi phạm
4
Không đội mũ bảo hiểm
20
50%
5
Vượt đèn đỏ
25
62,5%
- Cuối năm học (sau khi áp dụng giải pháp): Khi được hỏi, “nếu không có công
an, Đội thanh niên xung kích theo dõi, em sẵn sàng vi phạm lỗi nào sau đây?” Tôi
đã nhận được kết quả như sau:
Kết quả (n=40)
STT
Lỗi vi phạm
Số lượng HS sẵn sàng
vi phạm
Tỷ lệ
1
5
Vượt đèn đỏ
3
7,5%
Từ kết quả khảo sát chúng ta thấy đã có chuyển biến rõ rệt rất đáng ghi nhận
trong ý thức cũng như việc thực hiện Luật giao thông của các em học sinh.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
V.1. Đối với Sở GDĐT:
- Có kế hoạch thường kỳ chỉ đạo công tác GDKNS, đặc biệt quan tâm đến
công tác giáo dục an toàn giao thông cho học sinh các cấp; Tổ chức giám sát, kiểm
tra, đánh giá kết quả thực hiện giáo dục an toàn giao thông tại các cơ sở giáo dục;
- Chỉ đạo điểm một số mô hình về công tác GDKNS, giáo dục ATGT cho
học sinh, rút kinh nghiệm và phổ biến cho các trường khác học tập.
V.2. Đối với trường THCS & THPT Bàu Hàm.
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL, GV, NV và HS về tầm quan trọng
của giáo dục ATGT, hoạt động GDATGT trong nhà trường;
- Thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, theo dõi, nhắc nhở đối với công tác
giáo dục ATGT cho học sinh;
- Xây dựng kênh thông tin điện tử, tăng cường mối liên lạc giữa nhà trường
với PHHS và các tổ chức đòan thể trong và ngoài trường học để quản lý tốt và phối
hợp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trong nhà trường.
2. Khuyến nghị khả năng áp dụng
GDATGT không những giúp cho các em có được những kiến thức về Luật
VII.1. Phụ lục 1:
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN
(Dành cho Giáo viên trường THCS&THPT Bàu Hàm)
Nhằm đánh giá thực trạng giáo dục an toàn giao thông (GDATGT) cho học sinh tại
trường THCS&THPT Bàu Hàm; để từ đó đề xuất một số biện pháp GDATGT cho học
sinh , xin thầy (cô) vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (x) vào
những ý thầy (cô) lựa chọn.
1. Theo thầy (cô), có cần thiết phải GDATGT cho học sinh không?
A. Rất cần thiết.
B. Chưa cần thiết.
C. Không cần thiết.
2. GD ATGT cho học sinh trong trường là trách nhiệm của:
A. Giáo viên chủ nhiệm.
B. Giáo viên bộ môn.
C. Cán bộ Đoàn Đội.
D. Hội đồng sư phạm.
3. Theo thầy (cô), có thể thực hiện GDATGT cho học sinh thông qua hình thức nào?
A. Tích hợp qua các giờ dạy trên lớp.
B. Thông qua HĐNGLL.
C.
Vừa tích hợp thông qua giờ dạy trên lớp vừa thông qua HĐNGLL.
4. Khi GDATGT cho học sinh, thầy (cô) gặp phải những khó khăn gì?
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................