BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
------------------------------------------------
LÊ MINH NHẤT
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO
TẠI HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
------------------------------------------------
LÊ MINH NHẤT
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO
TẠI HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ NGỌC UYỂN
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2008
4. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................
3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài..................................................
4
6. Kết cấu của luận văn.................................................................................
4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT..............................................................
5
1.1 Khái niệm nghèo đói...............................................................................
5
1.2 Các phương pháp xác định nghèo đói....................................................
7
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo............................... 12
Chương 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU..................................................... 21
2.1 Giới thiệu vùng nghiên cứu và mẫu nghiên cứu..................................... 21
2.2.1 Tổng quan về Tỉnh Quảng Trị................................................... 21
2.2.2 Các đặc điểm chính của Huyện Cam Lộ................................... 24
2.2 Mẫu nghiên cứu...................................................................................... 28
51
4.1.1 Quy mô hộ, số lao động và vấn đề giới tính.............................
51
4.1.2 Đất đai.......................................................................................
52
4.1.3 Vấn đề tiếp cận thông tin tín dụng và vay vốn.........................
53
4.1.4 Dịch vụ hỗ trợ...........................................................................
54
4.1.5 Việc làm....................................................................................
54
4.1.6 Giáo dục....................................................................................
56
4.2 Nâng cao hiệu quả các chương trình XĐGN ở huyện Cam Lộ, tỉnh
Quảng Trị...................................................................................................... 56
4.3 Một số giới hạn của đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo............
ÐTMSDC
Điều tra Mức sống Dân cư của Việt Nam
ÐTMSHGÐ
Điều tra Mức sống Hộ gia đình của Việt Nam
KTXH
Kinh tế - Xã hội.
NHCSXH
Ngân hàng Chính sách Xã hội
NHNN&PTNT
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
NGOs
Các tổ chức phi chính phủ
PPA
Đánh giá đói nghèo có sự tham gia của người dân
(Participatory Poverty Assessment)
VLHSS
Xóa đói giảm nghèo
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1
Phân bổ giá trị sản xuất theo lĩnh vực kinh tế của Cam Lộ
2003-2007..................................................................................
26
Bảng 2.2
Cơ cấu nông nghiệp của Huyện Cam Lộ giai đoạn 2003-2007.
26
Bảng 2.3
Một số chỉ số về điều kiện sống của Cam Lộ năm 2007...........
27
Bảng 2.4
Lựa chọn cỡ mẫu.......................................................................
41
Bảng 3.2
Tỷ lệ hộ lựa chọn nguồn tín dụng chính thức hoặc phi chính
thức............................................................................................
42
Bảng 3.3
Thống kê hộ đã vay vốn từ các nguồn tài chính........................
42
Bảng 3.4
Quy mô của hộ nghèo được điều tra.........................................
44
Bảng 3.5
Các nguồn thu nhập của hộ (năm 2007)....................................
45
Bảng 3.6
Nhu cầu vay vốn phân loại theo mục đích................................
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Để có thể giải quyết được vấn đề nghiên cứu nêu trên, đề tài cần đi tìm lời giải
cho những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Tổng quan về hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo?
- Các chính sách nào cần được thực hiện để nâng cao thu nhập cho hộ nghèo
và đáp ứng nhu cầu tín dụng của họ?
Trả lời những câu hỏi trên, đề tài chú trọng vào những mục tiêu nghiên cứu như
sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn việc xóa đói giảm nghèo;
- Xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo. Đánh giá thực
trạng tiếp cận tín dụng và phân tích tác động của tín dụng đối với việc nâng
cao thu nhập của các hộ nghèo;
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của các hộ
nghèo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Đây là huyện có điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tiêu biểu cho các vùng nghèo của tỉnh. Công tác xoá
đói giảm nghèo được triển khai trên địa bàn huyện đã nhiều năm và có nhiều
chương trình triển khai cùng lúc hoặc đan xen nhau qua các thời kỳ.
Thời gian: tập trung phân tích vào giai đoạn 2007 đến tháng 06/2008 và đề xuất
các giải pháp từ đây cho đến năm 2010.
Đối tượng nghiên cứu là 352 hộ nghèo thuộc xã Cam Thuỷ, xã Cam Nghĩa và thị
4
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo là điều tra về XĐGN
đầu tiên trên địa bàn nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích.
Đây sẽ là tư liệu tham khảo mới bổ sung cho các công trình nghiên cứu trước đó.
Mặt khác, đề tài cũng là tư liệu tham khảo cho các cấp quản lý tại địa phương
cũng như ban chỉ đạo XĐGN của tỉnh trong việc hoạch định chính sách nhằm
đẩy nhanh tốc độ XĐGN trên địa bàn Huyện.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, nội dung đề tài gồm 04 chương và phần kết luận. Các
chương cụ thể như sau:
Chương 1, “Cơ sở lý thuyết”, trình bày cơ sở lý thuyết về nghèo đói bao gồm
các khái niệm, phương pháp xác định nghèo đói và các nhận tố ảnh hưởng đến
thu nhập của hộ nghèo, các tiêu chí đo lường nghèo đói.
Chương 2, “Thiết kế nghiên cứu”, đề cập đến vùng nghiên cứu, thiết kế nghiên
cứu phù hợp với đặc điểm của vùng nghiên cứu và đề xuất mô hình kinh tế
lượng.
Chương 3, “Kết quả nghiên cứu”, trình bày kết quả kết quả phân tích thống kê
các nhân tố liên quan đến nghèo đói trên địa bàn huyện Cam Lộ. Ngoài ra
chương này còn trình bày kết quả của mô hình kinh tế lượng áp dụng cho địa bàn
nghiên cứu. Mô hình này xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến thu nhập của
hộ nghèo.
Chương 4, “Gợi ý chính sách”, trình bày các gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu
phập của hộ nghèo và đáp ứng nhu cầu tín dụng của họ. Ngoài ra chương này
cũng nêu ra những giới hạn, hạn chế của nghiên cứu và gợi ý phát triển một số
hướng nghiên cứu tiếp theo.
6
Cùng quan điểm này, Amartya Sen cũng chia sẻ rằng “đói nghèo phải được nhìn
nhận như là sự tước đoạt những khả năng cơ bản nhất hơn là chỉ bó hẹp ở khía
cạnh thu nhập thấp”. Ông cho rằng đói nghèo có thể ở cả các khả năng thiết yếu
bị tước đoạt về kinh tế, chính trị và xã hội. Hơn nữa, định nghĩa nhấn mạnh ở
trên cho chúng ta thấy có sự phân loại chủ yếu trong đó sự tồn tại của con người
nói chung cũng như giữa người giàu và người nghèo quan tâm đến việc làm cách
nào để tạo ra những cơ hội giữa họ. Nói cách khác, người giàu có nhiều cơ hội
để tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng nhiều hơn người nghèo.
Nghèo đói có hai dạng là nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối.
- Nghèo đói tuyệt đối: Theo David O.Dapice thuộc Viện phát triển
Harvard “Nghèo đói tuyệt đối là không có khả năng mua một lượng sản phẩm
tối thiểu để sống”
Nghèo đói tuyệt đối xảy ra khi mức thu nhập hay tiêu dùng của một người hay
hộ gia đình giảm xuống mức thấp hơn giới hạn nghèo đói. Giới hạn nghèo đói
được xác định hoặc căn cứ vào chi phí ước tính cho một khối kượng hàng hoá cơ
bản theo giá cả hợp lý hoặc căn cứ vào tiêu chuẩn dinh dưỡng. Ví dụ, lượng ca lo
và chất đạm cần thiết phải được cung cấp cho cơ thể.
Nói cụ thể, Ngân hàng thế giới phân loại đói nghèo tuyệt đối là “mức sống ít hơn
75 xu (cents) một ngày, và chú ý rằng 2/3 thế giới có chất lượng gần như nghèo
dựa theo tiêu chuẩn đồng đô la một ngày để phân loại với dạng đói nghèo tuyệt
đối”. Hiện nay, mặc dầu tỷ lệ đói nghèo đã giảm nhưng vẫn còn 1/5 dân số thế
giới có mức sống dưới ngưỡng 1 đô la/ngày.
- Nghèo đói tương đối: nghèo đói tương đối được xét trong tương quan xã
hội, phụ thuộc vào địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến ở
nơi đó. Nghèo đói tương đối được hiểu là những người sống dưới mức tiêu
chuẩn có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định. Nghèo
có mức chi tiêu dưới chuẩn nghèo. Hạn chế của phương pháp này là điều tra chi
tiêu hộ rất tốn kém, nên mẫu thường nhỏ và ước tính nghèo đói thường có sai số.
Trong ĐTMSDC 1993 và 1998, không thể tính được tỷ lệ nghèo đáng tin cậy ở
cấp tỉnh trở xuống. ĐTMSHGĐ 2002 cho phép ta tính được tỷ lệ nghèo tin cậy
cho cấp vùng và có thể cho cấp tỉnh nhưng phương pháp chi tiêu của hộ không
thể dùng được ở cấp huyện, chưa nói đến cấp xã hay hộ.
Phương pháp 2 - Vẽ bản đồ nghèo: Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn
sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số. Những cuộc điều
tra hộ như ĐTMSHGĐ sẽ thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu của hộ, mà
còn cả về một loạt biến khác như quy mô và thành phần của hộ, trình độ học vấn
của các thành viên trong hộ, nghề nghiệp và tài sản của họ… Còn tổng điều tra
dân số không hỏi về chi tiêu, nhưng lại bao gồm những thông tin về nhiều biến
số kể trên. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là gắn hai công cụ thống kê này thông
qua 03 bước chính. Bước thứ nhất là xác định một loạt các biến số chung giữa
cuộc điều tra hộ chi tiết và cuộc tổng điều tra dân số cùng thời kỳ. Thứ hai, tiến
hành phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi tiêu bình quân
đầu người với những biến số này. Bước thứ ba là sử dụng những kết quả từ phân
tích này để dự báo chi tiêu của những hộ có trong tổng điều tra dân số. Mức chi
tiêu dự báo này sẽ được dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo không. Về mặt
này, vẽ bản đồ nghèo vẫn là một phần trong phương pháp dựa vào chi tiêu,
nhưng nó dựa vào mức chi tiêu dự báo, chứ không phải chi tiêu thực tế của hộ.
Phương pháp vẽ bản đồ nghèo cho phép tính được tỷ lệ nghèo ở các cấp thấp,
được đo bằng tỷ lệ hộ nghèo trong tổng điều tra dân số của mỗi tỉnh, huyện,
thậm chí cả xã. Nhưng phương pháp này cũng không phải thực sự là hoàn hảo
bởi lẽ chi tiêu “dự báo” chỉ có thể ước tính với sai số.
Phương pháp 3 - dựa vào thu nhập: Việc áp dụng nghiêm ngặt phương pháp
tính theo thu nhập do Bộ LĐTBXH đưa ra để đo mức nghèo có thể được xếp vào
10
gồm cả việc xác định đối tượng hộ nghèo để phân bổ những khoản trợ giúp được
cấp. Mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo và hộ đói, hộ đói là một phần
trong số hộ nghèo. Danh sách này được cập nhật một hoặc hai lần trong một
năm, khi mà những lợi ích như miễn học phí và thẻ khám chữa bệnh được cung
cấp. Nhược điểm tiềm tàng của phương pháp phân loại của địa phương này là
thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác định hộ nghèo. Một nhược điểm nữa là nó
hoàn toàn loại bỏ một số hộ ra khỏi việc xem xét phân loại, như hộ được coi là
không chăm chỉ lao động hoặc không có trách nhiệm xã hội. Trên thực tế, việc
không trợ cấp cho những hộ này có thể gây thiệt thòi cho con cái của họ, là
những người không có lỗi chỉ vì cha mẹ của chúng nghiện rượu hay không chịu
lao động. Ở Quảng Trị, các cán bộ thôn giải thích rằng họ không cấp sổ hộ
nghèo cho những hộ đang mắc nợ. Những người di cư không có hộ khẩu cũng
không được hưởng trợ giúp và không tham gia vào các cuộc họp thôn.
Phương pháp 5 - Phương pháp tự đánh giá: các hộ được yêu cầu tự đánh giá
về hiện trạng nghèo của mình. Không có hướng dẫn gì về những tiêu chí để làm
cơ sở đánh giá, do đó cách làm này hoàn toàn mang tính chủ quan. Mặc dù người
được hỏi chính là người biết rõ thu nhập, chi tiêu hay nguy cơ tổn thương của
mình hơn ai hết nhưng câu trả lời của họ ít khi dính dáng đến chuẩn nghèo hay
ngưỡng nghèo chung. Trong số tất cả những phương pháp được xem xét, đây là
phương pháp xác định rõ nhất địa vị tương đối của hộ trong xã. Trong hai hộ
giống nhau thì hộ ở xã giàu sẽ có khuynh hướng tự kê khai mình là hộ nghèo
hơn là hộ ở xã nghèo. Một nhược điểm của phương pháp này là không thể tạo ra
được những tỷ lệ nghèo có thể so sánh được giữa các xã, các huyện, các tỉnh.
Một bất cập nghiêm trọng hơn là nó dễ bị người trả lời làm cho sai lệch. Do đó,
tự đánh giá là một phương pháp nghiên cứu có ích nhưng không phải là một cơ
chế tốt để đo nghèo hoặc xác định đối tượng nghèo.
12
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo
1.3.1 KHUNG PHÂN TÍCH
Trong khung phân tích, chúng ta xem xét giả thuyết các yếu tố quyết định
thu nhập của hộ. Thu nhập của hộ được quyết định bởi các yếu tố cấp độ hộ gia
đình như tích luỹ tài sản - PC (VD: vật nuôi và công cụ sản xuất), vốn con người
- HC (kiến thức và năng lực của con người: giáo dục, kinh nghiệm và huấn
luyện). Và các yếu tố khác như: vốn xã hội - SC (mối quan hệ xã hội như tham
gia vào các tổ chức hoặc hội); vốn tài chính - FC (tiếp cận tài sản lưu động, bao
gồm cả vốn vay và tiết kiệm) và vốn tự nhiên - NC (tài sản được tích luỹ từ
nguồn lực tự nhiên, bao gồm cả chất lượng và số lượng đất đai, cây trồng và tiếp
cận các nguồn lực khác). Lựa chọn nguồn lực tạo thu nhập sau đây được gọi là
chiến lược tạo thu nhập (IS), tất nhiên xác định cả thu nhập và tài sản.
Lựa chọn các nguồn chính tạo thu nhập được xác định bởi nhiều nhân tố ở
cấp độ vùng, đó là: tiềm năng nông nghiệp, tiếp cận thị trường và mật độ dân số
(Pender, Scherr và Duron 2001; Pender, Place và Ehui 1999). Những yếu tố ở
cấp độ lớn hơn được xác định bằng cách so sánh thuận lợi của một vùng thông
qua xác định chi phí và rủi ro trong sản xuất các loại hàng hoá khác nhau, chi phí
và ràng buộc thị trường, hàng hoá địa phương và yếu tố giá, các cơ hội và các
hoạt động thay thế khác. Ví dụ, việc làm nông nghiệp với phi nông nghiệp v.v..
Những yếu tố đó có thể cho ta tổng quát về cấp độ vùng tác động đến chiến lược
tạo thu nhập. Ví dụ như, thông qua sự tác động vào giá của hàng hóa hoặc yếu tố
đầu vào; hoặc nó có thể tác động đến yếu tố cấp độ hộ như là quy mô trung bình
của hộ.
Chính sách của chính phủ, các chương trình, các tổ chức và các định chế
có thể ảnh hưởng đến chiến lược tạo thu nhập, đối với sản xuất, điều kiện nguồn
lực và thu nhập của hộ ở nhiều cấp độ khác nhau. Các chính sách, tổ chức, các
14
1.3.2 GIẢ THUYỂT NGHIÊN CỨU
Chúng ta sẽ thảo luận các mối liên hệ có thể của nhiều nhân tố chính sách có liên
quan ở các biến quyết định (thu nhập). Những nguyên nhân được xem xét bao
gồm tiềm năng nông nghiệp, tiếp cận với thị trường và giao thông, quy mô nông
trại, tiếp cận tín dụng, tham dự các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và các tổ chức,
vốn con người, tài sản hiện vật như gia súc và trang thiết bị.
Tiềm năng nông nghiệp
Tiềm năng nông nghiệp là tập hợp của các nhân tố như khí hậu, sinh học,
đặc tính lý hoá của đất, địa hình, độ cao, nhiệt độ, sự đa dạng sinh học. Khi đó,
đối với người dân phụ thuộc vào nông nghiệp, tiềm năng nông nghiệp thường
làm tăng thu nhập của họ nếu các yếu tố khác không đổi. Tiềm năng nông nghiệp
cũng thường chỉ ra loại chiến lược tạo thu nhập có thể hỗ trợ tiềm năng này.
Chẳng hạn như, sẽ không khả thi nếu trồng cây lâu năm ở trên những vùng đất
khô cằn.
Tiếp cận thị trường
Tiếp cận thị trường được xác định bởi một danh mục “kết hợp thị trường tiềm
năng” dựa trên thời gian di chuyển ước tính đến năm chợ gần nhất, có tính trọng
số bằng quy mô dân số (Wood và các tác giả khác, 1999). Căn cứ vào các chi phí
giao dịch như lưu kho, vận chuyển, tiếp thị hàng hoá, tiếp cận thị trường quyết
định lợi thế so sánh của vùng, quyết định tiềm năng nông nghiệp. Ví dụ, tiềm
năng nông nghiệp của một xã ở vùng cao không có lợi thế hoàn toàn trong sản
xuất các loại rau khó bảo quản. Thậm chí nếu cây trồng giá trị cao có khả năng
tạo lợi nhuận, nhưng nông dân đối mặt với chi phí vận chuyển cao có lẽ nên
trồng các loại cây có giá trị thấp cho mục đích sinh kế hơn là cây trồng giá trị
cao (Omamo 1998).
Sản phẩm từ sữa và các hoạt động chăn nuôi gia súc như chăn nuôi lợn và
gia cầm thường được đặt gần đô thị để có được tính kinh tế nhờ quy mô, chi phí
16
nghiệp thường không thích tham gia vào các chương trình và tổ chức chuyên về
nông nghiệp và quản lý nguồn lực tự nhiên (NRM).
Các chương trình và các tổ chức
Các chương trình và tổ chức có thể làm gia tăng khả năng thực hiện của
kỹ thuật NRM. Tuy nhiên, tác động của việc tham gia các chương trình và tổ
chức còn phụ thuộc vào mục tiêu của nó. Các chương trình tập trung vào nông
nghiệp và NRM có thể giúp tăng sản lượng nông nghiệp và thường làm tăng thu
nhập và tài sản. Tuy nhiên, thu nhập có thể bị tác động tiêu cực (ít nhất là trong
ngắn hạn) bởi các chương trình tập trung vào một số hoạt động nông nghiệp nếu
những hoạt động đó không làm gia tăng sản lượng đáng kể trong thời gian ngắn,
bởi vì chi phí cơ hội của lao động. Mục tiêu của chương trình có thể ảnh hưởng
đến lựa chọn chiến lược tạo thu nhập nếu nông dân dễ dàng theo đuổi các chiến
lược được hỗ trợ.
Tín dụng
Tiếp cận được tín dụng giúp nông dân mua sắm đầu vào hoặc có được tài
sản vật chất do đó góp phần nâng cao thu nhập. Tín dụng cũng có thể gia tăng
sản xuất và sự tiếp thị cho cây trồng giá trị cao hoặc sự tăng trưởng của sản
phẩm chăn nuôi và giảm sự tồn tại của cây lương thực. Nó cũng có thể giúp hộ
đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp. Vì thế, tác động của tín dụng lên thu
nhập và tài sản có xu hướng tích cực, đem đến lợi nhuận cho hộ gia đình. Tác
động của tín dụng đến sự tham gia vào các chương trình và tổ chức là không rõ
ràng. Ví dụ, khoản tín dụng để khởi đầu kinh doanh phi nông nghiệp có thể dẫn
đến sự ngừng đầu tư vào nông nghiệp, và nó không liên quan đến việc tham gia
vào các chương trình và tổ chức vì mục đích nông nghiệp và NRM. Mặt khác,
tín dụng có thể giúp nông dân mua các kỹ thuật được phát triển bởi các chương
trình và tổ chức nông nghiệp và NRM.
18
nước. Phụ nữ thường chọn trồng các cây lương thực. Tham gia vào các chương
trình và tổ chức thường khó khăn hơn đối với phụ nữ bởi họ hay ngại giao tiếp
với người lạ như là nhân viên của các dự án.
Hộp 1.1: Khả năng tiếp cận nguồn lực của phụ nữ
Tiếp cận đất đai
Báo cáo “Xóa bỏ khoảng cách Thiên niên kỷ” năm 2003 của Liên hợp
quốc tại Việt Nam cho biết, chỉ có 2,3% số hộ gia đình trong cả nước có
tên cả vợ và chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngay ở
vùng duyên hải Nam Trung Bộ được đánh giá là làm việc này tốt hơn các
vùng khác thì tỷ lệ cũng mới đạt 7%, còn hầu hết các vùng khác chỉ ở
mức 1 - 2%. Song hiện nay, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có gần
90% giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mới có cả tên vợ và
chồng, tạo thuận lợi cho phụ nữ trong việc vay vốn để đầu tư sản xuất,
kinh doanh cũng như bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong trường
hợp ly hôn, phân chia tài sản.
Tiếp cận tín dụng
Việc tiếp cận tín dụng của phụ nữ đang dần được cải thiện. Báo cáo “Xóa
bỏ khoảng cách Thiên niên kỷ” năm 2003 của Liên hợp quốc tại Việt
Nam cho biết, nam giới vẫn chiếm gần 2/3 số người đứng ra vay vốn.
Năm 2006 điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê cho thấy có
53,9% hộ nghèo được vay vốn từ các nguồn khác nhau, trong đó số chủ
hộ là nữ chiếm 46%.
Nguồn: Trương Thị Thuý Hằng (2008), “Ðể tiếp cận nguồn lực phát
triển: Phá bỏ rào cản”, Báo Đại Đoàn Kết, ngày 22/10/2008.
Tuổi của chủ hộ được kỳ vọng tác động tích cực lên thu nhập và tài sản.
năng hơn trong việc mua sắm đầu vào hoặc đầu tư. Tác động của tài sản của hộ
lên lựa chọn nguồn chính tạo thu nhập một cách định tính giống như tác động