Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên năm 2016 - Pdf 47

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TĂNG THỊ MAI HƯƠNG

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN -TỈNH THÁI NGUYÊN
NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2017


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TĂNG THỊ MAI HƯƠNG

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN -TỈNH THÁI NGUYÊN
NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Thời gian thực hiện: Từ 5/2017 đến 9/2017
HÀ NỘI 2017


1.1.Tổng quan về danh mục thuốc bệnh viện ................................................... 3
1.1.1. Xây dựng và thực hiện danh mục thuốc bệnh viện.............................. 3
1.1.2. Phương pháp phân tích danh mục thuốc .............................................. 4
1.2. Thực trạng sử dụng thuốc tại BV ở nước ta trong giai đoạn hiện nay ............... 7
1.2.1. Giá trị tiền thuốc sử dụng ..................................................................... 7
1.2.2. Về nguồn gốc xuất xứ .......................................................................... 9
1.2.3. Về thuốc mang tên gốc và thuốc mang tên biệt dược ........................ 10
1.2.4. Về cơ cấu nhóm điều trị ..................................................................... 12
1.2.5. Về cơ cấu thuốc theo đường dùng ..................................................... 13
1.2.6. Về thuốc đơn thành phần, đa thành phần ........................................... 14
1.2.7. Phân tích ABC, VEN tại một số bệnh viện ở Việt Nam .................... 14
1.3. Vài nét về Trung tâm Y tế Thành phố Thái Nguyên ............................... 16
1.3.1. Cơ cấu tổ chức và nhân lực ................................................................ 16
1.3.2. Mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc ở trung tâm................. 17
1.3.3. Vài nét về khoa dược ......................................................................... 19
1.3.4. Vài nét về tình hình sử dụng thuốc ở trung tâm ................................ 21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 22
2.1. Đối tượng, thời gian, phạm vi, địa điểm nghiên cứu ............................... 22
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 22


2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................... 22
2.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 22
2.2.1. Các biến số nghiên cứu ...................................................................... 22
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu............................................................................ 26
2.2.3. Nội dung nghiên cứu .......................................................................... 26
2.2.4. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu............................................... 28
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................. 29
2.2.5.1. Phân tích ABC ................................................................................ 29
2.2.5.2. Phân tích VEN ................................................................................ 30

2. Về phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Thái
Nguyên năm 2016 theo phương pháp phân tích ABC và VEN ...................... 63
KIẾN NGHỊ .................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Mô hình bệnh tật năm 2016 của TTYT thành phố Thái Nguyên ... 18
Bảng 2.2. Nhóm biến số mô tả cơ cấu về số lượng và giá trị của danh mục
thuốc sử dụng .................................................................................................. 22
Bảng 2.3. Nhóm biến số phân tích ABC, VEN, ma trận ABC/VEN .............. 25
Bảng 2.4. Danh sách các nguồn thu thập số liệu ............................................ 29
Bảng 2.5. Cơ cấu giá trị của thuốc sử dụng theo ma trận ABC/VEN ............ 31
Bảng 3.6. Kinh phí thuốc sử dụng................................................................... 32
Bảng 3.7. Cơ cấu nhóm dược lý và GTSD của các nhóm thuốc năm 2016.... 33
Bảng 3.8. Cơ cấu tiêu thụ thuốc tại trung tâm theo nguồn gốc, xuất xứ .............. 35
Bảng 3.9. Cơ cấu thuốc nhập khẩu ................................................................. 36
Bảng 3.10. Danh mục các thuốc nhập khẩu có khả năng thay thế bằng thuốc
sản xuất trong nước ......................................................................................... 37
Bảng 3.11. Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần trong DMT . 38
Bảng 3.12. Tỷ lệ thuốc biệt dược gốc và thuốc generic trong DMT trung tâm
năm 2016 ......................................................................................................... 39
Bảng 3.13. Cơ cấu thuốc generic .................................................................... 40
Bảng 3.14. Tỷ lệ thuốc uống và thuốc tiêm trong DMT năm 2016 ................ 41
Bảng 3.15. Cơ cấu thuốc theo quy định quản lý đặc biệt ............................... 43
Bảng 3.16. Cơ cấu thuốc theo phân hạng ABC .............................................. 44
Bảng 3.17. Cơ cấu thuốc sử dụng theo phân tích VEN năm 2016 ................. 45
Bảng 3.18. Phân tích ma trận ABC/VEN........................................................ 46
Bảng 3.19. Cơ cấu tiểu nhóm AV theo tác dụng dược lý ............................... 48


Bệnh nhân

BHYT

Bảo hiểm y tế

DSTH

Dược sĩ trung học

DSĐH

Dược sĩ đại học

DMT

Danh mục thuốc

DMTBV

Danh mục thuốc bệnh viện

GĐBV

Giám đốc Bệnh viện



Hội đồng


YHCT

Y học cổ truyền

WHO

Tổ chức Y tế thế giới


ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, bất hợp lý nói chung và trong bệnh viện
nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Theo một số nghiên
cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30 – 40% ngân sách ngành Y tế của
nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý
và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả. Các nghiên cứu đã cho thấy
tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới. Tại các
nước đang phát triển, 30% – 60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh gấp 2
lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nửa số ca viêm đường hô hấp điều
trị kháng sinh không hợp lý.
Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá Danh mục thuốc sử dụng tại
Bệnh viện là rất cần thiết đối với một sơ sở khám chữa bệnh.
Để đáp ứng nhu cầu trên, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/2013/TT–
BYT ngày 08/08/2013 quy định về tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc và
điều trị trong Bệnh viện góp phần đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, thông tư
cũng đưa ra các phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc trong đó điển hình
là phương pháp phân tích ABC – VEN.
Trung tâm Y tế thành phố Thái Nguyên là đơn vị Y tế hạng III, thực
hiện 02 chức năng: phòng chống dịch bệnh, triển khai các chương trình Y tế
Quốc gia và khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên

– Loại bỏ được các thuốc không an toàn và không hiệu quả do đó có
thể giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong
– Giảm được số lượng thuốc mua sắm do đó giảm được số tiền chi tiêu
cho thuốc, hoặc cùng số tiền ấy mà mua sắm được những thuốc tốt hơn, an
toàn và hiệu quả hơn.
– Có thể giảm số ngày nằm viện
– Giúp cung cấp thông tin tập trung và có trọng tâm [35, 38].
Trong chu trình cung ứng thuốc bệnh viện, Hội đồng thuốc và điều trị
đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối toàn bộ quá trình cung ứng
thuốc. Trong đó, lựa chọn xây dựng danh mục thuốc là hoạt động đầu tiên
giúp tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hợp lý trong bệnh viện [1, 38]. Hội
đồng thuốc và điều trị phải thống nhất được tiêu chí các thuốc đưa vào danh
mục căn cứ vào tiêu chí sẵn có của WHO, chính sách thuốc quốc gia, các văn
bản hướng dẫn của Bộ Y tế…Trên cơ sở các tiêu chí đã được thống nhất, mỗi
bệnh viện tùy theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, mô hình bệnh tật, chi phí
về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện, các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị
3


đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện, văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế...
để xây dựng danh mục thuốc phù hợp theo nguyên tắc:
– Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều
trị trong bệnh viện;
– Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;
– Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và
áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
– Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
– Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
– Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do
Bộ Y tế ban hành;

– Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần.
– Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm; bắt
đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách.
– Phân hạng sản phẩm như sau:
+ Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 – 80 % tổng giá trị tiền;
+ Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20 % tổng giá trị tiền;
+ Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 – 10 % tổng giá trị tiền.
– Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm,
hạng B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 – 80% [8].
b) Phương pháp phân tích nhóm điều trị
Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc
giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí
nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi
ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. Phương pháp này cũng giúp hội
đồng thuốc và điều trị xác định những thuốc bị lạm dụng và lựa chọn những
thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị.
Các bước tiến hành phân tích nhóm điều trị:
– Thiết lập danh mục thuốc bao gồm cả số lượng và giá trị:
5


+ Liệt kê các sản phẩm thuốc.
+ Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc: Đơn giá của sản phẩm
(sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá thay đổi theo
thời gian); Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện.
+ Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng
sản phẩm. Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc.
+ Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của
mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền.
– Sắp xếp nhóm điều trị cho từng thuốc theo Danh mục thuốc thiết yếu

phú cả về chủng loại và số lượng. Công nghiệp dược trong nước có sự phát
triển đáng kể, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu thuốc sử dụng [15]. Vì vậy cung
ứng thuốc trong bệnh viện vừa có thêm nhiều thuận lợi vừa phải đối mặt với
những thách thức mới. Sự phong phú của thị trường dược phẩm giúp các bệnh
viện có cơ hội tiếp cận với những thuốc an toàn, chất lượng, có hiệu quả và
kinh tế. Đồng thời sự đa dạng này cũng gây nên những lúng túng và cả tiêu
cực trong các hoạt động lựa chọn thuốc không chỉ với các bệnh viện mà ngay cả
trong cộng đồng [1].
Nhằm thực hiện tốt mục tiêu đảm bảo đủ thuốc cho nhân dân có chất
lượng với giá hợp lý và đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, Bộ Y tế đã
ban hành một số văn bản quy chế giúp các bệnh viện dễ dàng hơn trong công
tác lựa chọn xây dựng danh mục thuốc bệnh viện. Danh mục thuốc thiết yếu
tân dược lần thứ VI ban hành theo thông tư số 45/2013/TT–BYT ngày
26/12/2013. Danh mục đã chuyển từ phân loại theo 04 tuyến (bệnh viện trung
ương, bệnh viện thuộc tỉnh, thành phố, bệnh viện huyện, quận và trạm y tế xã)
sang danh mục phù hợp với xếp hạng bệnh viện và các thông tin về nồng độ,
hàm lượng, chỉ định sử dụng. Một thay đổi lớn so với các lần ban hành trước
là thay vì lồng ghép danh mục thuốc đông y và thuốc từ dược liệu vào phần
cuối của danh mục thuốc thiết yếu, Bộ Y tế đã tách ra và ban hành riêng danh
7


mục thuốc thiết yếu đông y và thuốc từ dược liệu lần VI tại thông tư
40/2013/TT–BYT. Sự thay đổi này cho thấy chủ trương nâng cao vị thế đẩy
mạnh việc sử dụng thuốc đông y và thuốc từ dược liệu [5,9,10]. Bộ Y tế cũng
ban hành danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y
tế kèm theo thông tư số 40/2014/TT–BYT và danh mục thuốc đông y, thuốc
từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán bảo hiểm y
tế theo thông tư số 05/2015/TT–BYT góp phần giúp các bệnh viện lựa chọn
danh mục thuốc phù hợp cho công tác khám chữa bệnh của đơn vị mình [14].

38,7% tăng nhẹ so với năm 2009 (38,2%). Trong đó, tỷ lệ giá trị thuốc sản
xuất trong nước tại các bệnh viện tuyến trung ương là thấp nhất. Năm 2010,
tổng trị giá tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam của 34 bệnh viện trung ương
là hơn 378 tỷ đồng (11,9%), ít hơn so với năm 2009 (12,3%). Tại các bệnh
viện tuyến tỉnh, tỷ lệ giá trị thuốc sản xuất trong nước cao hơn các bệnh viện
tuyến trung ương nhưng cũng chỉ đạt chưa đến 40%. Số liệu báo cáo ở 307
bệnh viện tuyến tỉnh/thành phố, tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất trong nước là
năm 2010 là 33,9%, tăng nhẹ so với năm 2009 (33,2%). Các bệnh viện tuyến
huyện có tỷ lệ thuốc nội trong danh mục cao hơn bệnh viện tuyến tỉnh và
tuyến trung ương. Số liệu thống kê tại 559 bệnh viện huyện năm 2010, tổng
trị giá tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam 2.900 tỷ đồng, chiếm 61.5%
so với tổng số tiền mua thuốc. Tỷ lệ này tăng hơn so với năm 2009 (60,4%)
[15]. Trong danh mục thuốc năm 2009 của bệnh viện E, thuốc nội chiếm
26,2% về số lượng và 25,5% về giá trị [21]. Tại bệnh viện Da liễu Trung
ương, thuốc nội trong danh mục thuốc năm 2009 cao hơn 46,8 % về số lượng
nhưng chỉ chiếm 17,1% về giá trị [26]. Nghiên cứu năm 2009 tại của Vũ Thị
Thu Hương tại một số bệnh viện đa khoa, tại các bệnh viện tuyến trung ương
thuốc nội chiếm từ 25,5 đến 36,8%, tại các bệnh viện tuyến tỉnh, số thuốc nội
cao nhất là 41,1% tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương và thấp nhất là
22,6% (bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng). Tại các bệnh viện tuyến huyện, tỷ
lệ số khoản mục và giá trị thuốc nội sử dụng cao hơn bệnh viện tuyến tỉnh và
9


trung ương, với số khoản mục từ 48,5% đến 55,5% và giá trị sử dụng từ
39,3% đến 53,2% [22]. Nghiên cứu năm 2012, tại bệnh viện Trung ương Huế,
các thuốc nhập khẩu từ các nước đang phát triển chiếm tỷ lệ cao nhất trong
danh mục 50,7%, thuốc biệt dược chiếm 90,04% [33]. Với bệnh viện trường
đại học Y Dược Huế năm 2010, số lượng thuốc nội chiếm 45% danh trong
danh mục trúng thầu nhưng thực tế sử dụng chỉ chiếm 37,9% và giá trị sử

32,6% đến 35,1%, tại bệnh viện C Đà Nẵng là 35,1%, tại bệnh viện E là
32,6%. Giá trị sử dụng nhóm thuốc này chiếm từ 21,1% đến 31,2%, tại bệnh
viện C Đà Nẵng là 31,2%, tại bệnh viện Chợ rẫy là 21,1%. Tại các bệnh viện
tuyến tỉnh, thuốc mang tên gốc chiếm tỷ lệ từ 22,4% đến 46%, tại bệnh viện
đa khoa Điện Biên chiếm 46%, tại bệnh viện Thanh Nhàn – Hà Nội chiếm
22,4%. Giá trị sử dụng nhóm thuốc này chiếm tỷ lệ từ 12,1% đến 38,1%, tại
bệnh viện đa khoa Điện Biên chiếm 38,1%, tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng
chiếm 12,1% [22]. Tại các bệnh viện tuyến huyện, số thuốc mang tên gốc
chiếm tỷ lệ cao nhất, nằm trong khoảng 35,5% (Bệnh viện Thủ Đức– Thành
phố Hồ Chí Minh) đến 47,8% (Bệnh viện huyện Simacai– Lào Cai). Tuy
nhiên, giá trị sử dụng thuốc mang tên gốc của tuyến bệnh viện này chỉ chiếm
tỷ lệ từ 17,8% đến 21,8%, thấp hơn tuyến trung ương và tuyến tỉnh [22].
Thông tư 21/2013/TT–BYT của Bộ Y tế quy định ưu tiên lựa chọn thuốc
genergic) hoặc thuốc mang tên chung quốc tế (INN), hạn chế sử dụng tên
biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể [8]. Thuốc generic có giá thành thấp
hơn thuốc mang tên biệt dược nên được khuyến khích sử dụng để giảm thiểu
chi phí điều trị. Thực tế cho thấy hiện nay các bệnh viện đang ưu tiên sử dụng
các nhóm thuốc generic, chỉ ngoại trừ một số hoạt chất chuyên khoa đặc trị
được nhập từ các nước phát triển. Theo một nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa
tỉnh Bình Dương năm 2015 chủ yếu là các thuốc generic chiếm tỷ lệ 95,7%
khoản mục thuốc và 88,9% tổng giá trị sử dụng [34]. Kết quả này khá tương
đồng với kết quả nghiên cứu tại một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa Bà
Rịa năm 2015, thuốc generic chiếm 82,1% về số lượng và 73,54% về giá trị
11


sử dụng [16]. Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Cạn năm 2014, tỷ lệ số lượng thuốc
Generic chiếm 92,8% và giá trị sử dụng chiếm 95,5% [19]. Tại bệnh viện đa
khoa huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa thuốc gốc chiếm 75,45% [25].
1.2.4. Về cơ cấu nhóm điều trị

nhau thì tác dụng của thuốc cũng khác nhau. Đường dùng được khuyến cáo
trong các trường hợp điều trị thông thường là đường uống nhưng trong một số
trường hợp cần thiết vẫn cần đường tiêm, tiêm truyền và các đường dùng
khác. Việc sản xuất thuốc tiêm cần có công nghệ cao, dây chuyền sản xuất
hiện đại, trang thiết bị phức tạp hơn so với các thuốc khác. Do đó, giá thành
chi phí cho thuốc tiêm cũng như việc sử dụng loại thuốc này thường cao hơn
các dạng thuốc khác rất nhiều lần [34]. Trong một nghiên cứu của Vũ Thị Thu
Hương năm 2009 tại một số bệnh viện đa khoa thì các khoản mục thuốc tiêm
truyền và giá trị tiêu thụ của thuốc tiêm truyền chiếm một tỷ lệ rất cao ở tất cả
các tuyến bệnh viện. Tại các bệnh viện tuyến trung ương, số khoản mục thuốc
tiêm chiếm tỷ lệ từ 62,6% đến 69,7%. Trong đó tại bệnh viện Đa khoa Trung
ương Thái Nguyên có 69,7%, Bệnh viện E (62,6%). Giá trị sử dụng nhóm
thuốc tiêm của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên chiếm 74,7%.
Tại các bệnh viện tuyến tỉnh giá trị sử dụng thuốc tiêm chiếm tỷ lệ từ 46,1%
đến 65,3%. Trong đó Bệnh viện Đa khoa Hải Dương có 65,3% giá trị thuốc
sử dụng là thuốc tiêm trong tổng chi phí thuốc của bệnh viện. Tại các bệnh
viện tuyến huyện: Tỷ lệ giá trị sử dụng của thuốc tiêm truyền trong tổng chi
phí thuốc của bệnh viện có thấp hơn ở các bệnh viện tuyến trung ương và
tuyến tỉnh nhưng vẫn ở mức cao dao động từ 44,1% đến 51,2%. Các dạng
thuốc khác (thuốc đặt, thuốc phun mù, thuốc dùng ngoài da...) chiếm tỷ lệ
thấp trong danh mục. Số thuốc nhóm này chiếm tỷ lệ trung bình khoảng 6,7%
với giá trị sử dụng trung bình chiếm khoảng 4,5% [22].

13


1.2.6. Về thuốc đơn thành phần, đa thành phần
Hiện nay nhiều hãng dược phẩm nghiên cứu kết hợp 2 - 3 hoạt chất
trong một thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị, hoặc tạo sự tiện lợi trong sử
dụng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sự kết hợp nhiều hoạt chất chỉ

bệnh viện. Chính vì thế cần ưu tiên trong mua sắm đồng thời quản lý chặt chẽ
các thuốc thuộc nhóm A này [22]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Lâm thì
tại bệnh viện huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa năm 2015 thuốc A chiếm 80%
giá trị sử dụng với 22% số khoản mục. Trong đó nhóm thuốc điều trị ký sinh
trùng, chống nhiễm khuẩn, nhóm thuốc chế phẩm y học cổ truyền có số khoản
mục cao nhất. Trong các thuốc nhóm A, thuốc tối cần (V) chỉ chiếm 10% về
giá trị sử dụng, nhóm thuốc không thiết yếu (N) chiếm 35% về giá trị sử
dụng. Các thuốc không thiết yếu mà giá trị sử dụng lớn tập trung ở nhóm chế
phẩm y học cổ truyền, nhóm thuốc điều trị tai, mũi họng, thuốc đường tiêu
hóa, thuốc giảm đau, hạ sốt chống viêm, điều trị gut, vitamin và khoáng chất
[25]. Theo nghiên cứu ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Cạn năm 2014, thuốc
hạng A chiếm 8,7% về số lượng khoản mục và 81% về giá trị sử dụng, thuốc
hạng B chiếm 15,7% về số lượng khoản mục và 14,1% về giá trị sử dụng,
thuốc hạng C chiếm 75,6% về số lượng khoản mục và 4,9% về giá trị sử
dụng. Cũng tại bệnh viện này, thuốc nhóm E có số khoản mục chiếm tỷ lệ cao
nhất 68,7% và cao nhất về giá trị sử dụng 74,7% . Nhóm V chiếm tỷ lệ 22,4%
số khoản mục và chiếm tỷ lệ về giá trị sử dụng 17,7% . Nhóm N chiếm tỷ lệ
thấp nhất về khoản mục 8,9% cũng như giá trị sử dụng 7,6% [19]. Tại bệnh
viện đa khoa tỉnh Bình Dương, hạng A có số loại thuốc ít nhất, chiếm tổng giá
trị sử dụng cao nhất, gồm có 90 hoạt chất với 123 khoản mục chiếm 16,6%;
giá trị sử dụng là 108.296,4 triệu đồng chiếm 78,8% tổng giá trị sử dụng
thuốc. Hạng B gồm có 147 khoản mục chiếm 19,8%; giá trị sử dụng là
20.784,2 triệu đồng chiếm 15,1% tổng giá trị sử dụng thuốc. Hạng C có số
loại thuốc nhiều nhất, chiếm tổng giá trị sử dụng thấp nhất gồm có 471 khoản
mục chiếm 63,6%; giá trị sử dụng là 8.310,9 triệu đồng chiếm 6,0% tổng giá
15


trị sử dụng thuốc. Nhóm AE là nhóm cần thiết cho điều trị sử dụng nhiều
ngân sách nhất gồm 75 khoản mục chiếm 42,6% tổng giá trị sử dụng thuốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status