đại học thái nguyên
TRNG I HC S PHM
mai thị vân hải
nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại
khoá
phần "quang học" với sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin nhằm phát huy tính tích cực cho học
sinh thpt
luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
thái nguyên, 2008
đại học thái nguyên
TRNG I HC S PHM
mai thị vân hải
nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại
khoá
phần "quang học" với sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin nhằm phát huy tính tích cực cho học
sinh thpt
Chuyên ngành: Lớ lun v phng phỏp dy vt lý
Mã số: 60.14.10
luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
THPT
Giáo viên
GV
Học sinh
HS
Công nghệ thông tin
CNTT
Phương pháp dạy học
PPDH
Sách giáo khoa
SGK
Hoạt động ngoại khoá
HĐNK
Trung học cơ sở
THCS
1.3.2 Những định đổi mới PPDH Vật lí ở THPT............................19
1.3.3 Hoạt động ngoại khoá trong hệ thống các hình thức tổ chức
dạy học ở trờng phổ thông..................................................24
1.4 CNTT với dạy học.................................................................27
1.4.1 Vai trò của CNTT trong dạy học nói chung.......................27
1.4.2 Những hỗ trợ cơ bản của CNTT trong dạy học Vật lí.......30
Kết luận chơng I...................................................................33
Chơng II:
Nghiên cứu xây dựng và tổ chức hoạt động ngoại khoá phần
''quang học" với sự hỗ trợ của CNTT......................................................34
2.1 Nội dung, kiến thức phần "Quang học" trong chơng trình
Vật Lí THPT - SGK mới............................................................34
2.1.1 Phân phối chơng trình..................................................34
2.1.2 So sánh về nội dung kiến thức phần "Quang học" giữa SGK
mới và SGK cải cách giáo dục..................................................35
2.1.3 Các kiến thức và kỹ năng cơ bản mà học sinh cần phải đạt
đợc khi học phần "Quang học"............................................36
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
2.1.4 Những khó khăn gặp phải trong quá trình dạy và học kiến
thức phần "Quang học".........................................................46
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
"Quang học"77 3.4.3 Phân tích và đánh giá kết quả
TNSP đối với giáo án 1.....................................................78
3.4.4 Phân tích và đánh giá kết quả TNSP đối với giáo án 2 82
Kết luận chơng III..................................................................85
Kết luận chung.............................................................................86
Bài báo của học viên liên quan đến luận văn đã đợc công bố....................88
Tài liệu tham khảo........................................................................89
Phụ lục.......................................................................................92
8
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề
tài:
Chúng ta đang bước đi những
bước đầu tiên của thế kỷ XXI, thế kỷ mà
sự phát triển như vũ bão của khoa học
công nghệ đã tạo nên những thuận lợi to
lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện. Sự hội nhập và giao lưu
với các nước trong khu vực và trên thế
giới là cơ hội quý để ngành giáo dục
nước ta tiếp thu, chuyển giao và cập nhật
những công nghệ hiện đại về giáo dục
đào tạo. Nhiệm vụ quan trọng của ngành
giáo dục nước nhà hiện nay là phải đào
tạo ra những con người có phẩm chất đạo
đức, có năng lực chủ động, sáng tạo,
dám nghĩ, dám làm, thích ứng với đời
thường sử dụng các hình thức tổ chức
làm
dạy học: dạy học trên lớp, tham quan,
thức,
ngoại khoá, tự học ở nhà....Và việc đổi
tránh nhồi nhét, học
mới phương pháp dạy học theo hướng
vẹt, học chay...”.
“Lấy hoạt động của học sinh làm trung
Điều
tâm” thường quan tâm tới hình thức “
chủ
kiến
28.2
Luật giáo dục quy
sinh...”.
Trong
dạy
học ở nhà trường
phổ
nay,
thông
người
hiện
ta
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-tnu.e du.v n
mà chưa chú trọng phối kết hợp giữa các hình thức dạy học một cách khoa
học, hợp lí, kết hợp với phương tiện công nghệ thông tin hiện đại nhằm nâng
cao hiệu quả dạy học, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, phát
huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh.
Hoạt động ngoại khoá là một trong những hình thức tổ chức dạy học có
ý nghĩa và vị trí quan trọng đối với việc bồi dưỡng cho học sinh phương pháp
tự học, rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh... Tuy có ý nghĩa và vai
trò quan trọng như vậy nhưng qua điều tra, khảo sát tại một số trường THPT ở
Quảng Ninh và một số tỉnh chúng tôi thấy hoạt động ngoại khoá chưa được
Đ ối tượng : Nội dung, chương trình vật lí phần “Quang học” ở bậc
THPT, lí luận dạy học, các PPDH môn vật lí, công nghệ thông tin với dạy học.
IV. Giả thuyết khoa học:
Nếu tổ chức được các buổi hoạt động ngoại khoá phần “Quang học” có
nội dung hấp dẫn, phù hợp, phương pháp hợp lí, sinh động thì có thể giúp học
sinh củng cố, nâng cao kiến thức, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo
cho học sinh, tạo niềm vui hứng thú học tập đối với bộ môn.
V.Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được được mục đích đề ra chúng tôi xác định nhiệm vụ cần đạt
được như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới dạy học trong nhà trường phổ thông
hiện nay.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động ngoại khoá.
- Nghiên cứu những cơ sở lí luận của việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói
chung và trong dạy học Vật lí nói riêng.
- Nghiên cứu một số chức năng hỗ trợ của CNTT trong dạy học.
- Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp việc tổ chức dạy học ngoại khoá
Vật lí tại các trường THPT.
- Soạn thảo tiến trình buổi ngoại khoá phần “ Quang học” thuộc chương
trình THPT.
- Tổ chức thực nghiệm, đánh giá kết quả thực nghiệm, rút ra các kết luận
cần thiết.
VI. Giới hạn của đề tài:
1
2
Nghiên cứu những vấn đề chung nhất của nội dung kiến thức phần
3
Ngoài phần mở đầu, kết luận , phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về việc tổ chức hoạt động ngoại khoá Vật lí ở
trường phổ thông.
Chương II: Nghiên cứu xây dựng và tổ chức hoạt động ngoại khoá phần
“Quang học” với sự hỗ trợ của CNTT.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
Chƣơng I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Một số nội dung lí luận về dạy học ở nhà trƣờng phổ thông
1.1.1.Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trƣờng phổ thông
1.1.1.1 Mục tiêu giáo dục phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được cụ thể hoá trong Luật giáo
dục(2005) như sau: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình
thành con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .
1.1.1.2 Nhiệm vụ của quá trình dạy học
Để đào tạo con người đủ phẩm chất và năng lực thoả mãn yêu cầu xã hội,
quá trình dạy học phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
* Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, hiện đại,
phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội – nhân văn, đồng thời
rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng .
Trong dạy học, phải tổ chức cho người học nắm vững hệ thống kiến thức
Như vậy, trong quá trình dạy học, các phẩm chất của hoạt động trí tuệ nói
riêng và trí tuệ nói chung không ngừng phát triển và hoàn thiện. Ngược lại, sự
phát triển trí tuệ trong chừng mực nhất định cũng ảnh hưởng trở lại đối với
quá trình dạy học. Như vậy giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan hệ
mật thiết với nhau, vì vậy dạy học cần đi trước, đón trước và thúc đẩy sự phát
triển của người học. Muốn thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học thì nói
1
6
chung việc dạy học phải đảm bảo tính vừa sức với người học, các nhiệm vụ
dạy học phải tương thích với “vùng phát triển gần nhất” tạo điều kiện đòi hỏi
người học không ngừng vươn lên với sự nỗ lực cao nhất.
Để phát triển trí tuệ cần chú ý tới các điều kiện sau:
+ Nắm được đặc điểm của đối tượng, đặc biệt là trình độ nhận thức của
đối tượng.
+ Lựa chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp lý.
+ Có phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của HS.
Bên cạnh việc phát triển trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ chăm lo
phát triển thể lực cho HS, giúp các em có sức khoẻ để học tập và tham gia các
hoạt động khác.
* Tổ chức điều khiển người học, hình thành phát triển thế giới quan khoa
học, nhân sinh quan và các phẩm chất của người công dân, người lao động có
bản lĩnh và bản nghĩa cộng đồng.
Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có nhiệm
vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và
tư duy... Hình thành ở HS niềm tin về tính chân thực và hiệu quả của kiến
thức, hình thành thái độ lành mạnh với thực tiễn, hình thành quan điểm sống
tích cực. Trong quá trình dạy học, GV cần giáo dục cho HS lý tưởng, phẩm
chất nhân cách của con người mà xã hội đặt ra: yêu nước, yêu ch nghĩa xã hội,
HS.
- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc
điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học.
- Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học.
- Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học.
1.1.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở nhà trƣờng phổ thông
Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động
của GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhất định với
những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những
nhiệm vụ dạy học.
Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc dạy
học có tính tập thể hay có tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động nhận
18
thức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập của
HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập.
Trong thực tế dạy học, người ta phân biệt ba dạng tổ chức dạy học: dạng
toàn lớp, dạng nhóm, dạng cá nhân.
1.1.2.1 Các dạng tổ chức dạy học cơ bản
* Dạng toàn lớp: Là dạng trong đó, mỗi học sinh đồng thời hoàn thành
những nhiệm vụ nhận thức chung.
- Ưu điểm: GV có thể lãnh đạo mọi HS, tích cực điều khiển việc lĩnh hội tri
thức, việc ôn tập và củng cố tri thức cho toàn lớp.
- Nhược điểm: GV khó chú ý đến đặc điểm cá nhân, đặc biệt là đến tốc độ hoạt
động và trình độ hoạt động nhận thức của mỗi HS.
* Dạng nhóm: Là dạng trong đó, từng nhóm HS cùng giải quyết những
nhiệm vụ nhận thức thống nhất. Các em có thể cùng thảo luận các nhiệm vụ
nhận thức, vạch ra con và đường giải quyết các nhiệm vụ đó, cuối cùng đạt
kết quả chung.
thể kể đến một số hình thức sau:
* Hình thức lớp – bài: Đây là hình thức dạy học cơ bản, là hình thức GV lên
lớp trình bày nội dung kiến thức của một tiết, bài. Đây là hình thức được
thực hiện cho một nhóm người học có cùng lứa tuổi, cùng trình độ nhận thức.
Do đó hình thức này có thể sử dụng để đào tạo hàng loạt HS đáp ứng yêu cầu
phổ cập giáo dục cũng như yêu cầu đào tạo công nhân lao động. Hình thức
này đảm bảo truyền tải đến người học những tri thức cơ bản, những kỹ năng,
kỹ xảo cần thiết phục vụ cho đời sống cũng như lao động sản xuất.
Tuy nhiên hình thức này vấp phải nhược điểm là không có đủ thời gian để
HS nắm vững ngay tri thức, GV không có đủ điều kiện để chú ý đầy đủ đến
đặc điểm nhận thức của từng HS, không có điều kiện để mở rộng tri thức vượt
ra ngoài nội dung, phạm vi chương trình.
20
* Hình thức học ở nhà: với hình thức này HS có thể làm được rất nhiều công
việc như học bài, làm bài, làm thí nghiệm, đọc sách tham khảo, chuẩn bị bài
mới...
Hình thức này có ý nghĩa quan trọng, nó giúp HS mở rộng, đào sâu, hệ
thống hoá và khái quát hoá những điều đã học ở trên lớp, hoàn thiện vốn hiểu
biết. Ngoài ra nó còn giúp HS rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng những tri
thức đã biết vào các tình huống, kể cả tình huống mới nảy sinh trong cuộc
sống, trong lao động, sản xuất. Hình thức tự học ở nhà còn giúp HS bước đầu
nắm bắt tri thức mới bằng cách đọc trước SGK, làm trước thí nghiệm theo chỉ
dẫn của GV...
Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi tính tự giác, tích cực, tự lực rất cao của
HS và đòi hỏi GV phải có những biện pháp phù hợp mới đem lại hiệu quả cao.
*Hình thức hoạt động ngoại khoá:
Với hình thức này, HS có thể tham quan học tập, tổ chức thảo luận theo
chuyên đề, tổ chức các buổi dạ hội theo các chủ đề kiến thức...
Tóm lại, mỗi một hình thức dạy học đều có những ưu nhược điểm nhất
định, Để hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu về đổi mới
giáo dục của nước ta hiện nay đòi hỏi người GV phải biết phối kết hợp các
hình thức dạy học, lựa chọn các hình thức dạy học sao cho phù hợp với mục
đích, mục tiêu đã đặt ra đối với từng cấp học, môn học.
1.1.3 Tính tích cực của học sinh trong học tập
1.1.3.1 Khái niệm về tính tích cực trong học tập của học sinh
Tính tích cực trong học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố
gắng cao về nhiều mặt trong học tập. Học tập là một trường hợp riêng của
nhận thức “một sự nhận thức làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự
chỉ đạo của giáo viên” (P.N.Erddơniev, 1974). Vì vậy nói đến tích cực học tập
thực chất là nói đến đến tích cực nhận thức. Mà tích cực nhận thức là trạng
thái hoạt động nhận thức của HS, đặc trưng ở sự khát vọng học tập, cố gắng
và tự giác trong việc chiếm lĩnh kiến thức.
22
Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình dành được bằng hoạt
động của bản thân. Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua
trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân mình.
1.1.3.2 Các biểu hiện của tính tích cực học tập
Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu thị ở những hoạt động bên
ngoài nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình
thức biểu hiện này thường đi liền với nhau. Theo G.I Sukina (1979) có thể
nêu những biểu hiện của tính tích cực hoạt động như sau:
+ Học sinh khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ
sung các câu hỏi của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề đặt
ra.
+ Học sinh hay nêu ra các thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn
đề giáo viên trình bày chưa rõ.
đề ra giải pháp mới. Vậy học tập sáng tạo là một yêu cầu cao đối với HS,
nhưng chúng ta có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi để cho HS tập dượt quen
dần.
Cấp độ cao nhất của tính tích cực là sáng tạo, tuy nhiên sự sáng tạo cũng có
những đặc điểm riêng. Và khi HS đạt được được tích cực sáng tạo thì những
phẩm chất của một nhà nghiên cứu khoa học đã bắt đầu được hình thành.
1.2 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học Vật lí ở trƣờng phổ thông [ 13]
1.2.1 Đặc điểm của môn vật lí ở trƣờng phổ thông
* Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, cho
nên những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên,
nhất là của hoá học và sinh học.
* Vật lí ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm. Phương pháp của
nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm. Đó là phương pháp nhận thức có
hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan. Phương pháp thực nghiệm
xuất xứ từ vật lí học nhưng ngày nay cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều
ngành khoa học tự nhiên khác.
24
*Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên
nhiều kiến thức vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết
học, tạo điếu kiện phát triển thế giới quan khoa học ở HS.
* Vật lí học là cơ sở lý thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong
đời sống và sản xuất.
* Vật lí học là một môn khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kỹ năng quan
sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có
tư duy lôgic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng
định chân lý.
1.2.2 Các nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trƣờng phổ thông [ 22 ]
a) Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản , hiện đại, có hệ
HS chỉ có thể phát triển trí thông minh, sáng tạo khi có một vốn kiến thức
vững chắc, thường xuyên vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ mới,
vừa củng cố vừa mở rộng và phát hiện ra những chỗ chưa hoàn chỉnh của
chúng để tiếp tục sáng tạo ra những kiến thức mới, bổ sung hoàn chỉnh thêm
vốn kiến thức của mình. Mặt khác, không có trình độ tư duy phát triển thì khó
có thể thực hiện được sự khái quát hoá cao, do đó khó có thể có thế giới quan
khoa học vững chắc.
Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để
đạt được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Bởi vậy, việc rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo thực hành thí nghiệm sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc phát hiện những
đặc tính, quy luật của tự nhiên cũng như kiểm tra tính đúng đắn của các kiến
thức lý thuyết. Những ứng dụng trong kỹ thuật của vật lý không những phục
vụ cho nhu cầu đời sống và sản xuất mà còn phục vụ cho chính công việc
nghiên cứu vật lí học, nâng cao khả năng hoạt động của chính người nghiên
cứu, học tập vật lí.