TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
k
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG LAO ĐỘNG
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ AN
TOÀN SỨC KHỎE LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện
: Bùi Khánh Hương
Lớp
:
Giáo viên hướng dẫn :
MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................ 1
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH
NGHIỆP VỀ AN TOÀN, SỨC KHỎE LAO ĐỘNG.............................................3
1.1. Cơ sở pháp ly................................................................................................3
1.2. Các khái niệm cơ bản...................................................................................3
QUẢ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ AN TOÀN, SỨC KHỎE
LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP............................................................24
3.1. Đối với doanh nghiệp..................................................................................24
3.2. Đối với cơ quan quản ly Nhà nước............................................................24
3.3. Đối với người lao động................................................................................25
KẾT LUẬN............................................................................................................26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................27
PHỤ LỤC 1............................................................................................................28
PHỤ LỤC 2............................................................................................................30
2
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
các doanh nghiệp ngày càng xuất hiện nhiều như nấm sau mưa, thì đó cũng là lúc
các doanh nghiệp phải chú trọng đến trách nhiệm xã hội của mình.
Cứ 15 giây, trên thế giới, lại có một người lao động bỏ mạng vì tai nạn hoặc
hoặc bệnh nghề nghiệp.
Cứ 15 giây, lại có 153 công nhân bị tai nạn lao động.
An toàn và sức khỏe lao động là một vấn đề mang ý nghĩa to lớn đối với việc
bảo toàn nguồn nhân lực, đồng thời có tác động trực tiếp tới hoạt động và hiệu quả
của doanh nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, trong thời gian học tập và tìm hiểu, em nhận
thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe
lao động tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, chính vì vậy, em xin trình bày
bài tiểu luận của mình với đề tài: “Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an
toàn, sức khỏe lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”.
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của bài tiểu luận được kết cấu thành ba phần như sau:
- An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy
hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá
trình lao động.
- Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây
bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.
- Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong
cho con người trong quá trình lao động.
- Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong
quá trình lao động.
3
- Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng
nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao
động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
- Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề
nghiệp tác động đối với người lao động.
- An toàn lao động và vệ sinh lao động là những chế định của luật lao động
bao gồm những quy phạm pháp luật quy định việc đảm bảo an toàn lao động, vệ
sinh lao động nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, đồng thời duy
trì tốt khả năng làm việc lâu dài của người lao động.
1.3. Nguyên tắc bảo đảm an toàn, sức khỏe lao động
- Bảo đảm quyền của người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn,
vệ sinh lao động
- Tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao
động; ưu tiên các biện pháp phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm,
yếu tố có hại trong quá trình lao động.
- Tham vấn ý kiến tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao
động, Hội đồng về an toàn, vệ sinh lao động các cấp trong xây dựng, thực hiện
- Doanh nghiệp phải đảm bảo tất cả người lao động đều được huấn luyện về an
toàn, khám sức khoẻ định kỳ và thiết lập hồ sơ huấn luyện. Việc huấn luyện phải
được thực hiện đối với tất cả nhân viên mới hoặc chuyển công tác từ nơi khác đến.
- Doanh nghiệp phải thiết lập hệ thống theo dõi, phòng ngừa hoặc xử lý các
nguy hiểm tiềm ẩn đối với sức khoẻ và an toàn của người lao động.
- Doanh nghiệp phải cung cấp cho người lao động phòng tắm sạch sẽ, đồ nấu
nước và nếu có thể là các trang thiết bị hợp vệ sinh để lưu trữ thức ăn. Nếu doanh
nghiệp cung cấp chỗ ở cho người lao động thì phải đảm bảo nơi đó sạch sẽ, an toàn
và đảm bảo các yêu cầu cơ bản của họ.
5
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ AN
TOÀN, SỨC KHỎE LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng về an toàn, sức khỏe người lao động tại các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay
2.1.1. Tai nạn lao động
Theo thống kê, mỗi năm cả nước có tới 160 - 170 nghìn người bị tai nạn lao
động và chỉ có 37% doanh nghiệp thực hiện các chỉ tiêu cơ bản về quy định bảo
đảm an toàn, vệ sinh lao động. Những con số trên đã chỉ rõ thực trạng về an toàn, vệ
sinh lao động tại Việt Nam đang bị chính các doanh nghiệp và người lao động lãng
quên khi liên tiếp các vụ tai nạn xảy ra mà nguyên nhân chính vẫn là việc thờ ơ
trước các quy định về an toàn, bảo hộ trong lao động.
Theo thống kê của Cục An toàn lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội, trong 3 năm gần đây, số vụ tai nạn lao động của nước ta tăng liên tiếp.
Biểu 2.1: Biểu đồ tổng kết số vụ tai nạn lao động tại Việt Nam 2013 - 2015
ĐVT: vu
Tổng số vụ TNLĐ chết người
2 01 5
Từ biểu đồ có thể nhận thấy trong 3 năm gần đây có sự tăng liên tiếp về cả số
vụ tai nạn lao động và số vụ có người chết. Đặc biệt tăng mạnh trong năm 2015 về
tổng số vụ tai nạn lao động (từ 6.709 vụ tăng lên 7.620 vụ, tương đương 13,6%).
Tuy nhiên, số vụ có 2 người bị nạn trở lên sau khi tăng từ 113 vụ (2013) lên 166 vụ
(2014) thì đã có dấu hiệu tích cực khi giảm xuống 79 vụ (2015).
Biểu 2.2: So sánh tình hình tai nạn lao động qua các năm
TT
1
2
3
4
5
6
7
Chỉ tiêu thống
kê
Số vụ (vụ)
Số
nạn
bị
nặng 1.506
(người)
Số lao động nữ
có
2.308
2
người bị nạn trở 113
lên (vụ)
Năm 2014
Số
6.695
(người)
Số vụ có người
thương
Năm 2013
(1,2%)
-80
(1,2%)
(2,0%)
-172
(7,45%)
+53
(46%)
Năm 2015
Số liệu
7.620
7.785
629
666
1.704
2.432
79
Tăng/
giảm
+911
(13,6%)
+844
(12,2%)
+37
( 6,2%)
+36
(5,7%)
+160
phụ lục 1).
2.1.2. Bệnh nghề nghiệp
Bên cạnh tình trạng báo động về tai nạn lao động, thì tình trạng bệnh nghề
nghiệp cũng đang đáng chú ý.
Theo số liệu thống kê của Bộ y tế:
- Năm 2014, có 4580 cơ sở sản xuất tại các tỉnh, ngành tiến hành khám sức
khỏe định kì cho 769.217 người lao động. Trong đó, số công nhân lao động có sức
khỏe yếu chiếm 13.7%.
- Chỉ có 1890 cơ sở tại 20 tỉnh, ngành tiến hành khám 18/28 bệnh nghề nghiệp
với số lao động được khám là 63.548 người trong số gần 1.9 triệu lao động. Phát
hiện 3984 trường hợp chuẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp (chiếm 5.9%)
- Năm 2015, phát hiện 28000 người mắc bệnh nghề nghiệp tuy nhiên con số
thực tế có thể lớn hơn. Trong đó 74% mắc bệnh bụi phổi silic và 17% bị điếc do
tiếng ồn.
8
2.1.3. Các yếu tố độc hại
- Năm 2013, tại tỉnh Bình Dương, kết quả kiểm tra giám sát môi trường lao
động tại các doanh nghiệp cho thấy ô nhiễm môi trường lao động vẫn ở mức cao.
Trong số 420 công ty được đo đạc các yếu tố có hại trong môi trường lao động với
69.741 mẫu thì có 7.657 mẫu không đạt tiêu chuẩn (chiếm 11%).
- Người lao động làm việc trong môi trường ô nhiễm không được trang bị mặt
nạ chống độc, không thắt dây an toàn, đội mũ bảo hộ, không khám sức khỏe định kì
cho người lao động.
2.1.4. Điều kiện làm việc và thiết bị bảo hộ lao động cho người lao động
- Trong thực tế, hầu hết các doanh nghiệp có lao động làm việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm đều đã trang bị phương tiện kĩ thuật vệ sinh cho người lao động.
- Nhìn chung, các doanh nghiệp có quy mô lớn thực hiện các quy định về an
Phần lớn các doanh nghiệp đã quan tâm đến việc thiết lập bộ máy phụ trách
công tác an toàn, sức khỏe cho người lao động.
Biểu 2.3: Bộ máy làm công tác an toàn, sức khỏe lao động và chương trình
huấn luyện an toàn, sức khỏe lao động tại các doanh nghiệp
ĐVT: phần trăm
Ngành
STT
Tiêu chí đánh giá
Toàn
Dệt may
Khai
quốc
` Da
thác
giày
mỏ
93,2
97,6
95,5
100
98,2
96,8
93,3
89,6
5,4
-
1,8
3,2
6,7
10,4
- thương
mại
Phân công
1.1
3.2
3.3
3.4
Thời gian giữa
các lần huấn
luyện về an
toàn, vệ sinh
3.5
lao động cho
toàn thể công
nhân viên.
6 tháng
1 năm
2 năm
3 năm
23,6
71,2
1,3
0,4
15,0
80,8
-
15,5
luyện
(Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
Có thể nhận thấy, ngành có tỷ lệ cao nhất là Khai thác mỏ (97,9%), sau đó đến
Dệt may – Da giày (97,6%), Thuỷ sản (96,9%), Xây dựng (91,5%) và thấp nhất là
ngành Dịch vụ – Thương mại (84,3%).
Biểu 2.3 cũng cho thấy có 95,5% doanh nghiệp có bộ phận làm công tác an
toàn, sức khỏe lao động. Ngành có tỷ lệ cao nhất là Dệt may – Da giày (100%),
thấp nhất là Dịch vụ – Thương mại (89,6%).
Về công tác huấn luyện an toàn – vệ sinh lao động, theo kết quả điều tra, vẫn
còn có 5% số ý kiến ngành Dệt may – Da giày; 3,1% ý kiến ngành Thuỷ sản; 6,3%
ý kiến ngành Xây dựng và 3,9% ý kiến ngành Dịch vụ – Thương mại khẳng định
doanh nghiệp của mình chưa bao giờ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho
người lao động. Có một số doanh nghiệp ngành Thuỷ sản và ngành Dịch vụ –
Thương mại huấn luyện hoặc 2 năm, hoặc 3 năm 1 lần.
Xét tổng thể, có thể khẳng định ngành Khai thác mỏ là ngành làm rất tốt công
tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động (100% doanh nghiệp thực hiện huấn luyện
từ 6 tháng đến 1 năm 1 lần), kế tiếp đến ngành Thuỷ sản (96,9%) và ngành Dệt may
- Da giày (95%).
Một số doanh nghiệp rất quan tâm đến việc huấn luyện an toàn, vệ sinh lao
động cho người lao động khi thực hiện các chương trình huấn luyện theo định kỳ 6
tháng 1 lần. Tỷ lệ này cao nhất ở ngành Dịch vụ – Thương mại (45,1%), sau đó đến
ngành Xây dựng (29,2%) và thấp nhất ở ngành Thuỷ sản (6,3%).
11
2.2.3. Vấn đề đảm bảo an toàn, sức khỏe lao động tại nơi làm việc
Kết quả điều tra tại biểu 2.4 dưới dây cho thấy điều kiện lao động trên thực tế
vẫn gây ảnh hưởng xấu đến người lao động.
dựng
thương
mại
Điều kiện lao
1.1
Có
46,8
7,3
90,0
43,8
37,5
38,0
Không
53,2
92,7
10,0
57,4
50,0
55,6
36,8
điều kiện lao
Rung
26,9
33,3
18,5
42,9
33,3
31,6
động gây ảnh
Hơi khí
hưởng xấu đến
66,7
63,0
14,3
66,7
42,1
Khác
13,0
-
14,8
14,3
22,2
-
Có
31,0
7,3
3.1
Có yếu tố nguy
hiểm dễ gây tai
12
3.2
nạn
Sàn trơn,
4.1
gồ ghề
Máy móc
4.2
4.3
4.4
4.5
Không
không
Các yếu tố
69,0
92,7
50,0
61,3
63,8
82,0
7,7
-
-
33,3
9,1
-
3,8
-
-
32,7
100,0
4,5
55,6
36,4
57,1
51,9
-
90,9
-
9,1
85,7
-
-
-
(36,4%).
- Không có biển báo an toàn: ngành Xây dựng (27,3%) và Dịch vụ – Thương
mại (28,6%).
- Sàn trơn, gồ nghề: ngành Thuỷ sản (33,3%) và Xây dựng (9,1%).
- Máy móc không có bộ phận che chắn: ngành Xây dựng (18,2%).
So với kết quả điều tra của những năm trước đây, các doanh nghiệp đã quan
tâm chú ý đến việc đầu tư làm giảm thiểu các mối nguy hại đến người lao động. Tuy
nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố về điều kiện làm việc gây ảnh hưởng xấy
đến sức khỏe người lao động, chứng tỏ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp đã dần có tính hội nhập cao hơn song mức độ hội nhập vẫn chưa được
như mong muốn.
Trong tình trạng các yếu tố điều kiện lao động có gây ảnh hưởng xấu đến sức
khoẻ cho người lao động khá nghiêm trọng, vấn đề cải tiến các yếu tố điều kiện lao
động cần được quan tâm đáng kể. Tại Việt Nam hiện nay, có khoảng 92,1% doanh
nghiệp thường xuyên cải tiến các yếu tố điều kiện lao động, chỉ có 7,5% doanh
nghiệp không thường xuyên cải tiến và 0,4% doanh nghiệp không thực hiện cải tiến.
Biểu 2.5: Vấn đề đảm bảo an toàn, sức khỏe nơi làm việc cho người lao động
tại các doanh nghiệp
STT
Tiêu chí đánh giá
Toàn
Dệt
Khai
Ngành
Thủy
người đều
Cải tiến điều
1.2
1.3
kiện lao động
để đảm bảo an
2.4
2.5
66,1
34,4
36,2
50,0
43,0
42,5
33,9
62,5
-
-
-
-
-
-
Kém
1,9
-
-
10,0
-
-
34,6
33,3
-
20,0
-
tham gia
Thường
toàn, sức khỏe
cho người lao
thường
động
xuyên
Không
cải tiến
2.1
2.3
50,0
xuyên
Không
1.4
người lao động ít chịu các ảnh hưởng xấu của môi trường làm việc thì việc trang bị
phương tiện bảo hộ lao động giúp họ có khả năng tránh các rủi ro xảy ra trong quá
trình làm việc. Tuy nhiên, kết quả điều tra lại cho thấy tỷ lệ các doanh nghiệp trang
bị phương tiện bảo hộ lao động ở mức tốt và rất tốt ở mức khá khiêm tốn: 64,5%; có
34,6% ở mức bình thường và có 1,9% ở mức kém. Ngành gây ấn tượng nhất trong
vấn đề này là Khai thác mỏ với 6,7% số doanh nghiệp ở mức rất tốt và 86,7% ở
mức tốt. Nguyên nhân do ngành ày có nhiều yếu tố nguy hiểm đe doạ tính mạng và
sức khoẻ của người lao động.
Ngành có thể xếp thứ hai là ngành Dệt may – Da giày (66,7% ở mức tốt và
33,3% ở mức bình thường). Ngành xếp thứ ba là ngành Xây dựng với 20% doanh
nghiệp ở mức rất tốt , 30% ở mức tốt và 50% ở mức bình thường. Còn ngành Dịch
vụ – Thương mại và Thuỷ sản ở tình trạng kém hơn.
2.2.4. Vấn đề đảm bảo vệ sinh nơi làm việc cho người lao động
Vấn đề đảm bảo vệ sinh nơi làm việc cho người lao động được các bộ quy tắc
ứng xử phổ biến trên bình diện quốc tế đề cập đến ở 3 nội dung chủ yếu: Vệ sinh
nhà ở tập thể mà doanh nghiệp cấp cho người lao động; Nhà vệ sinh tại nơi làm việc
cho người lao độn; Nhà tắm cho người lao động.
16
Biểu 2.6: Vấn đề đảm bảo vệ sinh cho người lao động tại các doanh nghiệp
ĐVT: phần trăm
Ngành
Dệt
STT
Tiêu chí đánh giá
Toàn
thương
mại
54,0
32,0
83,7
27,8
57,6
41,9
46,0
68,0
16,3
72,2
42,4
58,1
14,8
21,0
-
Rất kém
-
-
-
-
-
-
Kém
2,5
-
-
-
8,6
4,9
3,4
-
-
11,4
8,8
Trang bị nhà
Có nhà
55,1
55,6
53,5
71,4
47,1
54,8
tắm cho người
1.5
yêu cầu
2.1
2.2
Đánh giá
chung về nhà
2.3
vệ sinh cho
người lao động
2.4
tại nơi làm việc
2.5
3.1
Bình
thường
17
sẽ
9,7
15,4
7,4
7,0
9,5
20,6
32,3
sạch sẽ
Chỉ có
nhà tắm
cho nữ
Không có
3.4
14,1
nhà tắm
(Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
* Vấn đề nhà ở tập thể cho người lao động:
Chỉ có 54% doanh nghiệp có cung cấp nhà ở cho người lao động. Tỷ lệ này
cao nhất ở ngành Khai thác mỏ (83,7%), sau đó đến ngành Xây dựng (57,6%), Dịch
nghiệp chỉ có nhà tắm cho nữ công nhân trong khi có cả lao động nữ và lao động
nam. Điều bất cập này chắc chắn sẽ cần phải khắc phục nếu các doanh nghiệp thực
sự muốn thực hiện tốt trách nhiệm xã hội để hội nhập. Những ngành cần chú ý đặc
biệt đến vấn đề này là Dịch vụ – Thương mại (32,3% doanh nghiệp không có nhà
tắm nào và 9,7% các doanh nghiệp hỉ có nhà tắm cho nữ); Xây dựng (tương ứng là
20,6% và 17,6%) và Dệt may – Da giày (7,4% và 25,9%).
Vấn đề có nhà tắm bẩn, mất vệ sinh cũng là một vấn đề nổi cộm. Ngành có tỷ
lệ đánh giá nhà tắm “có nhưng không sạch sẽ” nhiều nhất là Khai thác mỏ (27,9%),
kế tiếp là Xây dựng (14,7%) và Dệt may – Da giày (11,1%).
2.2.5. Vấn đề y tế, bảo vệ sức khỏe cho người lao động
Nhìn chung, vấn đề đảm bảo các dịch vụ y tế cho người lao động được thực
hiện khá tốt. Bảng 2.7 cho thấy có 60,2% doanh nghiệp đã thành lập trạm y tế. Tỷ lệ
này cao nhất ở ngành Dệt may – Da giày (87,8%), sau đó đến ngành Khai thác mỏ
(86,7%). Các ngành còn lại có tỷ lệ tương đối thấp: Thuỷ sản (41,9%), Dịch vụ –
Thương mại (38,8%) và Xây dựng (35,6%).
Biểu 2.7: Vấn đề y tế, bào vệ sức khỏe cho người lao động
ĐVT: phần trăm
STT
Tiêu chí đánh giá
Toàn
Ngành
19
Dệt
quốc
35,6
38,8
Không
39,8
12,2
13,3
58,1
64,4
61,2
69,5
87,9
52,9
75,0
68,8
81,3
-
-
-
6,3
2,0
Dưới 30%
5,2
-
-
-
12,5
12,0
31% - 50%
5,6
2,4
68,8
60,4
62,0
phát thuốc
chưa kịp
của công ty
thời
Tỷ lệ tham
Xây
87,8
chữa và cấp
3.1
mỏ
Thủy
60,2
(81,3%), Thuỷ sản (75%), Xây dựng (68,8%) và thấp nhất ở ngành Khai thác mỏ
(52,9%).
20
Pháp luật lao động Việt Nam và các bộ CoC nổi tiếng cũng đều quy định các
doanh nghiệp buộc phải mua bảo hiểm y tế cho tất cả người lao động (trừ 1 số đối
tượng đặc biệt). Tuy nhiên, chỉ có 77,1% doanh nghiệp có mua bào hiểm y tế cho
trên 80% công nhân; 10,4% doanh nghiệp mua bảo hiểm y tế cho từ 51% - 80% số
công nhân; 5,6% mua bảo hiểm y tế cho từ 31% - 50% công nhân; 5,2% cho dưới
30% công nhân và 1,7% doanh nghiệp chưa mua bảo hiểm cho công nhân.
Biểu 2.7 cho thấy, ngành thực hiện trách nhiệm xã hội tốt nhất trong vấn đề
bảo hiểm y tế là Khai thác mỏ (100% các doanh nghiệp đã mua bảo hiểm y tế cho
trên 80% công nhân), sau đó đến Dệt may – Da giày (87,8%), Thuỷ sản (68,8%).
Hai ngành Xây dựng và Dịch vụ – Thương mại có tình trạng thực hiện trách nhiệm
xã hội trong vấn đề này kém nhất và có doanh nghiệp chưa mua bào hiểm y tế cho
bất kỳ công nhân nào.
2.3. Đánh giá chung về tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức
khỏe lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
2.3.1. Mặt đạt được
Có thể nhận thấy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói
chung và vấn đề an toàn, sức khỏe lao động nói riêng tại Việt Nam hiện nay đã có
nhiều sự thay đổi tích cực.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động đã được
quy định tương đối cụ thể, chi tiết trong các văn bản luật như Luật Lao động, Luật
An toàn, vệ sinh lao động,… Chính điều này giúp công tác an toàn, sức khỏe lao
động trong các doanh nghiệp được thực hiện dễ dàng và có hiệu quả hơn.
Ngoài những quy định chung của Pháp luật, các doanh nghiệp Việt Nam trong
một số ngành như Dệt may – Da giày,… đã có những thỏa ước lao động ngành của
giữ các chức vụ khác nhau như: giám đốc, công đoàn cơ sở, cán bộ chủ chốt, quản
đốc, chủ tịch công đoàn. Chính vì thế mà không có nhiều thời gian dành cho công
tác này.
22
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
Đa phần các doanh nghiệp Việt Nam đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong
khi đó, chi phí để thực hiện tốt công tác an toàn, sức khỏe cho người lao động lại
tương đối lớn, do đó, doanh nghiệp thường không làm hoặc làm không tới nơi tới
chốn.
Cũng vì lý do này, thành viên trong bộ phận làm công tác an toàn chủ yếu là
kiêm nhiệm mà không có cán bộ chuyên trách để giáo dục, tuyên truyền rõ ràng,
chính xác, cụ thể các quy định của Pháp luật liên quan.
Mặt khác, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm xã
hội về an toàn, sức khỏe lao động trong các doanh nghiệp còn chưa diễn ra mạnh
mẽ, hiệu quả.
23