BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN TRƯỜNG THÀNH
ĐẠO ĐỨC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGƯT. LÊ HỮU ÁI
Đà Nẵng - Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Trường Thành
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................... 3
2.2.4. Trách nhiệm đối với xã hội và môi trường ................................. 51
2.3. VÀI NÉT THỰC TRẠNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ...............................................52
2.3.1. Tình hình chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt
Nam ................................................................................................................52
2.3.2. Một số doanh nghiệp tiêu biểu đã thực hiện tốt trách nhiệm xã
hội
................................................................................................................57
2.4. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ...................................................................65
2.4.1. Vấn đề thuộc về thể chế ..............................................................65
2.4.2. Vấn đề của các doanh nghiệp .....................................................67
2.4.3. Vấn đề với các đối tượng hữu quan ............................................69
2.4.4. Những điều được rút ra ...............................................................69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ..................................................................................72
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY......................... 73
3.1. CÁC GIẢI PHÁP .....................................................................................73
3.1.1. Nhóm giải pháp cho Nhà nước ...................................................73
3.1.2. Nhóm giải pháp cho doanh nghiệp ............................................. 81
3.1.3. Nhóm giải pháp đối với các đối tượng hữu quan ....................... 87
3.2. KIẾN NGHỊ ............................................................................................. 88
3.2.1. Đối với cơ quan Nhà nước ..........................................................88
3.2.2. Đối với địa phương cấp tỉnh, thành phố .....................................90
3.2.3. Đối với địa phương cấp cơ sở .....................................................91
3.2.4. Đối với doanh nghiệp .................................................................91
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ..................................................................................93
Tên biểu đồ
Trang
hiệu
2.1:
Tầm quan trọng và mức độ thực hiện trách nhiệm xã hội
40
trong thời kỳ suy thoái kinh tế
2.2:
Biểu đồ về việc tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp
41
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối
với doanh nghiệp trong quá trình hội nhập. Nhưng ở nước ta hiện nay vấn đề
này còn khá mới mẻ và ít được quan tâm đúng mức từ các doanh nghiệp.
Hàng loạt các vụ việc vi phạm môi trường, vi phạm quyền lợi lao động, xâm
phạm lợi ích người tiêu dùng... đã và đang khiến cộng đồng mất lòng tin vào
các doanh nghiệp.
dịch nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay có 97% trong tổng số doanh nghiệp là
doanh nghiệp vừa và nhỏ, ở đó còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc đảm bảo
môi trường lao động, phúc lợi lao động cho người lao động và thực hiện
những trách nhiệm cần thiết của doanh nghiệp đối với xã hội.
Hiện nay, một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra tầm quan trọng
của trách nhiệm xã hội đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, cũng
như gia tăng lợi thế cạnh tranh của mình. Các doanh nghiệp đi đầu trong việc
thực hiện trách nhiệm xã hội một cách bài bản, có chiến lược tại Việt Nam đa
phần là các doanh nghiệp đa quốc gia và một số doanh nghiệp lớn của Việt
Nam.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam có thể được coi là sự
cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững
thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động
và các thành viên trong gia đình họ, theo cách có lợi cho doanh nghiệp, cũng
như sự phát triển chung của xã hội, đó cũng chính là đạo đức của doanh
nghiệp.
Ý thức được vấn đề này, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp là đòi hỏi khách quan và cấp thiết đối với các doanh nghiệp ở nước ta
3
hiện nay, vì thế chúng tôi chọn đề tài “Đạo đức và trách nhiệm xã hội của
các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu đạo đức, đạo đức trong kinh doanh, từ thực trạng
việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, luận văn xây dựng
các giải pháp nhằm phát huy một cách có hiệu quả trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững trong sản xuất, kinh doanh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm có ba chương (chín tiết).
7. Tổng quan tài liệu
Đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hiện nay đang là vấn đề
thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước.
Hiện nay, ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ và
phương diện khác nhau về vấn đề này. Nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho nghiên
cứu, có thể phân chia thành các nhóm vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, các nhóm công trình nghiên cứu khái niệm đạo đức và đạo đức
doanh nghiệp. Đây là nhóm các công trình nghiên cứu và luận giải các vấn đề đạo
đức của các doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh. Nhiều nhất trong
nhóm này là các tác phẩm về đạo đức kinh doanh, đạo đức của người quản lý
doanh nghiệp. Chẳng hạn như: “Môi trường kinh doanh và đạo đức kinh
doanh”, do GS.TS Ngô Đình Giao (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà
Nội, 1997. Tác giả đã đề cập những vấn đề rất cơ bản trong kinh doanh là môi
trường kinh doanh và đạo đức kinh doanh. Trong đó, tác giả làm rõ sự cần
thiết phải nghiên cứu môi trường trong kinh doanh, các yếu tố thuộc môi
trường kinh doanh và yếu tố văn hoá có ảnh hưởng đến kinh doanh, tác giả
5
cho rằng, trách nhiệm xã hội trong kinh doanh là cần thiết đối với các doanh
nghiệp… Ngoài ra, các tác giả còn tập trung làm rõ những khái niệm có liên
quan như: đạo đức, đạo đức kinh doanh… trên cơ sở đó, đưa ra các quan điểm
đánh giá đạo đức kinh doanh, hay cuốn “Giáo trình đạo đức kinh doanh và
văn hoá công ty” do Nguyễn Mạnh Quân (chủ biên ), Nhà xuất bản Đại học
Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2007. Trong đó, tác giả đã tập trung làm rõ các
khái niệm liên quan đến đạo đức kinh doanh, văn hoá công ty, trách nhiệm xã
hội, thương hiệu và sự xuất hiện các vấn đề đạo đức trong kinh doanh. Đặc
biệt, cuốn sách giới thiệu cách tiếp cận với quá trình ra quyết định về hành vi
doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này đã đề cập đến việc
doanh nghiệp đã chia sẻ gánh nặng xã hội cùng nhà nước, xem đây là nghĩa vụ
của doanh nghiệp và cũng là điều kiện cho quá trình phát triển bền vững. Cuốn
sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” của tác giả Michel Capron,
Françoise Quairel-Lanoizelée, do tập thể Lê Minh Tiến, Phạm Như Hồ dịch
sang tiếng Việt và Nhà xuất bản Tri thức ấn hành năm 2009. Trong tác phẩm
này, tập thể các tác giả đã giới thiệu những lối tiếp cận khác nhau về khái
niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, phân tích những tác động của
các thành phần có liên quan đối với doanh nghiệp, những diễn ngôn, những
hành động và các khuynh hướng hiện nay, làm sáng tỏ những mâu thuẫn và
các giới hạn của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong mối tương quan
với các mục tiêu phát triển bền vững. Qua đó, tác phẩm cũng đề xuất một
cách nhìn mới về các mối quan hệ giữa các hoạt động kinh tế với xã hội, đồng
thời cũng gợi mở những góc độ tư duy hữu ích cả cho giới nghiên cứu lẫn
những người làm công tác thực tiễn (hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế,
nghiệp đoàn, các tổ chức phi chính phủ...)
- Thứ ba, các bài báo viết về đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp ở nước ta hiện nay. Trong nhóm các nghiên cứu này phải kể đến các công
7
trình cụ thể sau: “Nhìn nhận của người dân về đạo đức kinh doanh của các
chủ doanh nghiệp tư nhân”. Tạp chí Tâm lý học - Số 5/ 2006. Đây là bài viết
ra đời đã lâu nhưng lại có nhiều ý nghĩa quan trọng. Tác giả đã xây dựng
thang đo đánh giá của người dân Hà Nội về đạo đức kinh doanh của các chủ
doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta.
Theo tác giả, các chủ doanh nghiệp tư nhân tuy có nhiều đóng góp trong giai
đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay nhưng không vì thế mà người dân
xoá nhòa, san bằng tất cả cái tốt và cái xấu trong hoạt động kinh doanh của
các chủ doanh nghiệp tư nhân. Trái lại, càng kỳ vọng bao nhiêu ở sự đóng góp
được công bố và dịch sang tiếng Việt, cùng những tài liệu có liên quan đến
chủ đề của đề tài.
Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích các khía cạnh cụ thể khác
nhau với những nội dung rất phong phú và đa dạng ở mức độ nông sâu khác
nhau về vấn đề đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Song, đạo
đức xã hội nói chung, đạo đức doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp nói riêng, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh sự biến
đổi của tồn tại xã hội, cũng luôn có sự biến đổi cùng với sự biến đổi của kinh
tế thị trường. Do đó, hệ thống hoá, phân tích thực trạng đạo đức và trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, đặc biệt làm rõ vai trò của
đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những phương
hướng và giải pháp nhằm nâng cao đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp đối với xã hội hiện nay là một hướng mới mà người viết tiếp tục
nghiên cứu.
9
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI
1.1. ĐẠO ĐỨC LÀ MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là sự phản ánh tồn tại
xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, tôn
giáo, khoa học, nghệ thuật. Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng đạo đức thống
trị trong xã hội là tư tưởng đạo đức của giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế.
Giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế dựa vào bộ máy nhà nước để tuyên
truyền, giáo dục và thể chế hoá tư tưởng đạo đức của mình thành những
nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, biến nó trở thành thước đo đánh giá, điều
và sau đó thì được người Trung Quốc sử dụng nhiều, theo họ đạo đức là
những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra và buộc con người phải
tuân theo. Trong các học thuyết triết học ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại, tư
tưởng về đạo đức xuất hiện rõ nhất trong học thuyết Nho giáo. Đạo làm người
được Khổng Tử đề cập khá nhiều, ông cho rằng xã hội loạn do con người
không làm đúng chức phận, không làm theo danh của mình. Ông xây dựng
học thuyết “Chính danh” nhằm đưa xã hội từ loạn thành trị. Bên cạnh đó,
Khổng Tử và các học trò của ông đã đề cập đến nhiều phạm trù đạo đức như:
Nhân, lễ, nghĩa, tín… Ngoài ra, tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo cũng đã đề cập
sâu sắc đến đạo và học thuyết “Vô vi”, Mặc Tử có học thuyết “Kiêm ái”…
Trong triết học phương Tây, vấn đề đạo đức được đề cập khá nhiều
trong triết học cổ đại, cận đại và hiện đại. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, các
nhà triết học thường đề cập các vấn đề liên quan đến đạo đức, và cho rằng các
vấn đề đó là đạo đức. Đối với Democritus thì đạo đức chính là con người có
cuộc sống vui vẻ. Ông nói rằng: “Cách sống tốt nhất của một con người là
11
làm thế nào để được vui vẻ càng nhiều càng tốt và đau khổ càng ít càng tốt”
[22, tr.93]. Socrates thì cho rằng, đạo đức là con người biết làm điều thiện.
Nhưng thế nào là thiện và làm sao biết đó là điều thiện? Socrates giải thích
rằng: con người thiện là một con người có tri thức, một con người biết tri thức
thì sẽ hiểu thế nào là thiện và sẽ hành động theo điều thiện. Và như thế, con
người chỉ cần hiểu biết đạo đức thì đủ để trở thành người có đạo đức. Socrates
đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của những định kiến duy lý, đã đồng nhất giữa lý
luận và thực tiễn khi xem xét vấn đề đạo đức. Triết học thời kỳ Hy Lạp sau
Socrates cũng có nhiều nhà triết học bàn về vấn đề đạo đức. Plato nghĩ rằng
đạo đức chính là hạnh phúc và công bằng. Trong tác phẩm “Cộng hòa”, Plato
nói rằng: đạo đức là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hạnh phúc. Arittotle tin
rằng, tri thức đạo đức là những tri thức tổng quát. Người có đạo đức không
những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con
người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá
khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền
thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của
các quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ
chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Lợi ích của
giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có. Trái lại,
giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy
mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình.
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Đồng thời, đạo đức cũng
có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau, nhưng
xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng
chung. Tính kế thừa của đạo đức phản ánh “những luật lệ đơn giản và cơ bản
của bất kì cộng đồng người nào”. Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến
13
những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều
lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội... và biểu dương cái
thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn... Ph.Ănghen từng nói
rằng, không ai nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo
đức cũng như về tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại. Quan hệ giữa
người với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn. Ngay trong xã hội
nguyên thuỷ đã có những hình thức đơn giản của sự tương trợ và không còn
tục ăn thịt người. Với sự xuất hiện của liên minh bộ lạc và nhà nước, tục báo
thù của thị tộc dần dần mất đi. Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ là việc riêng
của chủ nô, đến xã hội phong kiến, việc giết nông nô bị lên án. Đạo đức
phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc; đạo đức
tư sản giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách. Nhưng chúng ta vẫn chưa
góc độ cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, là một
hình thái của giá trị tinh thần, có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau với các
giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ, giá trị chính trị… Về bản chất, giá trị đạo
đức mang tính xã hội. Trong đời sống đạo đức từ cổ đại cho đến cận đại hay
hiện đại, dù ở phương Đông hay phương Tây thì vẫn có thể tìm thấy sự tương
đồng của những giá trị đạo đức cơ bản, như yêu lao động, trung thực, nhân
ái… Lợi ích xã hội là tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức, và vì
vậy, chỉ khi nào những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi
con người phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ thì mới
có giá trị. Giá trị đạo đức nằm trong hoặc luôn gắn với những phẩm chất,
chuẩn mực cụ thể. Theo Phạm Văn Nhuận, “các giá trị của đạo đức được biểu
hiện tập trung trong hệ thống phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cơ bản dùng để
điều chỉnh thái độ, hành vi của con người mang ý nghĩa xã hội của nó”. [60]
Chúng ta không thể nói đến giá trị đạo đức mà lại tách rời các quan niệm,
chuẩn mực, phẩm chất đạo đức, không thể nhận thức giá trị đạo đức mà
15
không dựa trên cơ sở những quan niệm, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cụ
thể.
1.1.2. Vai trò của đạo đức
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con
người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm
bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển. Sống trong xã hội, người ta ai
cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách
thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng đồng,
từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa hiện nay. Kinh tế thị trường đã từng bước hình thành và phát triển,
đạo đức tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bên cạnh
ái, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau, loại bỏ những thói hư tật xấu, sự vô lễ trong
cách ăn nói, có sự lịch thiệp trong cách giao tiếp và đạo đức phải làm nhiệm
vụ ấy.
Thứ ba, đạo đức góp phần làm giàu tính người trong các quan hệ xã
hội. Trong các mối quan hệ xã hội phức tạp, sự phát triển của đời sống xã hội,
khi mà đồng tiền điều khiển đời sống của con người, tình cảm con người
giành cho nhau ngày càng mờ nhạt, mọi thứ đều được đem ra cân, đo, đong
đếm ngay cả đến tình cảm thì cần phải làm sao tình cảm được đặt lên trên tất
cả. Chúng ta biết có rất nhiều chương trình từ thiện diễn ra, có rất nhiều nhà
hảo tâm sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn của bản thân để hỗ trợ cho các em học
sinh có hoàn cảnh khó khăn, gần đây nhất là chương trình “Điều ước thứ 7”
trên VTV3 - đài truyền hình Việt Nam cũng là nơi chắp cánh cho bao ước mơ,
gieo niềm tin vào cuộc sống cho con người nhiều hơn nữa, nhà báo Lại Văn
Sâm đã từng nói khi chương trình này được phát sóng:
17
“Chúng tôi chỉ muốn khơi lại sự nhân văn trong mỗi con người trong
một xã hội mà có vẻ như đồng tiền đang ngự trị ở mọi ngóc ngách. Tuy
nhiên, chúng tôi không kêu gọi lòng thương của ai, không xin ai, không
cho ai, chỉ đánh động lòng nhân ái trong mỗi con người”. [63]
Nếu không có lòng yêu thương thật sự thì không thể có được những
điều ý nghĩa như vậy.
Thứ tư, đạo đức giúp con người sống có trách nhiệm hơn với bản thân,
gia đình và xã hội. Đã là con người ai cũng mong muốn mình có một cuộc
sống tốt đẹp, ai cũng muốn góp phần nhỏ bé công sức của mình vào sự phát
triển của gia đình, xã hội. Để mong muốn đó trở thành hiện thực thì họ sẽ có
trách nhiệm đối với chính bản thân mình, phải ra sức học tập, rèn luyện đạo
đức, tạo dựng cho mình một nền tảng kiến thức vững vàng. Khi đã có một nền
tảng tri thức thì sẵn sàng phục vụ, cống hiến cho xã hội. Ở Việt Nam, chúng
trạng “con vua rồi lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”. Tinh thần,
trách nhiệm của mỗi các nhân trong công việc là một yếu tố đạo đức cần thiết
trong xã hội.
Trên đây chưa phải đã phản ánh hết được vai trò của đạo đức đối với
con người và xã hội nhưng đã phần nào làm rõ tầm quan trọng của đạo đức
đối với cuộc sống. Hiện nay, đạo đức luôn được xem như một phạm trù mở
rộng và đạo đức kinh doanh được đề cập và nghiên cứu ngày càng nhiều, là
một phần trong nghiên cứu về triết học đạo đức.
1.1.3. Đạo đức kinh doanh
Từ phạm trù đạo đức vừa được trình bày ở trên, đạo đức kinh doanh chỉ bắt
đầu được nghiên cứu nghiêm túc và phát triển thành một môn khoa học, cả về lý
luận và thực hành vào nửa sau thế kỷ XX ở các nước công nghiệp phát triển
phương Tây.
19
Đạo đức trong kinh doanh là sự vận dụng, thực thi những giá trị, chuẩn
mực, khuôn mẫu, biểu tượng đạo đức của cộng đồng trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Về bản chất, đạo đức kinh doanh là đạo đức nghề nghiệp được thể
hiện trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể, đó là lĩnh vực kinh doanh.
Xét về mặt lịch sử, thuật ngữ “Đạo đức kinh doanh” mới chính thức được
gọi tên khoảng hơn 40 năm trở lại đây. Vào khoảng 1974, một nhà nghiên cứu đạo
đức kinh doanh rất nổi tiếng là Norman Bowie (sinh năm 1942), là giáo sư danh
dự tại Đại học Minnesota đã có những phát ngôn quan trọng trong các cuộc
tranh luận đang diễn ra về đạo đức kinh doanh, “trong các quan điểm của
mình ông đã chứng tỏ mình ủng hộ quan điểm của Kant về đạo đức” [50,
tr.34]. Tuy nhiên, sự hình thành những tư tưởng về đạo đức kinh doanh đã
xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, ở cả phương Đông và
phương Tây. Những tư tưởng về đạo đức kinh doanh đã tồn tại dưới dạng
những điều răn trong các bộ luật của các tôn giáo như: Thiên chúa giáo, Ấn