DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/
kí hiệu
CNTT
CNH – HĐH
DSVHPVT
PCGDMNNT
PCGDTH
QLNN
TNHH
UNESCO
UBND
VHTT&DL
VBQPPL
2
Cụm từ đầy đủ
Công nghệ thông tin
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Di sản văn hóa phi vật thể
Phổ cập giáo dục miền núi nông thôn
Phổ cập giáo dục trung học
Quản lý nhà nước
Trách nhiệm hữu hạn
Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Uỷ ban nhân dân
Văn hóa Thể thao và Du lịch
Văn bản quy phạm pháp luật
phi vật thể như: Hát then, hát lượn, lễ hội Lồng Tồng, lễ Cấp sắc Tào… là món ăn tinh
thần, là truyền thống văn hóa gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày, là hoạt động
văn hóa không thể thiếu của đồng bào dân tộc Tày nơi đây. Những giá trị di sản văn
hóa phi vật thể của dân tộc Tày nếu được bảo tồn và phát huy sẽ góp phần làm đa dạng
và phong phú thêm kho tàng văn hóa của dân tộc.
Thứ hai, tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và giao lưu, hội nhập quốc tế
đã kéo theo sự tiếp biến và du nhập giữa các luồng văn hóa, phần nào làm biến dạng
các giá trị văn hóa phi vật thể vốn có của nó. Sự du nhập các luồng văn hóa mới đã bóp
méo các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng dân tộc Tày nơi đây. Các loại
hình nghệ thuật như: Hát then; hát lượn được thay bằng những bài nhạc trẻ, thế hệ trẻ ít
4
biết đến cây đàn tính và các làn điệu hát then, hát lượn của dân tộc. Lễ hội được tổ
chức bị biến dạng khi phần “lễ” bị cắt bỏ và chỉ còn phần “hội”, lễ hội trở thành nơi
buôn bán tấp nập các loại hàng hóa, là nơi diễn ra trò bói toán, mê tín dị đoan… Thực
trạng tiêu cực trên đang trở thành vấn đề đáng báo động cần thiết phải xem xét, phân
tích và có các giải pháp quản lý, bảo tồn, phát huy hữu hiệu để đưa các di sản văn hóa
phi vật thể của dân tộc Tày trở lại đúng với ý nghĩa và giá trị truyền thống vốn có của
nó.
Thứ ba, bản thân di sản văn hóa phi vật thể nói chung và di sản văn hóa phi vật
thể của đồng bào dân tộc Tày nói riêng chứa đựng giá trị về mặt kinh tế. Thực tế cho
thấy, phát huy và khai thác các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể đem lại lợi ích to
lớn về kinh tế, xã hội. Cụ thể, tỉnh Quảng Ninh đã khai thác được giá trị di sản văn hóa
phi vật thể như: Lễ hội đình Lục Nà của đồng bào Tày; lễ hội Xuống đồng ở Hà Nam;
lễ hội Lồng Tồng ở Thanh Lâm (Ba Chẽ) qua phát triển du lịch văn hóa gắn với du
lịch sinh thái và đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội cho địa phương. Bắc Kạn
cũng là một địa phương giàu tiềm năng văn hóa. Đồng bào dân tộc Tày nơi đây đã
cống hiến nhiều di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có năm di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia như: Lễ Cấp sắc Tào, hát Lượn SLương, nghề dệt thủ công truyền thống,
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể địa phương mình, từ đó đóng góp ý kiến
nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý, bảo tồn và phát huy trong lĩnh vực này.
Với những lý do trên, em chọn đề tài: “Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài khóa
luận với mục đích sẽ tìm ra các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở địa phương được tốt hơn.
2. Tình hình nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn
hóa phi vật thể và văn hóa truyền thống của dân tộc, cho đến nay đã có khá nhiều công
trình nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày như:
- Cuốn sách “Lễ hội nông nghiệp Việt Nam” của tác giả Lê Văn Kỳ
Lễ hội nông nghiệp Việt Nam là cuốn sách viết về lễ hội Lồng Tồng của người
Tày, Nùng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày cụ
thể về địa điểm, thời gian mở lễ hội, cách thức mở lễ hội, những nghi lễ và trò chơi dân
gian được diễn ra trong lễ hội Lồng Tồng. [10, tr.161 – 167]
- Cuốn sách “Lễ hội cầu mùa của các dân tộc Việt Nam” của tác giả Phan Hữu Dật, Lê
Ngọc Thắng, Lê Sĩ giáo và Lâm Bá Nam
Cuốn sách là một cuốn phim thu nhỏ về các lễ hội mang tính chất cầu mùa của
các dân tộc Việt Nam, trong đó có lễ hội Lồng Tồng của đồng bào dân tộc Tày – một lễ
hội truyền thống của dân cư nông nghiệp. Trong cuốn sách, các tác giả đã viết đề cập
6
đến mục đích, ý nghĩa của lễ hội Lồng Tồng, khái quát được kết cấu lễ hội bao gồm
phần “lễ” và phần “hội”, trong đó phần lễ là những nghi lễ mang tính chất tâm linh thể
hiện cái tinh thần còn phần hội thể hiện cái tinh hoa. [4, tr.42 – 50]
- Tác phẩm “Lễ hội dân gian dân tộc Tày” của tác giả Hoàng Văn Páo, Cao Thị Hải
Phần II của cuốn sách nghiên cứu giới thiệu về Lễ cấp sắc của Pụt Tày ở vùng
Ba Bể, Bắc Kạn, được nhà nghiên cứu văn hóa Cao Thị Hải khảo sát qua lễ cấp sắc ở
bản Pyàn, xã Quảng Khê, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Tác giả đã giới thiệu về cách
và dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nói riêng. Tuy nhiên, trong khuôn khổ khóa
luận này, em xin được tìm hiểu về di sản văn hóa phi vật thể dưới góc độ quản lý nhà
nước với mong muốn hiểu thêm về thực tiễn quản lý di sản văn hóa phi vật thể ở địa
phương, chia sẻ những nét đẹp trong các di sản văn hóa phi vật thể người Tày, đồng
thời đóng góp ý kiến góp phần cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở địa phương được tốt hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Khóa luận được nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất các giải pháp quản lý, bảo
tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn trên cơ
sở nghiên cứu thực trạng DSVHPVT và thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể
ở địa phương, đồng thời đúc rút bài học kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể
cho tỉnh Bắc Kạn thông qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể
của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về di sản văn hóa và di sản văn
hóa phi vật thể;
+ Phân tích về thực trạng các di sản văn hóa phi vật thể, thực trạng QLNN, công
tác bảo tồn và phát huy các DSVHPVT của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn để
làm rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản
lý, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN, hiệu quả công tác bảo
tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn;
+ Nghiên cứu kinh nghiệm QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của một số quốc
gia trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu về các hoạt động QLNN đối với
các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, cụ thể như
Kạn, trực tiếp là Sở VHTT&DL, người viết có cơ sở để nghiên cứu và đi sâu vào
nghiên cứu thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở địa
phương và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý về DSVHPVT;
- Phương pháp phỏng vấn: Qua các buổi gặp gỡ, trao đổi với cán bộ quản lý DHPVT
tại Sở VHTT&DL và các cán bộ, công chức của UBND tỉnh Bắc Kạn, người viết đã
9
thu thập được những thông tin, kiến thức về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá
trị DSVHPVT của dân tộc Tày tại tỉnh, tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận;
- Phương pháp phân tích: Dựa trên những thông tin đã thu thập được thông qua phương
pháp quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu tài liệu, người viết sẽ phân tích những điểm
mạnh, điểm yếu, những khó khăn, hạn chế trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy
giá trị DSVHPVT, từ đó đưa ra hướng khắc phục;
- Phương pháp so sánh: Quá trình nghiên cứu thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi
vật của dân tộc Tày tại tỉnh Bắc Kạn, người viết sử dụng phương pháp so sánh với một
số địa phương trong nước và một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới để từ đó đúc rút
kinh nghiệm trong công tác QLNN về di sản văn hóa phi vật thể cho địa phương;
- Phương pháp tổng hợp: Những thông tin cũng như tài liệu thu thập được, người viết
sẽ tiến hành tổng hợp và đánh giá thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của
dân tộc Tày tại địa phương, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục, tháo gỡ khó khăn;
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thống kê các di sản
văn hóa trên địa bàn: Bao nhiêu di sản đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia; bao nhiêu loại hình đã được sưu tầm, khảo sát; bao nhiêu di sản đã bị thất
truyền.
6. Ý nghĩa khóa luận
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về DSVHPVT và quản lý nhà nước đối
với DSVHPVT. Trong đó người viết đã phân tích khái niệm di sản văn hóa phi vật thể
tộc Tày và tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tỉnh
Bắc Kạn.
11
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể là một hợp phần của di sản văn hóa nói chung bên
cạnh di sản văn hóa vật thể. Hai loại hình di sản văn hóa này có mối quan hệ mật thiết
với nhau, tôn vinh nhau tạo nên sự đa dạng của kho tàng văn hóa nhân loại, tuy nhiên
giữa chúng có sự độc lập tương đối:
Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất có thể nhìn
thấy, sờ thấy được và chúng chứa đựng nhũng hồi ức sống động của loài người, là bằng
chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại.
Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, được lưu truyền và biểu hiện bằng
hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác. Trên thực
tế, thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
1.1.1.1. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới
Tại khoản 1, Điều 2, Mục I của Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của
UNESCO (2003): “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình
thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ
tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và
trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.
Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các
cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối
quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hinh thành
trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa
khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và
các hình thức khác”. [11]
Từ các khái niệm đã trình bày ở trên có thể thấy hầu hết các khái niệm đều liệt
kê ra các dạng của di sản văn hóa phi vật thể như nghệ thuật múa, nhạc, ngôn ngữ,
nghề thủ công truyền thống… xác định các giá trị nổi bật của di sản văn hóa phi vật
thể. Đó là giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị học thuật. Những giá trị ấy là cốt lõi
của vấn đề bảo vệ di sản văn hóa.
Việc cụ thể hóa di sản văn hóa phi vật thể là một điều khó khăn bởi những di sản
này không hiện hữu một cách rõ ràng như một ngôi chùa, hay một công trình kiến trúc
mà cần có con người sử dụng, truyền tải thì người khác mới biết đến sự tồn tại của nó.
Nếu những người cuối cùng lưu giữ di sản đó mất đi thì những di sản ấy cũng sẽ biến
13
mất. Vì vậy, con người là trung tâm của di sản văn hóa phi vật thể.
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học
tự nhiên, mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, khái niệm quản lý nhà nước cũng được hiểu theo nhiều
cách khác nhau tùy vào cách tiếp cận của người nghiên cứu.
“Quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà
nước (công quyền) để điều chỉnh các quá trình của xã hội, hành vi của công dân và mọi
tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật
tự xã hội và phát triển xã hội theo đúng mục tiêu đã định”. [7, tr.14]
“QLNN là hoạt động của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp
và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước”. [8, tr.58]
“QLNN là thuật ngữ chỉ sự tác động của chủ thể mang tính quyền lực nhà nước,
bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối
thể là gì, xác định rõ chủ thể, khách thể, mục đích, công cụ và đối tượng quản lý làm cơ
sở kiện toàn bộ máy, phân công chức năng, nhiệm vụ và hoạch định chính sách về
DSVHPVT phù hợp.
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là quá trình tác động có tổ chức và điều
chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa từ trung
ương đến địa phương đối với các di sản văn hóa, các cơ quan này sử dụng các phương
pháp, công cụ quản lý thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa
vật thể và phi vật thể theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.
Từ khái niệm trên, khái niệm QLNN về di sản văn hóa phi vật thể có thể trình
bày như sau:
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là quá trình tác động có tổ chức
và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước về văn hóa từ trung
ương đến địa phương đối với di sản văn hóa phi vật thể, các cơ quan này sử dụng các
phương pháp, công cụ quản lý thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị di
sản văn hóa phi vật thể theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.
Khái niệm QLNN về di sản văn hóa phi vật thể có thể được diễn giải như sau:
- Chủ thể QLNN về di sản văn hóa phi vật thể là Nhà nước với hệ thống cơ quan, tổ
chức, cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện chức năng QLNN về di sản văn hóa
phi vật thể (Chính phủ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND các cấp, Sở
VHTT&DL, phòng văn hóa và cấp cơ sở có công chức Văn hóa – Thông tin...)
- Đối tượng quản lý về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các hoạt động của con người
và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể trong các hoạt động
quản lý, sáng tạo và hưởng thụ.
15
- Khách thể quản lý là trật tự quản lý mà các chủ thể quản lý về di sản văn hóa phi vật
thể tác động lên các đối tượng quản lý bằng các phương pháp và công cụ quản lý nhất
định nhằm thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, là hệ thống các hành vi, hoạt động của con
người gắn với các tổ chức liên quan đến lĩnh vực DSVHPVT.
giá trị và đúng với định hướng, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đặt ra. Vai trò hỗ
trợ của nhà nước đối với các di sản văn hóa là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với di
sản văn hóa phi vật thể là thứ vô hình, rất dễ bị mai một và thậm chí có những giá trị di
sản văn hóa phi vật thể đã mất đi mà chúng ta không hay biết. Nhà nước với vai trò là
“bà đỡ” sẽ thực hiện vai trò hỗ trợ của mình thông qua các hình thức như: Hỗ trợ về
mặt tài chính để tổ chức phục dựng, để bảo tồn và phát huy giá trị các di sản; hỗ trợ
quảng bá các di sản văn hóa phi vật thể; hỗ trợ về mặt pháp lý, hỗ trợ về mặt chuyên
môn nghiệp vụ…
Thứ hai, xuất phát từ vai trò của các di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống
xã hội
Di sản văn hóa phi vật thể có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần
của nhân dân, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cộng đồng dân cư. Di sản văn
hóa phi vật thể còn là nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhân dân, phục vụ cho
lợi ích chung của cộng đồng. Vì vậy, cần có sự quản lý của nhà nước để đảm bảo tất cả
mọi người đều có quyền được hưởng thụ những giá trị của di sản văn hóa phi vật thể
ngang nhau. Đồng thời nhà nước cũng đưa ra các quy định, khuyến khích mỗi người
dân đều phải có trách nhiệm bảo vệ và lưu giữ các giá trị văn hóa đó.
Thứ ba, xuất phát từ thực trạng di sản văn hóa phi vật thể hiện nay
+ Di sản văn hóa phi vật thể tuy là cái vô hình nhưng lại hết sức nhạy cảm khi
nó liên quan trực tiếp đến tín ngưỡng, tôn giáo, dễ bị các phần tử xấu âm mưu lợi dụng
hòng quấy rối an ninh trật tự, làm ảnh hưởng đến an ninh, chính trị của quốc gia đặc
biệt là những vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ nhận thức còn hạn
chế. Do đó, nhà nước cần phải tiến hành quản lý, ngăn chặn những âm mưu lợi dụng di
sản văn hóa phi vật thể để thực hiện âm mưu phá hoại nhà nước đặc biệt là tín ngưỡng
và tôn giáo nhằm mục đích đảm bảo sự ổn định của xã hội.
+ Những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, CNH – HĐH đã khiến cho
nhiều di sản văn hóa phi vật đã bị mai một, biến dạng và dần mất đi giá trị tốt đẹp của
nó. Thực tế hiện nay cho thấy, các lễ hội truyền thống bị thương mại hóa, trở thành nơi
tụ tập bán hàng, nơi diễn ra các tệ nạn xã hội như đá gà bằng tiền, cờ bạc, ô nhiễm môi
chế, loại bỏ đối với những yếu tố tiêu cực, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể.
1.3.1. Yếu tố khách quan
Thứ nhất, quá trình toàn cầu hóa đã làm cho nền kinh tế chuyển biến tích cực,
kéo theo các luồng văn hóa mới tạo điều kiện tốt hơn cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa
và đa dạng hóa nền văn hóa nước nhà. Tuy nhiên, quá trình này có nguy cơ dẫn đến
xung đột với việc bảo tồn bản sắc văn hóa và tiếp biến văn hóa trên phạm vi toàn thế
giới. Trong bối cảnh đó, văn hóa đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể sẽ bị tổn thương
18
hơn cả. Do đó, việc xử lý hợp lý mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, chống lại những yếu tố tiêu cực từ bên
ngoài, đón lấy thời cơ thuận lợi thúc đẩy văn hóa phát triển là một yêu cầu cấp bách đối
với công tác QLNN về di sản văn hóa dân tộc.
Thứ hai, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của viễn
thông, internet tạo nên sự thay đổi lớn trong tiếp cận thông tin trong dân chúng. CNTT
phát triển tạo điều kiện cho tất cả mọi người, mọi tổ chức có sự liên kết với nhau và
liên lạc với xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng CNTT như một phương tiện
quảng bá và quản lý văn hóa hiệu quả. CNTT đã hình thành một phương thức liên kết
mới: Liên kết xã hội qua môi trường mạng. Điều đó đã đặt ra những vấn đề mới cho
công tác QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của nước ta.
Thứ ba, “công nghiệp văn hóa” đang trở thành một xu thế mới trong phát triển
di sản văn hóa. Nhiều quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này như Hoa Kì, Hàn Quốc,... đã
chứng minh minh sức mạnh của “công nghiệp văn hóa” gấp nhiều lần so với công
nghiệp khai thác. Công nghiệp văn hóa sẽ là một ngành công nghiệp có tiềm lực trong
tương lai và trở thành xu thế của các nước trên thế giới.
Thứ tư, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng cao và xu hướng
sử dụng hữu ích thời gian nhàn rỗi đang trở nên phổ biến. Xu hướng này đặt ra yêu cầu
mới trong công tác quy hoạch, kế hoạch và xây dựng các dự án phát triển văn hóa đặc
giá trị di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn và phát huy đồng thời hỗ trợ cho công
tác quản lý. Các văn bản, chính sách được ban hành, đảm bảo tính thống nhất và được
thực hiện một cách đầy đủ, nhất quán thì hiệu quả quản lý nhà nước sẽ được nâng cao.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ, công chức chuyên môn là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:
“Cán bộ là gốc của công việc, gốc có tốt thì ngọn mới tốt”, hiệu quả hoạt động của bộ
máy quản lý phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chuyên môn, tinh thần, thái độ làm việc
và phẩm chất của mỗi cán bộ, công chức.
Thứ năm, tài chính là vấn đề có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà
nước về văn hóa. Hàng năm nhà nước luôn dành một khoản từ ngân sách nhà nước cho
công tác văn hóa. Là một quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển nhưng rất đa dạng
phong phú về di sản văn hóa, ngoài việc trích từ ngân sách cho công tác văn hóa thì
nhà nước cần có cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa về công tác văn hóa trong đó
có di sản văn hóa phi vật thể.
1.4. Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở để các cơ quan
Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ liên quan đến các hoạt động quản lý di sản
văn hóa phi vật thể. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là một nội dung
20
lớn, bao gồm các hoạt động sau:
1.4.1. Ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di
sản văn hóa phi vật thể
Việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể là một trong
những nội dung cơ bản để gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc Việt Nam. Quản lý nhà
nước về DSVHPVT trước hết cần xây dựng, ban hành và tổ chức thực thi các văn bản
quy phạm pháp luật về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể.
Các VBQPPL phải quán triệt quan điểm của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương
5 khóa VIII “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
quyết định đã phần nào khẳng định giá trị của di sản văn hóa, giúp cho người dân tôn
vinh và quan tâm hơn đến các di sản văn hóa, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể;
- Quyết định số 3465/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 13
tháng 10 năm 2015 về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Quyết định đã công bố 17 di sản văn hóa phi vật thể nằm trong Danh mục di sản văn
hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có tới 13 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc
thiểu số (dân tộc Tày có nghi lễ hát then ở tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Thái Nguyên).
- Quyết định số 3247/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 16
tháng 09 năm 2016 về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo Quyết định này, 7 di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục di sản
văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có Tết cá của người Tày ở tỉnh Hà Giang.
- Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 21
tháng 11 năm 2016 về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Quyết định đã công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia bao gồm 17 di
sản văn hóa phi vật thể, trong đó tỉnh Bắc Kạn có 2 di sản văn hóa được công nhận là
di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
1.4.2. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi
vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong
đời sống tinh thần và tâm linh của nhân dân. Do đó việc bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa phi vật thể là điều cần thiết. Để hoạt động này diễn ra hiệu quả cần có sự
chỉ đạo, tổ chức của các cơ quan nhà nước.
Điều 17 Luật Di sản văn hóa hợp nhất năm 2013 quy định:
“Nhà nước bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua các biện
pháp sau đây:
1. Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại di sản văn hóa phi vật thể.
2. Tổ chức truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản
văn hóa phi vật thể.
22
Trên cở sở các VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, chính quyền địa
phương tiến hành các hoạt động quản lý giá trị di sản văn hóa phi vật thể, tổ chức các
hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Tùy vào từng loại hình di sản, điều kiện
23
kinh tế, xã hội địa phương lựa chọn các biện pháp bảo tồn thích hợp. Cơ quan quản lý
nhà nước có thể sáng tạo, học hỏi kinh nghiệm của các địa phương xây dựng mô hình
bảo tồn và phát huy giá trị di sản phù hợp, phát huy được hiệu quả tối ưu.
1.4.3. Tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Để thực hiện tốt công tác quản lý di sản văn hóa phi vật thể, Nhà nước đã hình
thành một hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương được
quy định trong Luật Di sản văn hóa hợp nhất số 10/VBHN-VPQH năm 2013, cụ thể
như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa. Chính phủ quy định cụ thể
trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối
hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về
di sản văn hóa
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý
nhà nước về di sản văn hóa.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước
về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ.
- Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện
việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [11].
Sơ đồ hệ thống quản lý nhà nước về văn hóa – di sản văn hóa phi vật thể
CHÍNH PHỦ
Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch
đúc từ ngàn đời nay. Thực trạng trên đòi hỏi Nhà nước phải vào cuộc huy động, quản lý
và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa phi vật thể.
Trước tiên là về nhân lực, nhân lực hay con người là yếu tố quyết định đến hiệu
quả công tác quản lý cũng như hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Nhân lực ở
đây bao gồm: Các cán bộ, công chức thực hiện chức năng QLNN về di sản văn hóa phi
vật thể; các nghệ nhân, những người đang nắm giữ, sở hữu di sản văn hóa phi vật thể;
nhân dân, những người hưởng thụ văn hóa tinh thần.
Đối với cán bộ, công chức, để hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa có hiệu quả, cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng chính sách nguồn
nhân lực phù hợp trong đó có chính sách thu hút nhân tài, tiếp nhận và có cơ chế ưu đãi
đối với công chức có trình độ chuyên môn cao, sử dụng con người đúng với trình độ
chuyên môn và vị trí công việc, xây dựng cơ chế khen thưởng phù hợp thúc đẩy động
lực làm việc đồng thời cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên
môn của cán bộ công chức, cử cán bộ công chức xang học hỏi kinh nghiệm từ địa
phương và các nước bạn. Có cơ chế sử dụng nhân lực đúng người, đúng việc, giao việc
đồng thời giao quyền tự chủ gắn trách nhiệm công việc.
Đối với nghệ nhân, những người đang nắm giữ và sở hữu di sản văn hóa phi vật
thể, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường các chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, đặc
biệt là các nghệ nhân có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước cần
có các cơ chế chính sách khuyến khích, động viên các nghệ nhân, những người đang
nắm giữ di sản tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
25