BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRƯƠNG VĂN PHÚC
PHÂN TÍCH
DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRƯƠNG VĂN PHÚC
PHÂN TÍCH
DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH:TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60720412
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Xuân Thắng
Thời gian thực hiện: Từ ngày 10/05/2017 đến ngày 10/09/2017
HÀ NỘI 2017
1.1.Danh mục thuốc ...................................................................................... 3
1.1.1.Xây dựng Danh mục thuốc trong Bệnh viện........................................ 3
1.1.2.Vai trò của Hướng dẫn điều trị trong việc xây dựng DMT ................... 5
1.1.3.Một số phương pháp phân tích Danh mục thuốc.......................................... 6
1.2.Thực trạng về Danh mục thuốc ............................................................. 11
1.2.1.Thực trạng phân tích Danh mục thuốc tại các bệnh viện........................... 11
1.2.2.Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện................................................ 14
1.3.Giới thiệu về Trung tâm Y tế huyện Tân Châu..................................... 18
1.3.1.Tổ chức và nhân lực ...................................................................................... 19
1.3.1.1.Mô hình tổ chức .............................................................................. 19
1.3.1.2.Nhân lực .......................................................................................... 20
1.3.2.Hội đồng thuốc và điều trị ............................................................................ 20
1.3.2.1.Tổ chức ............................................................................................ 20
1.3.2.2.Chức năng nhiệm vụ ....................................................................... 21
1.3.2.Hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị.................................................... 21
1.3.3.Khoa Dược ..................................................................................................... 22
1.3.4.Hoạt động khám chữa bệnh .......................................................................... 25
1.4.Tính thiết yếu của đề tài ........................................................................ 27
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 28
2.1.Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 28
2.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu ......................................................... 28
2.3.Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 28
2.3.1.Thiết kế nghiên cứu ....................................................................................... 28
2.3.2.Mẫu nghiên cứu ............................................................................................. 28
2.4.Các biến số nghiên cứu ......................................................................... 28
2.5.Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 32
2.6.Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................ 33
2.6.1.Phân tích cơ cấu và giá trị DMTBV đã sử dụng......................................... 33
Tiếng Việt
Phản ứng có hại của thuốc
BDG
Biệt dược gốc
BHYT
Bảo hiểm y tế
BV
Bệnh viện
CK
Chuyên khoa
DLS
Dược lâm sàng
DMT
Danh mục thuốc
DMTBV
Danh mục thuốc bệnh viện
Mã bệnh quốc tế
SLDM
Số lượng danh mục
SYT
Sở Y tế
Thuốc
NSAIDs
Thuốc giảm đau hạ sốt; kháng
viêm không steroid
TLSL
Tỳ lệ số lượng
VEN
V-Vital drugs; E-Essential
drugs; N-Non-Essential drugs
YHCT
WHO
Thuốc tối cần; thuốc thiết
yếu; thuốc không thiết yếu
20
3
Bảng 1.3
Sơ đồ tổ chức của Khoa dược
24
4
Bảng 1.4
Mô hình bệnh tật của TTYT Tân Châunăm
2016
25
5
Bảng 2.5
Các biến số nghiên cứu
28
6
42
10
Bảng 3.4
Cơ cấu thuốc sử dụng theo biệt dược gốc và
thuốc generic trong DMTBV
43
10
Bảng 3.5
Cơ cấu DMTSD tại Trung tâm năm 2016 theo
đường dùng
44
12
Bảng 3.6
Cơ cấu DMT sử dụng theo quy chế thuốc gây nghiện hướng tâm thần
45
Cơ cấu DMTSD tại Trung tâm theo nhóm
thuốc Tân dược và Chế phẩm YHCT
Bảng 3.11
Cơ cấu nhóm thuốc A theo tác dụng dược lý
50
16
17
18
Bảng 3.12
Cơ cấu nhóm thuốc A theo thành phần
51
Bảng 3.13
Cơ cấu nhóm thuốc A về nguồn gốc, xuất xứ
52
Bảng 3.14
Số lượng các mặt hàng có cơ số nhưng không
có nhu cầu sử dụng
Bảng 3.19
Thống kê số lượng các thuốc thuộc Thông tư
10 được sử dụng trong các gói thầu
55
Bảng 3.20
Thống kê chi phí các thuốc thuộc Thông tư 10
được sử dụng trong các gói thầu
56
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
STT
4
Hình
Tên hình
Trang
1
Hình 3.1
Biểu đồ số lượng thuốctheo nhóm tác dụng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đảng và Nhà nước ta rấ t chú tro ̣ng đế n công tác chăm sóc sức khỏe cho
toàn dân bởi vì con người là nguồ n lực quan tro ̣ng quyế t đinh
̣ cho sự phát
triể n của đấ t nước mô ̣t cách bề n vững.Trong những năm qua, ngành y tế nước
ta đã có nhiề u nỗ lực trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thi ̣ trường
thuố c đã cơ bản đáp ứng đủ thuố c cho nhu cầ u khám chữa bênh
̣ cho nhân dân.
Tình hình cung ứng thuố c, quản lý sử du ̣ng thuố c trong điề u tri ̣ đã đươ ̣c cải
thiện tốt.
Tuy nhiên, trước tác đô ̣ng của cơ chế thị trường và hội nhập thế giới,
viê ̣c sử du ̣ng thuố c không hiêụ quả và bấ t hơ ̣p lý trong bê ̣nh viê ̣n đã và đang là
điề u đáng lo nga ̣i: việc la ̣m du ̣ng biê ̣t dươ ̣c trong điề u trị, la ̣m du ̣ng thuố c, sử
du ̣ng thuố c bấ t hơ ̣p lý, tỷ lê ̣ đơn thuố c ghi không đầ y đủ, rõ ràng nô ̣i dung …
vẫn còn xảy ra ở mô ̣t số các bê ̣nh viên.
̣ Sử du ̣ng thuố c không hơ ̣p lý không chỉ
ảnh hưởng tới công tác chăm sóc sức khỏe, khám chữa bê ̣nh và là nguyên nhân
làm tăng chi phí đáng kể cho người bê ̣nh ta ̣o gánh nă ̣ng cho nề n kinh tế xã hô ̣i,
giảm chấ t lươ ̣ng chăm sóc sức khỏe và uy tín của bê ̣nh viên.
̣
Sử dụng thuốc kém hiệu quả và bất hợp lý đã và đang là vấn đề bất cập
của nhiều quốc gia. Đây cũng là một trong các nguyên nhân chính làm gia
tăng chi phí điều trị,gánh nặng ngân sách quốc gia, tăng tính kháng thuốc và
giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ. Theo một số nghiên cứu, kinh phí mua
thuốc chiếm khoảng 30% - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước, phần
lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động
cung ứng thuốc không hiệu quả.
Chính vì vậy một danh mục thuốc hiệu quả sẽ mang lại lợi ích rất
lớn.Trong lĩnh vực cung ứng, nó giúp cho việc mua sắm dễ dàng hơn, đảm
bảo thuốc có chất lượng, giá cả phù hợp. Trong lĩnh vực kê đơn, khi sử dụng
toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng.
3
- Thuốc lựa chọn phải có sẵn ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng,
cũng như sự ổn định về chất lượng trong điều kiện bảo quản và sử dụng nhất
định.
- Khi có hai hay nhiều hơn hai thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí
trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu
quả điều trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng.
- Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần so sánh tổng chi phí cho toàn bộ
quá trình điều trị chứ không phải chỉ tính chi phí theo đơn vị của từng thuốc.
Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi chọn cần phải tiến hành
phân tích hiệu quả - chi phí [1].
- Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất. Những thuốc ở
dạng đa thành phần phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt
chất đáp ứng nhu cầu điều trị của nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt
trội về hiệu quả, độ an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất.
- Thuốc ghi tên Generic hoặc tên chung quốc tế, tránh đề cập đến tên biệt
dược hoặc nhà sản xuất cụ thể.
❖ Các bước cụ thể xây dựng DMTBV[4][28].
- Bước 1: Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số
lượng và giá trị sử dụng trong đó có áp dụng phân tích ABC – VEN để phát
các vấn đề về sử dụng thuốc.
Phân tích ABC là công cụ để phân loại các thuốc vào các nhóm có giá
trị từ cao đến thấp để từ đó biết được thuốc chiếm phần lớn chi phí. Nhưng
nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là không cung cấp được thông tin
để so sánh hiệu quả điều trị của các thuốc khác nhau[30]. Để khắc phục
nhược điểm này tiến hành kết hợp phân tích ABC DMT với phương pháp
ngay từ ban đầu, tuy nhiên đây là một công việc khó khăn và tốn nhiều thời
gian, thích hợp với nhiều Bệnh viện lớn. Thay vào đó, HĐT&ĐT có thể ứng
dụng các HDĐT sẵn có của quốc gia hoặc HDĐT của các tổ chức khác điều
chỉnh cho phù hợp với Bệnh viện, hoặc đơn giản là sử dụng HDĐT của tổ
chức khác. Do đó việc áp dụng HDĐT nào phụ thuộc vào từng Bệnh viện và
phải phù hợp với nhu cầu điều trị của Bệnh viện đó. HDĐT có vai trò rất quan
trọng trong xây dựng và sử dụng DMT hợp lý, đảm bảo hiệu quả điều trị.
5
Tuy nhiên, việc có một DMT lý tưởng thì vấn đề sử dụng DMT không
hợp lý vẫn có thể xảy ra. HDĐT chuẩn là một bằng chứng và chiến lược hiệu
quả giúp kê đơn thuốc phù hợp với tình trạng lâm sàng.
Tại Việt Nam việc xây dựng DMTBV chủ yếu dựa vào DMT đã sử
dụng năm trước, DMT chủ yếu của Bộ Y tế và kinh nghiệm của bác sĩ chưa
có những đánh giá cụ thể, chưa chú trọng đến xây dựng phác đồ điều trị và
HDĐT nên còn thiếu căn cứ khoa học. Kết quả là, với số lượng hoạt chất quá
đa dạng với nhiều biệt dược được sử dụng gây khó khăn cho việc lựa chọn
đúng thuốc đảm bảo chi phí – hiệu quả [3][21].
1.1.3. Một số phương pháp phân tích Danh mục thuốc
Theo WHO, các phương pháp chính để làm rõ các vấn đề sử dụng
thuốc tại Bệnh viện đó là [29]:
-
Thu thập thông tin ở mức độ cá thể: Những dữ liệu thu được từ đối
tượng được sử dụng thuốc, tìm kiếm các vấn đề liên quan, tuy nhiên nhược
điểm của phương pháp này là thường không có đủ thông tin để điều chỉnh sử
dụng thuốc phù hợp với chẩn đoán.
- Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc
- Bước 2: Điền thông tin vào mỗi sản phẩm thuốc: Đơn giá, số lượng.
- Bước 3: Tính tổng tiền cho mỗi sản phẩm.
- Bước 4: Tính phần trăm giá trị của mỗi sản phẩm
- Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm các sản phẩm
giảm dần.
- Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản
phẩm, bắt đầu từ sản phẩm thứ nhất, sau đó cộng với sản phẩm tiếp
theo trong danh sách.
- Bước 7: Phân hạng như sau:
• Thuốc hạng A chiếm 75-80% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng
10-20% tổng số sản phẩm thuốc.
• Thuốc hạng B (với tỷ lệ sử dụng trung bình), chiếm 15 - 20% tổng giá
trị tiền tương ứng với khoảng 10 – 20% tổng số sản phẩm thuốc.
• Thuốc hạng C (gồm đại đa số các thuốc có cách sử dụng riêng lẻ ở mức
thấp), chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 60 – 80% tổng
sản phẩm thuốc.
❖ Vai trò, ý nghĩa của phân tích ABC
-
Việc sử dụng tập trung vào một số sản phẩm có tổng số khoản mục
thấp nhưng chiếm chi phí cao (nhóm A). Do vậy, nên tìm kiếm giải pháp thay
thế các thuốc đó bởi thuốc đạt hiệu quả tương đương trong Danh mục thuốc
7
sẵn có hoặc thuốc có mặt trên thị trường với mục đích: Lựa chọn những thuốc
có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra các liệu pháp điều trị thay thế, đàm phán
8
còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành không tương xứng với lợi
ích lâm sàng của thuốc.
❖ Các bước thực hiện phân tích VEN theo Bộ Y tế[4] [29].
- Bước 1: Từng thành viên hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại
V, E, N.
- Bước 2: Tập hợp và thống nhất kết quả hội đồng.
- Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp.
- Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại
bỏ những thuốc không có nhu cầu điều trị.
- Bước 5: Xem xét lại số lượng mua dự kiến, mua thuốc nhóm V, E trước
nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn.
- Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt
chẽ hơn nhóm N.
❖ Tiêu chí phân loại V, E, N
Theo WHO việc phân loại các thuốc vào nhóm “N” khá dễ dàng,
nhưng khó để phân loại nhóm “V” và “E”.Đôi khi có thể phân loại thành
thuốc thiết yếu và không thiết yếu.Trong đó thuốc thiết yếu là thuốc đảm
bảo đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của đa số bệnh nhân.
Ý nghĩa của phân tích VEN[4][29].
Phân tích VEN là một phương pháp đặc biệt giúp cho nhà quản lý Bệnh
viện đưa ra ưu tiên mua sắm và dự trữ thuốc.
Kết quả phân tích VEN giúp xác định những chính sách ưu tiên cho
việc lựa chọn mua, mua sắm, sử dụng thuốc, quản lý hàng tồn kho và xác định
sử dụng thuốc với giá cả phù hợp.
Về lựa chọn thuốc: Thuốc V, E nên ưu tiên lựa chọn đặc biệt khi ngân
sách hạn hẹp.
AV
BV
CV
E
AE
BE
CE
N
AN
BN
CN
Phân loại thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: AV, BV, CV, AE, AN
- Nhóm II: BE, CE, BN
- Nhóm III: CN
Các nhóm được yêu cầu giám sát với mức độ khác nhau, nhóm I giám
sát với mức độ cao hơn, thuốc nhóm II mức độ giám sát thấp hơn. Đặc biệt
đối với thuốc không thiết yếu nhưng có chi phí cao (AN) thì cần hạn chế hoặc
xóa bỏ khỏi DMT.
mua, cấp phát và sử dụng thuốc hợp lý giúp cho Bệnh viện tiết kiệm được
một khoản chi phí đáng kể và được áp dụng phổ biến trên thế giới. Phương
pháp phân tích này đã được áp dụng tại châu Phi, châu Mỹ la tinh, Ấn Độ và
nhiều nước khác [27].
Một nghiên cứu tại Ấn Độ sử dụng phân tích ABC để phân tích một
DMTBV nhằm xác định các nhóm cần kiểm soát nghiêm ngặt trong số 421
thuốc trong danh mục. Kết quả thu được các thuốc theo nhóm A, B, C chiếm
13,8%; 21,9%; 64,4% về số khoản mục và 70%; 20%; 10% về giá trị trong
toàn bộ ngân sách thuốc từ đó chỉ ra các thuốc cần kiểm soát, hoặc thay
thế[27].
Tại Pháp phân tích ABC được thực hiện qua nhiều giai đoạn, đầu tiên
là các thuốc đắt tiền (60-80% ngân sách) để thực hiện tốt hợp đồng mua bán.
11
Sau đó đến các thuốc đặc biệt (15% ngân sách) là các thuốc chỉ có mặt tại
Bệnh viện được HĐT&ĐT lựa chọn, khó thay đổi về giá. Đối với các thuốc
Generic được mua theo hình thức đấu thầu cạnh tranh [27].
Tại Indonesia năm 2012 sử dụng phân tích ABC đối với các thuốc được
mua năm 2010 cho thấy chi phí cho thuốc mê cao nhất và đã đưa ra được đề
xuất, và lựa chọn thuốc gây mê đảm bảo hiệu quả nhưng tiết kiệm chi phí.
Như vậy, mô hình của các nước sau khi đã xác định được thuốc nhóm
A là nhóm có chi phí cao, khi đó sẽ cân nhắc lựa chọn thuốc thuốc thay thế
bằng các thuốc rẻ hơn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, hiệu quả điều trị. Xác
định tần suất mua thuốc sao cho đảm bảo đủ thuốc nhưng lượng tồn kho
không quá lớn làm giảm chi phí tồn kho.
❖
Tại Việt Nam
Đối với các Bệnh viện đa khoa đây là một vấn đề rất khó khăn, vì với cùng một
thuốc nhưng đối với các chuyên khoa khác nhau thì mức độ cấp thiết là khác
nhau.
Một nghiên cứu tại Ấn Độ (2003) đã thực hiện phân tích VEN như sau:
Gửi DMT tiêu thụ tới một nhóm 10 người gồm dược sĩ, bác sĩ phẫu thuật,
bác sĩ nhi khoa, bác sĩ phụ khoa, bác sĩ gây mê, nhà bệnh học và 4 cán bộ y tế
khác các chuyên gia sẽ được phỏng vấn để phân loại trong Danh mục thuốc
tối ưu, thuốc thiết yếu, và thuốc không thiết yếu. Thuốc sẽ được phân loại vào
nhóm VEN nếu có trên 50% thành viên đồng thuận[29].
❖ Tại Việt Nam
Đến năm 2004, tất cả các Bệnh viện đều đã xây dựng DMT sử dụng
trong Bệnh viện và đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh chủ yếu[10]. Việc áp dụng
ABC/VEN tại các Bệnh viện còn nhiều hạn chế. Theo khảo sát của Tác giả
Vũ Thị Thu Hương (2012) tại các Bệnh viện đa khoa các tuyến hầu hết
HĐT&ĐT chưa hiểu hoặc chưa biết sử dụng phương pháp ABC/VEN[14].
Việc áp dụng phân tích VEN mới được nghiên cứu gần đây.
Phân tích ABC/VEN tác giả Hoàng Minh Hiền (2012) thu được kết quả
phân nhóm AV trong 3 năm chiếm tỉ trọng lần lượt từ 4,7 %; 4%; 3,2 %, phân
nhóm AE chiếm tỉ trọng 89,4%; 90%; 92,5%, Nhóm AN chiếm tỉ trọng
13
5,9%; 6%; 4,3%. Trên cơ sở đó tác giả đã khuyến cáo HĐT&ĐT can thiệp các
vấn đề sử dụng thuốc như giám sát kê đơn, giảm ngân sách các thuốc nhóm
N[13].
Kết quả phân tích ABC/VEN tại Bệnh viện đa khoa Quảng Nam năm
2013 của Nguyễn Văn Ngọc cho thấy kinh phí chủ yếu tập trung ở nhóm AV
chiếm 78,5%, nhóm AN chiếm 1,4%[18].
Từ 2 kết quả trên cho thấy rằng tỉ lệ nhóm AV, AE của 2 Bệnh viện đa
gần 6 nghìn tỉ đồng chiếm 31%[16]. Con số này phản ánh thực trạng chi phí
cho việc dùng thuốc kháng sinh trong điều trị là một gánh nặng kinh tế đối
với ngân sách quốc gia dành cho y tế. Nhóm kháng sinh là nhóm sử dụng
nhiều nhất trong phân tích sử dụng thuốc tại 38 Bệnh viện trong một nghiên
cứu khác trong cả nước năm 2009 trong đó Bệnh viện Trung ương 25,7%;
tuyến tỉnh 32%; tuyến huyện 43,1% về giá trị[16].
Bệnh viện Trung ương Huế năm 2012 chi phí sử dụng nhóm kháng sinh
cũng chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm 34,84% giá trị[26].Theo một nghiên cứu về
thực trạng thanh toán thuốc BHYT tổng cả năm 2010, trong số 30 hoạt chất
có giá trị thanh toán tiền nhiều nhất chiếm 43,7 % tiền thuốc BHYT có đến 10
hoạt chất thuộc nhóm kháng sinh, chiếm tỉ lệ cao nhất (21,92% tiền thuốc
BHYT)[24].
Các nghiên cứu trên cho thấy thuốc kháng sinh chiếm tỉ trọng lớn trong
tổng tiền thuốc sử dụng tại Bệnh viện, kết quả này cho thấy MHBT tại Việt
Nam có tỉ lệ nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng
kháng sinh vẫn còn phổ biến.
❖ Tình hình sử dụng vitamin và thuốc bổ trợ :
Vitamin là hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng cao.
Kết quả phân tích tại 38 bệnh viện trong cả nước năm 2009 cho thấy vitamin
là một trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại tất cả các tuyến BV
[13]. Bên cạnh đó, nhóm thuốc này cũng được sử dụng nhiều tại BV Hữu
Nghị từ năm 2008-2010 và tại BV E năm 2009. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh
Thanh Hóa năm 2014 giá trịsử dụng vitamin và khoáng chất là 2,7 tỷ chiếm
2,7%.
Nhóm thuốc có tác dụng bổ trợ, hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng
đang được sử dụng phổ biến trong cả nước. Kết quả khảo sát về thực trạng
15
trung ương là tuyến cuối điều trị các bệnh nặng đã được chuyển tuyến nên
16
yêu cầu về thuốc điều trị là những thuốc có tác dụng mạnh nên sử dụng
thuốc có nguồn gốc nhập khẩu cao hơn.
Nghiên cứu về cơ cấu sử dụng thuốc sản xuất trong nước của Bệnh viện
Hữu Nghị giai đoạn 2008 đến 2010 thuốc nội chiếm tỷ lệ từ 20,35% đến
22,37% giá trị tiêu thụ trong tổng giá trị kinh phí mua thuốc. Khối lượng tiêu
thụ thuốc nội chiếm tỷ lệ 82,97% đến 87,3% trong tổng khối lượng tiêu thụ
tại Bệnh viện, do thuốc nội có giá trị thấp. Trong đó nhóm A, thuốc ngoại
chiếm tỷ lệ 79,6%; 79,93%: 82,92% tổng giá trị tiêu thụ, tuy nhiên thuốc nội
lại chiếm 80,6%; 73,57%; 77,40% tổng khối lượng tiêu thụ[13].
❖ Về sử dụng thuốc Biệt dược gốc, thuốc Generic
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc Biệt dược gốc - Generic của tác giả Vũ
Thu Hương tại 36 Bệnh viện trong cả nước cho thấy không có sự khác biệt cả về
tỷ lệ số lượng và giá trị sử dụng các thuốc này giữa các tuyến BV[14].
Tuyến TW thuốc Generic chiếm 32,6 - 35,1% SKM; 21,1- 31,2% giá
trị, tại các Bệnh viện tuyến tỉnh, chiếm 22,4 - 46% SKM, 12,1- 38,1% giá trị,
Bệnh viện tuyến huyện 35,5 - 47,8% SKM, 17,8 - 21,8% giá trị. Như vậy,
bệnh viện tuyến huyện sử dụng kháng sinh với số SKM thuốc cao nhất nhưng
chiếm giá trị thấp nhất, BV tuyến TW chiếm tỉ lệ cao về SKM và giá trị.
Các thuốc Generic tập trung vào các nhóm kháng sinh, vitamin dạng
đơn chất, dịch truyền được sản xuất trong nước hoặc liên doanh sản xuất
trong nước và một số thuốc Generic nhập khẩu thuộc nhóm thuốc điều trị ung
thư, kháng sinh, tim mạch.
Tại Bệnh viện Hữu Nghị giai đoạn năm 2008-2010, trong nhóm A
thuốc Biệt dược gốc chiếm tỷ lệ 40%; 38,33%; 41,79% tổng giá trị tiêu thụ;
khối lượng tiêu thụ chiếm 6,66%; 7,1%; 7,34%. Nhóm Generic có khối lượng